Bảo tồn và phát huy

TRANG CHỦ VỀ VĂN HÓA    SỬ KƯ ĐỊA DƯ ĐỊA DANH LỊCH SỬ
 SẮC DÂN VIỆT XĂ HỘI  VIỄT GIA Đ̀NH VIỆT VĂN HỌC MỸ THUẬT
PHONG TỤC VIỆT TÍN NGƯỠNG VIỆT GIÁO DỤC&DẠY CHỮ CÁC NGHỀ NGHIỆP CÁC LỄ HỘI
Y &TRANG PHỤC ẨM THỰC VIỆT Y & DƯỢC VIỆT VƠ & DƯƠNG SINH DU LỊCH
THUYẾT PHONGTHỦY LỊCH & TƯỚNG SỐ NIỀM TỰ HÀO NỖI LO ÂU VĂN NGHỆ
 

      

                               

                

   Trương Vĩnh Kư

 Nhà Giáo Dục Yêu Nước Của Việt Nam.

                                   Tác giả : Nguyễn Quang Duy

  

Trương Vĩnh Kư, người tạo nền móng cho giáo dục và cải cách ngôn ngữ Việt Nam vào thế kỷ 19, là nhà bác học nhiều năm qua vẫn chưa được hậu sinh hiểu một cách tận tường.

Bài viết này muốn nhắc lại nỗ lực giáo dục và cải cách ngôn ngữ tiếng Việt của ông nhân kỷ niệm 181 năm, ngày sinh của ông, vào ngày 6/12/1837 tại ấp Cái Mơn, tỉnh Vĩnh Long.

 

Sau 30/4/1975, khi ngôi trường trung học Petrus Trương vĩnh Kư bị đổi tên và bức tượng bán thân giữa sân trường bị dời đi, học sinh chúng tôi thường tranh luận về “công và tội” của Petrus Kư khi mượn tay người Pháp giúp nền văn học nước nhà.

Chúng tôi thường kết thúc bằng ngạn ngữ được Pétrus Kư dùng nhiều lần khi viết thư “Sic vos non vobis”.

Hồi ấy chúng tôi hiểu câu ngạn ngữ trên là “Ở với họ mà không theo họ”, vừa tránh dẫn đến chuyện bị quy kết “phản động”, vừa tỏ bày tâm sự “Ở với cộng sản mà không theo cộng sản”.

Gần đây tôi mới biết câu ngạn ngữ tiếng La Tinh “Sic vos non vobis” có 2 nghĩa và dịch như trên là hoàn toàn sai ư Pétrus Kư.

Winston Phan Đào Nguyên phổ biến trên trang Nghiên Cứu Lịch Sử bài “Minh oan cho Pétrus Trương Vĩnh Kư về câu ‘ở với họ mà không theo họ’ ”, theo tác giả th́ Pétrus Kư dùng một nghĩa khác của ngạn ngữ là “Làm điều lợi cho người khác chứ không cho chính ḿnh.

Tác giả đă tŕnh bày rất rơ và rất thuyết phục triết lư sống của Pétrus Kư là mỗi người phải làm tṛn vai tṛ hay số phần trong đời để làm cho xă hội của ḿnh tốt đẹp hơn.

Cuộc đời của Pétrus Kư đă chứng minh triết lư sống này đặc biệt là sự cống hiến ông dành cho chữ Quốc ngữ và nền Quốc văn hiện tại.

Hoàn cảnh xă hội…

Pétrus Kư sinh ra cuối triều vua Minh Mạng, khi ấy nhà vua dầu muốn nhưng thất bại trong việc canh tân đất nước, triều thần chỉ toàn những nhà Nho biết làm thơ phú chứ không có ai có khả năng trong các lĩnh vực khoa học kỹ thuật.

Vua Minh Mạng lại thường hành xử thiếu công minh, nhất là đối với kẻ công thần, nhiều người giỏi đâm ra chán nản, trái lại phe gian nịnh nẩy nở mỗi ngày một nhiều, quan tham mỗi ngày một tăng.

Các vua nhà Nguyễn c̣n ra lệnh bế môn tỏa cảng không giao thương với nước ngoài, cấm đạo Công giáo, dân t́nh đói khổ, loạn lạc khắp nơi, để cuối cùng đất nước lọt vào tay Pháp cả trăm năm.

Petrus Kư là người công giáo, Pétrus là tên Thánh, theo học trường ḍng ở Mă Lai về nước đúng lúc thực dân Pháp đem quân sang xâm chiếm nước ta.

Pháp tấn công Đà Nẵng ngày 1/9/1858 không thành nên chuyển sang tấn công 3 tỉnh miền Đông Nam Phần. Ngày 18/2/1859 Pháp chiếm thành Gia định.

Việc cấm đạo Công giáo trở nên gay gắt hơn. Petrus Kư phải trốn lên Sài G̣n và được Giám mục Dominique Lefèbre giới thiệu làm thông ngôn cho Pháp, nên từ đó bị kết tội là tay sai cho giặc.

Pétrus Kư, nỗi oan thế kỷ …

Sau 30/4/1975, nhà cầm quyền Hà Nội vẫn giữ độc quyền đánh giá “công và tội” của Petrus Kư.

Năm 1993, ông Nguyễn Văn Trấn, một đảng viên Cộng sản từ hồi 1930, được Ban Khoa học xă hội thành ủy Tp HCM cho phép phát hành quyển “Trương Vĩnh Kư, Con Người Và Sự Thật” nhưng sách đă bị tịch thu sau khi in mà không biết lư do.

Đầu tháng 1/2017, cuốn "Petrus Kư, nỗi oan thế kỷ" do nhà nghiên cứu Nguyễn Đ́nh Đầu soạn đă được Cục Xuất bản cho phép lưu hành, nhưng chỉ ít ngày trước khi phát hành th́ một "lệnh miệng" được ban xuống yêu cầu hủy bỏ buổi ra mắt sách.

Ông Nguyễn Đ́nh Đầu cho trang BBC tiếng Việt biết ông đă phát hiện một tư liệu nói về sự hợp tác của ông Trương Vĩnh Kư với người Pháp từ đầu đă không có suông sẻ như người ta vẫn tưởng:

     "Trong những lời đối đáp khi chính quyền Pháp yêu cầu Trương Vĩnh Kư làm thông ngôn, có những văn thơ chứng tỏ là Trương Vĩnh Kư rất bất măn trong chuyện người Pháp cư xử với người Việt Nam, cho nên ông không muốn hợp tác.".

Bức thư giả kư tên Petrus Key…

C̣n ở hải ngoại từ năm 1996, nhà nghiên cứu sử Vũ Ngự Chiêu cho phổ biến nhiều bài viết về một lá thư ông Chiêu cho là do chính Petrus Kư viết, bằng tiếng Pháp, với chữ kư là Petrus Key.

Trong lá thư Petrus Key cầu khẩn quân Pháp đến giải cứu cho những người An Nam theo đạo Thiên Chúa ở Nam Kỳ.

Mặc dù kết tội Petrus Kư nhưng ông Chiêu chưa bao giờ cho công bố lá thư gốc bằng tiếng Pháp nên không thuyết phục được nhiều người.

Nhưng nhiều nhà nghiên cứu sử trong nước lại dựa vào các bài viết không chứng cớ của ông Vũ Ngự Chiêu để tiếp tục kết tội Petrus Kư là tay sai cho Pháp.

Cũng trên trang Nghiên Cứu Lịch Sử, Winston Phan Đào Nguyên cho phổ biến một công tŕnh nghiên cứu sử với tựa đề “Petrus Key và Petrus Kư - Chuyện một lá thư mạo danh Trương Vĩnh Kư vào thế kỷ 19”, gồm 3 bài viết.

 

Trong bài thứ nhất ông Nguyên cho biết đă t́m thấy lá thư kư tên Petrus Key, mà ông Vũ Ngự Chiêu bấy lâu nay giữ kín, tại Văn Khố Service Historique De La Defense ở Chateau Vincennes, Paris, Pháp.

Ông Nguyên so sánh văn phong, nội dung, h́nh thức, chữ viết, chữ kư… để kết luận rằng đây không phải là bức thư của Pétrus Trương Vĩnh Kư và đă có người mạo danh Petrus Kư viết lá thư này.

 

Trong bài thứ hai ông Nguyên cho biết kiếm thấy một lá do chính tay Petrus Trương Vĩnh Kư viết cho các bạn học ở Penang vào ngày 4/2/1859 bằng tiếng Latin khi Petrus Kư đă vào tới Sài G̣n lánh nạn cấm đạo.

Trong lá thư Petrus Kư đă kể về việc ông trốn quan quân nhà Nguyễn truy lùng và cho biết quan điểm về việc cấm đạo cũng như quan điểm về cuộc xâm lăng của liên quân Pháp và Tây Ban Nha.

Theo Petrus Kư, sự bắt đạo, tuy rất tàn ác, nhưng lại là một điều tất yếu phải xảy ra, cũng như một cơn mưa băo trước một sự yên b́nh, hay nói cách khác, là một thử thách của Chúa.

Nhưng ông hoàn toàn phản đối sự can thiệp bằng vũ lực của Pháp. Với ông, cách dùng vũ khí và bạo lực để can thiệp của quân Pháp là một giải pháp c̣n tệ hơn là bạo lực bắt đạo của vua quan nhà Nguyễn.

 

Ban Biên  Tập

 

Phạm x.Khuyến

TrườngThy

Xuân Bích

 

Nguyễn

Lê Hiếu

 

HươngKiều Loan

 

Dươngvăn Phối

Đặng văn

Minh

 

PhạmLiên Anh

 

 

PhạmKim Liên

 

 

Trần v. Quang

 

Nguyễn A.Tuấn

 

              

Trong bài thứ 3, Winston Phan Đào Nguyên chứng minh chính bà Pauline Jaricot người sáng lập ra Hội Truyền Bá Đức Tin đă mạo danh Pétrus Trương Vĩnh Kư để viết thư lá thư kư tên Petrus Key.

Công tŕnh nghiên cứu của Winston Phan Đào Nguyên bổ sung cho một cách nh́n khác về việc truyền đạo Công giáo vào Việt Nam và cả việc thực dân Pháp xâm chiếm Đông Dương.

Công tŕnh nghiên cứu c̣n cho thấy ngay từ ban đầu Trương vĩnh Kư đă không có ư định theo Pháp nhưng v́ hoàn cảnh không thể tránh được

Chữ Quốc ngữ giữ văn hóa nước nhà

Về việc giữ ǵn tiếng Việt, trong sách giáo khoa sử An Nam bằng tiếng Pháp xuất bản tại Sài G̣n năm 1875 (Cours d’histoire annamite à l’usage des écoles de la Basse-Cochinchine, Impr. du Gouvernement, Saigon, 1875) trang 13, Pétrus Trương Vĩnh Kư đă nhận xét (được dịch) như sau:

“Sĩ Nhiếp đă du nhập toàn bộ văn học Trung Hoa, cùng đạo lư Khổng Tử, ép buộc dân An Nam phải tiếp nhận làm văn hóa của ḿnh, và cấm dân An Nam dùng thứ chữ viết phiên âm đặc biệt riêng của người An-nam.

V́ biện pháp nghiệt ngă ấy mà người An-nam đă hoàn toàn mất đi thứ chữ viết riêng của ḿnh”.

Sĩ Nhiếp (137–226) là một người Việt gốc Hán được triều đ́nh Trung Hoa phong Thái Thú cai trị Quận Giao Chỉ.

Sĩ Nhiếp được sử sách chính thống các triều đại Việt Nam đánh giá rất cao v́ đă dạy cho dân ta chữ Hán, văn hóa, phong tục và văn minh Trung Hoa.

 

Vừa là sử gia vừa là nhà ngôn ngữ học Trương Vĩnh Kư đă đánh giá Sỹ Nhiếp là người hủy diệt chữ viết cổ của người Việt, đồng thời áp đặt cách cai trị và văn hóa của người Hán giết chết văn hóa cổ của người Việt Nam.

Điều này cho thấy ông hiểu rất rơ khi phải mượn tay người Pháp phổ biến chữ Quốc ngữ để cạnh tranh và loại bỏ ảnh hưởng tiếng Hán và cả tiếng Pháp, để giữ ǵn văn hóa, phong tục và ngôn ngữ Việt Nam.

Pétrus Kư tổ báo chí Việt ngữ.

Năm 1864, Pétrus Kư được cử là Hiệu trưởng trường Thông ngôn (Collège des Interprètes), và theo lời đề nghị của ông người Pháp cho lập tờ Gia Định báo bằng tiếng Việt.

Để phân biệt với tiếng Pháp, tiếng Hán và tiếng Nôm, Pétrus Kư gọi cách viết tiếng Việt theo kiểu La Tinh là chữ Quốc ngữ c̣n văn học th́ được gọi là Quốc văn.

Gia Định báo phát hành số đầu tiên ngày 15/4/1865 tại Sài G̣n dưới h́nh thức một tờ Công Báo do ông Ernest Potteaux làm chánh tổng tài (chủ nhiệm hay tổng biên tập) và ông Huỳnh Tịnh Của làm chủ bút.

Ngày 16/9/1869, thống đốc Nam Kỳ G. Ohier kư quyết định số 189 giao tờ Gia Định Báo cho ông Trương Vĩnh Kư làm chánh tổng tài và ông Huỳnh Tịnh Của làm chủ bút.

Gia định báo gồm các văn kiện và quyết định của nhà cầm quyền bằng tiếng Pháp do Nha nội vụ cung cấp và được ông Trương Vĩnh Kư dịch ra chữ Quốc ngữ. Và những bài viết tiếng Việt về thời sự, về lịch sử, về luân lư dân gian giúp truyền bá chữ Quốc ngữ.

Trên Gia Định báo và nhiều tài liệu khác ông lấy bút hiệu là Sĩ Tải Trương Vĩnh Kư. Trong số 11 ra ngày 8/4/1870 ông kêu gọi cộng tác viên như sau:

"Lời cùng các thầy thông ngôn, kư lục, giáo tập... đặng hay: Nay việc làm Gia Định Báo tại Sài G̣n ở một chỗ nên không có lẽ mà biết các việc mới lạ các nơi trong sáu tỉnh mà làm cho thiên hạ coi; nên xin các thầy cứ mỗi tuần hay là nửa tháng hăy viết những chuyện ḿnh biết tại chỗ, tại xứ ḿnh ở như: ăn trộm, ăn cướp, bệnh hoạn, tai nạn, rủi ro, hùm tha, sấu bắt, cháy chợ, cháy nhà, mùa màng thể nào, tại sở nghề nào thạnh hơn...".

Cũng như đoạn văn trên, đa số các bài viết tiếng Việt trên Gia Định báo đều bằng văn xuôi, ngắn gọn, đơn giản, dễ đọc, dễ hiểu, viết theo cách nói của người miền Nam, viết một cách đàng hoàng theo lễ giáo Việt Nam.

Ông giữ vai tṛ chánh tổng tài đến năm 1872 th́ giao lại cho ông Ernest Potteaux không rơ v́ lư do ǵ.

Như vậy, Trương Vĩnh Kư chính là chủ nhiệm báo Việt ngữ đầu tiên và theo cách ông hướng dẫn làm báo th́ ai cũng có thể làm báo, không khác ǵ cách làm báo mạng ngày nay.

Năm 1888, Trương Vĩnh Kư cho xuất bản tạp chí Thông Loại Khóa Tŕnh, như vậy ông cũng là chủ báo tư nhân đầu tiên tại Việt Nam.

Thông Loại Khóa Tŕnh là một tạp chí văn học sưu tập nhiều văn thơ, câu đối, câu ḥ, câu hát dân gian, nhằm cổ vũ phong tục cổ truyền, phổ biến văn hóa dân tộc, có cả thơ văn chống Pháp và lịch sử Việt Nam.

Thông Loại Khóa Tŕnh cho thấy tinh thần yêu nước của Petrus kư với nhiều bài viết về các nhân vật lịch sử có tài chống ngoại xâm của Việt Nam, như Nguyễn Trăi, Lư Thường Kiệt, Mạc Đĩnh Chi, Châu Văn Tiếp, Phan Thanh Giản...

Thông Loại Khóa Tŕnh c̣n phổ biến những bài thơ chống Pháp của Bùi Hữu Nghĩa, những bài vè như vè Khâm sai và cả hịch chống Pháp của Nguyễn Tri Phương.

Cộng tác với Thông Loại Khóa Tŕnh có các ông Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Kư, Trần Chánh Chiếu, Lương Khắc Ninh, và nhiều người yêu nước khác.

 

Những người đọc báo biết chữ quốc ngữ khi ấy đều là công chức Pháp hay học sinh trường Pháp nên nhà cầm quyền Pháp t́m cách tẩy chay, báo không bán được.

Thiếu vốn, Thông Loại Khóa Tŕnh chỉ ra được 18 số đến tháng 10/1889 th́ đóng cửa. Trong số báo này Trương Vĩnh Kư cho biết: “Nay v́ bởi không có vốn cho đủ in luôn Thông Loại Khóa Tŕnh nữa nên ta cực chẳng đă, phải đ́nh in”.

Petrus Trương vĩnh Kư ông Tổ báo chí Việt Nam qua đời 1/9/1889 trong nghèo khó và nợ nần.

Tạo nền tảng Quốc văn và giáo dục…

Ngay từ năm 1866 Trương Vĩnh Kư đă cho in ấn phẩm văn xuôi đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ là cuốn Chuyện Đời Xưa.

Từ đó ông không ngừng viết và để lại một di sản văn học với ít nhất 119 tác phẩm cả tiếng Việt lẫn tiếng Pháp.

Các tác phẩm đều là những công tŕnh soạn thảo một cách cẩn thận và khoa học nhưng dễ hiểu, dễ quảng bá, bao trùm mọi thể loại từ ngôn ngữ, tự điển, sách giáo khoa lịch sử, địa lư, pháp luật, dân tộc học, kinh tế, chính trị, sinh học và văn học.

 

Kho tàng văn học này là căn bản định h́nh cho một nền Quốc văn với chủ trương ǵn giữ đạo lư văn hóa dân tộc nhưng học hỏi văn minh Tây Phương để cải cách đất nước, mở mang dân trí giúp nước nhà độc lập và giàu mạnh.

Để truyền bá chữ Quốc ngữ và tư tưởng canh tân, Trương Vĩnh Kư c̣n chọn việc dạy tiếng Việt và đào tạo hằng ngàn thanh niên theo tân học tạo nền tảng cho Phong trào Duy Tân và Đông Du sau này.

Ảnh hưởng triết lư và tư tưởng của Trương Vĩnh Kư đến nền văn hóa và giáo dục Việt Nam Cộng Ḥa là lấy nhân bản, dân tộc và khai phóng làm căn bản.

Petrus Kư  kích động  Nỗ lực 'thoát Hán' của các vua nhà Nguyễn…

Trong chuyến đi sứ sang Pháp cùng Phan Thanh Giản năm 1863, Petrus Kư gặp và làm quen với nhà bác học Paul Bert.

Ông Paul Bert là giáo sư khoa học đại học Bordeaux và Paris, ông tham gia cách Mạng Pháp năm 1870 và trở thành Tổng trưởng Giáo dục và Nghị sĩ Quốc hội Pháp.

Tháng 2/1886, ông được bổ nhiệm Thống sứ triều đ́nh Huế. Ông chủ trương tiến bộ và muốn thực hiện cải cách nên đă đích thân thăm và mời Trương vĩnh Kư ra Huế giúp vua Đồng Khánh.

Nhà vua phong Petrus Kư chức Hàn lâm viện thị giảng học sĩ và dạy cho vua Đồng Khánh tiếng Pháp.

Năm 1887, Petrus Kư có dâng vua Đồng Khánh 24 điều để đối phó với Pháp. Trong đó ông có đề cập việc cải cách giáo dục, bỏ dạy chữ Hán, dạy chữ Quốc ngữ và học hỏi văn minh Tây phương.

Đến cuối thời vua Thành Thái các đề nghị của Petrus Kư mới được nhà vua ban sắc lệnh cho thi hành.

Chính sắc lệnh này đă dẫn tới phong trào Duy Tân, dùng chữ quốc ngữ để thoát Hán được tŕnh bày khá rơ trong bài viết trước “Quốc ngữ và nỗ lực 'thoát Hán' của các vua nhà Nguyễn”.

Nhà giáo dục Trương Vĩnh Kư với triết lư sống chẳng v́ ḿnh nên không cần chúng ta phải “minh oan”.

Quốc ngữ và nỗ lực 'thoát Hán' của các Vua nhà Nguyễn.

T́m hiểu lịch sử là công việc vô cùng thiết yếu v́ có hiểu người xưa, có hiểu được lịch sử mới hiểu được vận mệnh nước nhà mà khôi phục lại.

Trên Diễn đàn BBC nhà báo Nguyễn Giang đưa ra một cách nh́n khá mới lạ để ghi công và đánh giá những nhân vật lịch sử đă đóng góp cho việc truyền bá chữ Quốc ngữ.

"Các vị truyền giáo có công tạo ra bộ mẫu chữ, nhưng việc này không có ǵ quá độc đáo hay quá khó khăn và giả sử nếu không có họ th́ việc đó cũng có thể làm được sau này."

Ư kiến cũng nói rằng Trung Hoa, Thái Lan, Ấn Độ, Ả Rập, Thổ Nhĩ Kỳ và nhiều quốc gia khác đều đă có những văn tự bằng tiếng La Tinh nhưng chưa bao giờ trở thành chữ Quốc ngữ của họ.

Cũng theo nhà báo Nguyễn Giang, Đông Kinh Nghĩa Thục chỉ xóa hàng rào cản tâm lư quá lạc hậu để giới sỹ phu yên tâm dùng chữ Quốc ngữ.

Và rằng chính nỗ lực tiên phong quảng bá Quốc ngữ là của trí thức miền Nam và nhờ chính sách tiến bộ, khoa học của chính quyền Pháp tại Đông Dương tạo đà cho chữ Quốc ngữ lan tỏa.

Nhưng tôi nghĩ cũng lạ tại sao ba nước Việt, Miên và Lào có chung hoàn cảnh, đều là thuộc địa của Pháp mà Miên và Lào lại không sử dụng La Tinh làm chữ Quốc ngữ.

Ở đây cần xem công lao các vị vua cuối cùng của triều Nguyễn, dù họ không thực sự nắm quyền thời Pháp thuộc.

 

Sắc lệnh của Vua Thành Thái

 

Theo sử gia Liam Kelley (2016) vào đầu thế kỷ XX cả người Pháp lẫn những nhà cách mạng đều không đủ quyền lực để chữ Quốc Ngữ có thể lan sâu rộng xuống đến tận cấp độ làng quê.

Qua nghiên cứu những nguồn tài liệu trong giai đoạn này, sử gia Liam kết luận chính nhà Nguyễn mới đi đầu trong công cuộc cải cách giáo dục.

Trong bài "Emperor Thành Thái's Educational Revolution", sử gia Liam Kelley (2016) đă công bố sắc lệnh của vua Thành Thái được lưu trữ trong sách Đại Nam Hội Điển Sử Lệ Tục Biên.

Bài viết được Nguyễn Hồng Phúc lược dịch có đoạn như sau:

"Hoàng đế Thành Thái đă tuyên bố trong một sắc lệnh rằng vào năm trị v́ thứ 18 của ông (năm 1906), cha mẹ có thể quyết định việc cho con theo học một trường ấu học Hán văn hoặc một chương tŕnh giảng dạy Nam âm (Quốc ngữ).

Với những người học theo chương tŕnh Hán văn, sẽ có một cuốn sách giáo khoa được soạn ra nhằm giới thiệu những từ chữ Hán theo cấp độ khó dần. Nó cũng bao gồm một danh mục các Hán tự kèm theo phiên âm và định nghĩa bằng quốc ngữ được dùng trong tài liệu.

…Trong khi, một cuốn sách giáo khoa bằng quốc ngữ khác sẽ được soạn ra để dạy những người theo chương tŕnh học 'Nam âm' nhằm giới thiệu cho họ những thông tin cơ bản về xứ Đông Dương, thiết chế cai trị của nó, những phong tục tập quán...

Thêm vào đó, cũng có thêm một cuốn sách nữa được dịch từ Hán văn sang Nam âm nhằm cung cấp những loại thông tin mà học viên đang luyện thi khoa cử cần biết. Bản dịch này được soạn ra cho những người không muốn thi khoa cử, nhưng nó vẫn được đưa vào chương tŕnh để cho họ biết thêm về những ǵ mà những người đang luyện thi khoa cử phải học…"

Sắc lệnh này vô cùng quan trọng v́ khi nhà vua ra lệnh sử dụng chữ Quốc ngữ là nhà vua đă công khai ư định muốn thấy tầng lớp quan lại và sỹ phu phải thoát khỏi ảnh hưởng Trung Hoa trong giáo dục, văn hóa, và nhất là tư tưởng

 

Vừa thoát Trung vừa chống Pháp

 

Xin nhắc lại về cuộc đời vị vua trẻ tuổi.

Vua Thành Thái lên ngôi năm 1889, đến năm 1907 bị Pháp ép thoái vị. Ngài bị quản thúc ở Vũng Tàu rồi đến năm 1916 bị đày sang đảo Réunion.

Vua là người cầu tiến, học tiếng Pháp, có hiểu biết khá toàn diện, cắt tóc ngắn, mặc âu phục, phong cách của người theo tân học.

Nhà Vua thường xuyên tiếp xúc với sỹ phu và dân chúng, đồng thời trọng dụng nhiều nhân tài, thanh liêm, đức độ với hy vọng khôi phục và canh tân đất nước.

Sắc lệnh cho dạy quốc ngữ chính là văn bản ủng hộ Phong Trào Duy Tân (1906) và Đông Kinh Nghĩa Thục (1907) thúc đẩy việc theo tân học và dùng chữ quốc ngữ.

Cắt tóc ngắn trở thành một dấu hiệu của người theo tân học.

Nhiều thanh niên lúc ấy sắm cho ḿnh một cái kéo, đi tuyên truyền, vận động cắt tóc và vận động canh tân.

Đến khi Vua bị người Pháp ép thoái vị năm 1907 h́nh ảnh một vị vua yêu nước, chống Pháp, cắt tóc ngắn nhanh chóng lan tỏa xuống đến tầng lớp nông dân.

Tháng 3 năm 1908, bắt đầu từ tỉnh Quảng Nam, nông dân đầu cắt tóc ngắn lũ lượt kéo đến các phủ huyện đ̣i giảm sưu giảm thuế.

 

Tất cả đều hớt tóc ngắn đi thành đoàn, phong trào mở rộng vào Nam đến B́nh Định, Phú Yên và ra Bắc đến Nghệ An, Hà Tĩnh.

Pháp và triều Nguyễn gọi cuộc biến động này là Giặc cắt tóc, ở B́nh Định gọi là Giặc đồng bào, sau nầy được đổi lại là cuộc Dân biến Trung kỳ.

Đây là cuộc đấu tranh bất bạo động đầu tiên trong lịch sử Việt Nam và đoàn biểu t́nh lấy biểu tượng là Vua Thành Thái một vị vua yêu nước, theo tân học và chống Pháp.

 

Như vậy ngay từ đầu thế kỷ thứ 20, người Việt đă công khai thực hành phương pháp đấu tranh bất bạo động với biểu tượng vua Thành Thái, có tổ chức, có chiến thuật, có mục tiêu và có chiến lược một cách rất rơ ràng.

Cuộc đấu tranh bất bạo động bị Pháp đàn áp dă man. Nhiều người tổ chức và tham dự bị bắt, phong trào Duy Tân và Đông Kinh Nghĩa Thục bị dập tắt.

 

Các vị Vua tiếp tục cải cách

 

Năm 1907 vua Duy Tân tiếp nối việc cải cách giáo dục bằng cách cho thành lập Bộ Học nhằm cai quản việc học hành và thi cử.

Thượng thư Bộ Học Cao Xuân Dục là một nhà giáo dục cổ vũ thực học, thực tài, bỏ đi kiểu học từ chương, xa rời thực tế và chủ trương phát triển nền giáo dục "không học v́ bằng cấp" mà phải học lấy thực tài để ra giúp dân, giúp nước.

Đáng tiếc ông lại hết sức bài bác chữ Quốc ngữ, nhưng không phải v́ thế mà chữ Quốc ngữ bị đưa ra khỏi nền giáo dục.

Theo Trần Gia Phụng từ năm 1909, chương tŕnh thi Hương bắt buộc thí sinh phải làm các đề thi luận văn bằng cả chữ Hán lẫn chữ Quốc ngữ.

Ngày 26 tháng 11 âm lịch năm Mậu Ngọ (tức ngày 28/12/1918) vua Khải Định ra đạo dụ chính thức băi bỏ khoa cử kiểu Hán học.

Năm 1919 là năm cuối mở khoa thi Hương ở Huế, từ đó chữ Quốc ngữ thành chữ viết chính thức của người Việt Nam

 

Vai tṛ của các ông giáo trường làng theo lệnh cải cách của  các vua

Bên cạnh các trường công do triều đ́nh và người Pháp lập ra là một hệ thống trường tư do các thầy đồ sau chuyển thành thầy giáo làng giảng dạy.

Mỗi làng có khi lên đến vài ba trường, hoặc dạy ở nhà thầy, hoặc ở nhà người giàu có nuôi thầy cho con ăn học và cho con các nhà lân cận trong làng theo học.

Thầy đồ đa số là những người có học, có người đỗ tú tài, có người là quan hồi hưu mở lớp dạy học.

Thầy đồ hoàn toàn tự do không chịu sự giám sát của triều đ́nh.

Mặc dầu được tự do mở lớp giảng dạy giới thầy đồ vẫn giữ ḷng trung với các vua nhà Nguyễn và với sách Thánh hiền.

Các thầy đồ quyết liệt chống lại các chính sách giáo dục của nhà cầm quyền Pháp với quan niệm chữ Quốc ngữ là sản phẩm của ngoại bang và là công cụ của các nhà truyền giáo.

 

Với họ, chữ Hán giáo dục về luân lí, về lịch sử, là chữ Thánh hiền c̣n Quốc ngữ chỉ để đọc báo, đọc Kinh Thánh, những sản phẩm của quân xâm lược, biết đọc chẳng ích lợi ǵ.

Nhưng khi sắc lệnh cho dạy Quốc ngữ của vua Thành Thái được ban ra th́ chính các thầy đồ đă thay đổi đă tự học chữ Quốc ngữ để truyền dạy lại cho học sinh.

Ba lớp Đồng ấu học trước khi học sinh vào tiểu học đều do các thầy giáo trường làng dạy hoàn toàn bằng chữ Quốc ngữ. Nhờ thế chữ Quốc ngữ trở thành phổ thông đại chúng.Từ đó ta thấy được căn bản tiếng Việt, sử địa, luân lư, văn hóa về Việt Nam của học sinh hầu như đều thu nhận được từ các thầy giáo trường làng.

Những bộ sách giáo khoa như Sử kư, địa dư giáo khoa thư, Luân lư giáo khoa thư, Quốc văn giáo khoa thư, được học giả Trần Trọng Kim và các cộng sự biên soạn để dạy lớp ấu học trường làng.

Bộ sách giáo khoa 'Việt Nam Sử lược' được học giả Trần Trọng Kim soạn để dạy các lớp cao hơn và đă hoàn toàn chỉ cho những người đă biết Quốc ngữ.

Lên lớp nh́ và lớp nhất ở trường chính phủ, mỗi tuần chỉ dạy chữ Quốc ngữ một giờ rưỡi và bậc trung học chỉ dạy ba giờ.  Thời gian c̣n lại học sinh được dạy bằng tiếng Pháp và hầu hết do người Pháp dạy.

 

Vua Bảo Đại và Chữ Quốc ngữ

 

Tốt nghiệp trường Khoa học Chính trị Paris về nước, vua Bảo Đại bắt tay ngay vào việc cải cách đất nước, mong từng bước khôi phục lại chủ quyền quốc gia.

Ngày 10/12 năm 1932, vua Bảo Đại cho công bố đạo dụ nước ta theo chế độ Quân chủ Lập hiến, nhà vua sẽ trực tiếp điều khiển nội các và cho cải cách hành chính, giáo dục và tư pháp.

Một nội các mới đă được thành lập gồm những người trẻ theo tân học như Phạm Quỳnh, Ngô Đ́nh Diệm, Nguyễn Đệ…

Bộ Học được đổi tên thành Bộ Giáo dục và giao cho Phạm Quỳnh từng là chủ nhiệm báo Nam Phong một người luôn tha thiết với chữ Quốc ngữ điều hành.

Các cuộc cải cách của vua Bảo Đại đều bị người Pháp cản trở, riêng cải cách về giáo dục nhờ Phạm Quỳnh được người Pháp tin nên ít bị cản trở.

 

Chữ Quốc ngữ được tăng giờ dạy ở các trường công.

 

Nhờ thế sau khi Nhật đảo chánh Pháp, trao trả độc lập cho Việt Nam, chỉ trong ṿng 5 tháng chính phủ Trần Trọng Kim đă thực hiện thành công cuộc cải cách lấy chữ Quốc ngữ làm ngôn ngữ chính trong giáo dục.

Bộ trưởng Giáo dục Hoàng Xuân Hăn có công lao lớn khi soạn cả sách toán và kỹ thuật bằng tiếng Việt Quốc ngữ để dạy ngay trong niên học 1945-46 tại miền Bắc và miền Trung.

Từ 1948 đến 1955, chính phủ Quốc gia Việt Nam tiếp tục lấy tiếng Việt làm ngôn ngữ giảng dạy đến hết bậc trung học.

 

Tài Liệu Tham Khảo

-Liam Kelley (2016), Cải Cách Giáo Dục Của Vua Thành Thái, Nguyễn Hồng Phúc lược dịch.

-Nguyễn Giang, Những người giúp chữ Quốc ngữ 'làm nên', BBC World Service

Trần Gia Phụng, Lịch sử chữ Quốc Ngữ

-Winston Phan Đào Nguyên, 2017, Minh oan cho Pétrus Trương Vĩnh Kư về câu ‘ở với họ mà không theo họ’ , Nghiên Cứu Lịch Sử.;2018, “Petrus Key và Petrus Kư - Chuyện một lá thư mạo danh Trương Vĩnh Kư vào thế kỷ 19”,

-Nguyễn Quang Duy, 2018, Quốc ngữ và nỗ lực 'thoát Hán' của các vua Nguyễn,  Việt.

 

 
 

 

Web Hit Counters