Bảo tồn và phát huy

TRANG CHỦ VỀ VĂN HÓA    SỬ KƯ ĐỊA DƯ ĐỊA DANH LỊCH SỬ
 SẮC DÂN VIỆT XĂ HỘI  VIỄT GIA Đ̀NH VIỆT VĂN HỌC MỸ THUẬT
PHONG TỤC VIỆT TÍN NGƯỠNG VIỆT GIÁO DỤC&DẠY CHỮ CÁC NGHỀ NGHIỆP CÁC LỄ HỘI
Y &TRANG PHỤC ẨM THỰC VIỆT Y & DƯỢC VIỆT VƠ & DƯƠNG SINH DU LỊCH
THUYẾT PHONGTHỦY LỊCH & TƯỚNG SỐ NIỀM TỰ HÀO NỖI LO ÂU VĂN NGHỆ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ban Biên  Tập

 

Phạm x.Khuyến

TrườngThy

 

Xuân Bích

 

Nguyễn

Lê Hiếu

 

HươngKiều Loan

 

Dươngvăn Phối

 

 

Đặng văn

Minh

 

PhạmLiên Anh

 

 

PhạmKim Liên

 

 

Trần v. Quang

 

Nguyễn A.Tuấn

 

 

        

Trang  Chủ:                  

     Câu chuyện Thổ Âm và Giọng Bắc Trung Nam

Khi viết tiếng Việt, th́ người Việt  dù là người Kinh  hay người  sắc dân thiểu số  đều dùng chữ quốc ngữ mà viết   những câu thơ hay những câu văn.  Tuy nhiên, khi  người Việt nói chuyện với nhau, th́ họ thường dừng  tiếng Việt thổ âm  vừa bằng những dọng điệu khác nhau, vừa dùng  những từ ngữ  địa phương   khác nhau  để diễn tả tư tưởng của họ.

    I-  Thổ Âm của ba miền  quê hương Việt   .

  --- Thổ âm  Bắc ---> Nam

             (Tác giả: vô danh)

Bắc bảo Kỳ, Nam kêu Cọ (gọi là Kỳ Cọ)
Bắc gọi lọ, Nam kêu chai
Bắc mang thai, Nam có chửa
Nam xẻ nửa, Bắc bổ đôi

Ôi! Bắc quở Gầy, Nam than Ốm
Bắc cáo Ốm, Nam khai Bịnh
Bắc định đến muộn, Nam liền la trễ
Nam mần Sơ Sơ, Bắc làm Lấy lệ

Bắc lệ tuôn trào, Nam chảy nước mắt
Nam bắc Vạc tre, Bắc kê Lều chơng
Bắc nói trổng Thế Thôi, Nam bâng quơ Vậy Đó
Bắc đan cái Rọ, Nam làm Giỏ tre

Nam không thích Nói Dai, Bắc chẳng mê Lải nhải
Nam Căi bai băi, Bắc Lư Sự ào ào
Bắc vào Ô tô, Nam th́ vô Xe hơi
Hồi hộp Bắc hăm phanh, giật ḿnh Nam đạp thắng

Mưa nắng Nam mở Dù, Bắc lại x̣e Ô
Nam nói Đi trốn, Bắc bảo Lánh mặt
Chưa chắc Nam nhắc Từ từ, Bắc khuyênGượm lại
Bắc bảo là Quá dại, Nam lại nói Ngu ghê

Nam Sợ Ghê, Bắc Hăi Quá
Nam thưa Tía Má, Bắc bẩm Thầy U
Nam nhủ Ưng Ghê, Bắc mê Hài Ḷng
Nam chối Ḷng Ṿng, Bắc bảo Dối Quanh

Lẹ làng Nam bẻ Bắp, hấp tấp Bắc vặt Ngô
Bắc thích cứ vồ Nam ưng là chụp
Nam rờ Bông Bụp, Bắc vuốt Tường Vi
Nam nói: mày đi! Bắc hô: cút xéo!

Bắc bảo: cứ véo! Nam: ngắt nó đi.
Bắc nói phong b́, bao thơ Nam nói
Nam kêu: muốn ói, Bắc bảo: buồn nôn!
Bắc gọi tiền đồn, Nam kêu cḥi gác

Bắc hay khoác lác, Nam th́ ba xạo
Mưa đến Nam che, gió ngang Bắc chắn
Bắc khen giỏi mắng, Nam nói chửi hay
Bắc nấu thịt cầy, Nam thui thịt chó

Bắc vén búi tó, Nam bới tóc lên
Anh Cả Bắcquên, anh HaiNam
Nam: ăn đi chú, Bắc: mời anh xơi!
Bắc muốn đi bơi, Nam thời đi lội

Bắc đi phó hội, Nam tới chia vui
Thui thủi Bắc kéo xe lôi, một ḿnh xích lô Nam đạp
Nam thời mập mạp, Bắc cho là béo
Khi Nam khen béo, Bắc bảo là ngậy

Bắc quậy Sướng Phê, Năm rên Đă Quá!
Bắc khoái đi phà, Nam thường qua bắc
Bắc nhắc môi giới, Nam liền giới thiệu
Nam ít khi điệu, Bắc hay làm dáng

Tán mà không thật, Bắc bảo là điêu
Giỡn hớt hơi nhiều, Nam kêu là xạo
Bắc nạo bằng gươm, Nam thọt bằng kiếm
Nam mê phiếm, Bắc thích đùa

Bắc vua Bia Bọt, Nam chúa La-De
Bắc khoe Bùi Bùi lạc rang, Nam: Thơm Thơm đậu phọng
Bắc xơi na vướng họng, Nam ăn măng cầu mắc cổ
Khi đói Nam tṛm trèm ăn vụng, Bắc len lén ăn vèn

Nam toe toét “em hổng chịu ”, Bắc vặn ḿnh “em chả
Bắc giấm chua “cái ả”, Nam bặm trợn “con kia
Nam chửi “tên mắc dịch ”, Bắc rủa “đồ phải gió
Nam nhậu nhẹt thịt chó, Bắc đánh chén cầy tơ

Bắc vờ vịt lá mơ, Nam thẳng thừng lá thúi địt
Khi thấm, Nam xách thùng th́ Bắc bê sô
Nam bỏ trong rương, Bắc tuôn vào ḥm
Nam lịm vô ḥm, Bắc mặc áo quan

Bắc xuưt xoa “Cái Lan xinh cực!”,
Nam trầm trồ “Con Lan đẹp hết chê!
Phủ phê Bắc trùm chăn, no đủ Nam đắp mền
T́nh Nam duyên Bắc có thế mới bền mới lâu

   -Thổ âm miền Trung (Huế)

                 (Tác giả:Internet)

Lời cha mẹ giáo huấn con trai và con gái.

Đối với con gái:

: Mi phải suy đi nghĩ lại cho kỹ ! Mi coi, là con gái con lứa, đừng có đụng chăng hay chớ, cũng đừng lật đa lật đật, cũng đừng có mặt sa mày sỉa . Bọ mạ th́ quần ống cao ống thấp, tất ba tất bật để nuôi ḿnh . Tau thấy mi rứa, tau cũng rầu thúi ruột thúi gan !

 
 

          

 Đối với con trai

 Năm tể năm năm tê, mi c̣n lẩm đa lẩm đẩm, mũi răi tḥ ḷ, chừ mi nậy rồi, phải biết ăn biết noái, biết goái biết mở, vô khuôn vô phép . Chớ mai tê mốt nọ mi nên vai nên vế, nên vợ nên chồng, làm răng mi bông lông ba la hoài như cái đồ trôi sông lạc chợ cho được ?!

 

Đối với con cháu:

    Mi đoảng, mi vô hậu, được bèo quên rá, được cá quên nơm; th́ mi lấy ai mà bầu bạn, lấy mô mà tri kỷ ! Đó, mi thấy đó

       II-  Giọng  Nói của ba miền  quê hương Việt.

   1-   Cái Giọng Sài G̣n

         ( (Trích  một số câu của tác giả Hải Phan)

Gọi là yêu Sài G̣n th́ có phần hơi quá! Không dám gọi thứ t́nh cảm dành cho Sài G̣n là t́nh yêu, nó chưa thể đạt đến mức ấy. Cái t́nh với Sài G̣n là cái t́nh của một thằng ăn ở với Sài G̣n hơn 20 năm, cái t́nh của một thằng mà với nó, Sài G̣n c̣n quá nhiều điều níu kéo, quá nhiều chuyện để mỗi khi bất chợt nghĩ về Sài G̣n, lại thấy nhơ nhớ, gần gũi...

Hồi c̣n đi học, vẫn hay chọc mấy đứa bạn bằng 2 câu thơ nhại :

Đèn Sài G̣n ngọn xanh ngọn đỏ

Gái Sài G̣n cái mỏ cong cong

Chuyện con gái Sài G̣n "mỏ" có cong không th́ hổng có biết, chỉ biết con gái Sài G̣n có cái đầu môi cong cong dễ làm chết người lắm, nhất là khi cánh môi be bé ấy cong lên một chữ "hônggg..." khi đứa con trai rủ rê đi đâu, năn nỉ ǵ đó. Lúc đó, đem gương hay kiếng  soi, chắc cái mặt của đứa con trai đó tội lắm.

Mà con gái Sài G̣n có điệu đà, ơng ẹo chút th́ mới đúng thiệt là con gái Sài G̣n. Ai mà chẳng biết vậy. Gọi đó là cái duyên ngầm của người con gái đất Gia Định cũng chẳng có ǵ sai. Ai hiểu được, người đó sẽ thấy sao mà yêu mà thương đến vậy...

  Trong một bài viết về Sài G̣n – Gia Định của nhà văn Sơn Nam, có thấy ông viết giọng Sài G̣n, cũng như văn hóa và con người Sài G̣n là một sự pha trộn và giao thoa đến hợp nhất của nhiều nơi. Đó là những người Chăm bản địa, những người khách trú (người Hoa hay chú ba tàu), những người miền Trung đầu tiên đến đất Gia Định…Từ đó h́nh thành một loại ngôn ngữ vừa bản địa, vừa vay mượn của những người đi mở đất…

  Giọng Sài G̣n không ngọt ngào …mía lùi như một số người dân Tây Nam Bộ ven vùng sông nước mênh mang chín rồng phù sa, không nặng nề cục mịch như người miền Đông Nam Bộ nóng cháy da thịt. Giọng người Sài G̣n cũng ngọt, nhưng là cái ngọt thanh hơn, nhẹ hơn. Đó là chất giọng “thành thị” đầy kiêu hănh của người Sài G̣n, thứ giọng chẳng lẫn vào đâu được mà dù người khác có bắt chước cũng khó ḷng. Dường như qua nhiều năm cùng với đất Gia Định – Sài G̣n phù hoa trong nhịp sống, trong đổi mới và phát triển, th́ giọng nói của người Sài G̣n cũng trở nên “cao sang” hơn.  Dù vậy, nó chính là cái “thanh” của một vùng đất một thời là thủ phủ Nam Bộ, nhưng cũng chẳng mất đi đâu cái mộc mạc không bỏ được của cái gốc chung Nam Bộ.

Giọng người Sài G̣n nói lên nghe là biết liền. Ngồi nghe hai người Sài G̣n nói chuyện cùng nhau ở một quán nước, bên đường hay qua điện thoại, dễ dàng nhận ra họ. Cái giọng không cao như người Hà Nội, không nặng như người Trung, mà cứ ngang ngang, sang sảng riêng…Mà điều đặc biệt trong cách người Sài G̣n nói chuyện cùng nhau là mấy từ “nghen, hen, hén” ở cuối câu... Người miền khác có thích hay khoái, có yêu người Sài G̣n th́ cũng v́ cách dùng từ “nghen, hen” này.

Khách đến nhà chơi, chủ nhà tiếp. Khách về, cười rồi buông một câu “Thôi, tôi d́a nghen!” - Chủ nhà cũng cười “Ừ, dzậy anh d́a hen!”.

Nói chuyện điện thoại đă đời, để kết câu chuyện và cúp máy, một người nói “Hổng c̣n ǵ nữa, dzậy thôi hen!”. “Thôi” ở đây nghĩa là dừng lại, kết thúc, chấm dứt ǵ đó. Hai đứa bạn nói chuyện cùng nhau, bắt gặp cái ǵ vui, quay đầu sang đứa kế bên lên tiếng “Hay hén mậy?” bằng giọng điệu thoải mái…

Giọng người Sài G̣n đôi khi diễn đạt cùng một câu nói, nhưng lại bằng nhiều cung bậc giọng điệu khác nhau,  lại mang ư nghĩa khác nhau. Đám nhỏ quậy, nghịch phá, người chị mắng, giọng hơi gằn lại và từng tiếng một, có chút hóm hỉnh trong đó “Dzui dzữ hen!”.

Đám bạn cùng tuổi, ngồi chơi chung, cười đùa, một người nói giọng cao cao vui vẻ “Dzui dzữ hen!”… Người Sài G̣n có thói quen hay “đăi” giọng ở chữ cuối làm câu nói mang một sắc thái khác khi hờn giận, khi đùa vui như “Hay dzữuuu”, “Giỏi dzữưưu…!”

Nghe người Sài G̣n nói chuyện, trong cách nói, bắt gặp “Thôi à nghen” “Thôi à!” khá nhiều, như một thói quen, như cái “duyên” trong giọng Sài G̣n.  Người Sài G̣n nói chuyện, không phát âm được một số chữ, và hay làm người nghe lẫn lộn giữa âm “d,v,gi” cũng như người Hà Nội phát âm lẫn các từ có phụ âm đầu “r” “xong dzồi”.

Nói th́ đúng là sai, nhưng viết và hiểu th́ chẳng sai đâu, đó là giọng Sài G̣n mà, nghe là biết liền. Mà cũng chẳng biết có phải là do thật sự người Sài G̣n không phát âm được những chữ ấy không nữa, hay là do cách nói lẫn từ “d,v,gi” ấy là do quen miệng, thuận miệng và hợp với chất giọng Sài G̣n..

Ví như nói “Đi chơi dzui dzẻ hen mậy!” th́ người Sài G̣n nói nó… thuận miệng và tự nhiên hơn nhiều so với nói “Đi chơi vui vẻ hen!”. Nói là “vui vẻ” vẫn được đấy chứ nhưng cảm giác nó ngường ngượng miệng làm sao đó. Nghe một người Sài G̣n phát âm những chữ có phụ âm "v" như "về, vui, vườn, vơng" có cảm giác sao sao ấy, không đúng là giọng Sài G̣n chút nào...

Tiếng nói của người Sài G̣n không chỉ thuần là tiếng Việt, mà c̣n là sự học hỏi, vay mượn nhiều từ ngữ của các dân tộc bạn, đâm ra mang nhiều “h́nh ảnh” và “màu sắc” hơn. Những từ như “ĺ x́, thèo lèo, xí mụi, cũ x́,cái ki …” là tiếng mượn của khách trú, những từ như “xà quầng, ḿnh ên…” là tiếng của người Kh’mer. Nói riết đâm quen, dần dần những từ ngữ đó, những tiếng nói đó được người dân Sài G̣n sử dụng một cách tự nhiên như của ḿnh, điều đó chẳng có ǵ lạ…Thêm vào đó, nó được sửa đổi nhiều cho phù hợp với giọng Sài G̣n, thành ra có những nét đặc trưng riêng.

Người Sài G̣n nói riêng và miền Nam nói chung, có thói quen dùng từ "dạ" khi nói chuyện, khác với người miền Bắc lại dùng từ "vâng".

Khi nói chuyện với người lớn hơn ḿnh, người dưới thường đệm từ "dạ" vào mỗi câu nói. "Mày ăn cơm chưa con ? - Dạ, chưa!"; "Mới d́a/dzề hả nhóc? - Dạ, con mới!"… Cái tiếng "dạ" đó, không biết sao trong cảm giác nghe của một người Sài G̣n với một người Sài G̣n thấy nó "thương" lạ...dễ chịu mà gần gũi, nhẹ nhàng mà t́nh cảm lắm lắm. Cảm giác nó thật riêng so với những nơi khác. Nghe một tiếng "dạ" là biết ngay tên này là dân miền Nam cái đă rồi hẵng hay...

Một người miền khác, có thể là Bắc hoặc Trung, diễn tả một khoảng thời gian ngắn vài ngày th́ nói “Từ bữa đó đến bữa nay”, c̣n người Sài G̣n th́ nói “Hổm nay”, “dạo này”…người khác nghe sẽ không hiểu, v́ nói chi mà ngắn gọn ghê. (Lại phát hiện thêm một điều là người Sài G̣n hay dùng từ “ghê” phía sau câu nói để diễn tả một sắc thái t́nh cảm riêng. Tiếng “ghê” đó chẳng hàm ư ǵ nhiều, nó mang ư nghĩa là “nhiều”, là “lắm”. Nói “Nhỏ đó xinh ghê!” nghĩa là khen cô bé đó xinh lắm vậy.)

Lại so sánh từ “hổm nay” với “hổm rày” hay nghe ở các vùng quê Nam Bộ, cũng một ư nghĩa như nhau, nhưng lại không hoàn toàn giống nhau.. Nghe người Sài G̣n dùng một số từ “hổm rày, miết…” là người Sài G̣n bắt chước người miền sông nước vậy. Nhưng nghe vẫn không trái tai, không cảm thấy gượng, v́ trong người Sài G̣n vẫn c̣n cái chất Nam Bộ chung mà.

Nghe một đứa con trai Sài G̣n nói về đứa bạn gái nào đó của ḿnh xem…”Nhỏ đó xinh lắm!”, “Nhỏ đó ngoan!”…Tiếng “nhỏ” mang ư nghĩa như tiếng “cái” của người Hà Nội. Người Sài G̣n gọi “nhỏ Thuư, nhỏ Lư, nhỏ Uyên” th́ cũng như “cái Thuư, cái Uyên, cái Lư” của người Hà Nội thôi.

Nói một ai đó chậm chạp, người Sài G̣n kêu “Thằng đó làm ǵ mà cứ cà rề cà rề…nh́n phát bực!” Nghe cứ như là đùa, chẳng làm câu nói nặng nề lắm. Một người lớn hơn gọi “Ê, nhóc lại nói nghe!” hay gọi người bán hàng rong “Ê, cho chén chè nhiều nhiều, tiền ít coi!”… “Ê” là tiếng Sài G̣n đó, kiểu bắt chước Tây, coi gọi trổng không vậy mà chẳng có ư ǵ đâu, có thể nói đó là thói quen trong cách nói của người Sài G̣n. Mà người Sài G̣n cũng lạ, mua hàng ǵ đó, thường “quên” mất từ “bán”, chỉ nói là “cho chén chè, cho tô phở”… “cho” ở đây là mua đó nghen.

Nghe người Sài G̣n nói chuyện với nhau, thường bắt gặp thế này “Lấy cái tay ra coi!” “Ngon làm thử coi!” “Cho miếng coi!” “Nói nghe coi!”… “Làm thử” th́ c̣n “coi” được, chứ “nói” th́ làm sao mà “coi” cho được nè ? Vậy mà người Sài G̣n lại nói, từ “coi” cũng chỉ như là một từ đệm, dân Sài G̣n nói dzậy mà.

Ngồi mà nghe người Sài G̣n nói chuyện cùng nhau th́ quái lắm, lạ lắm, không ít người sẽ hỏi “mấy từ đó nghĩa là ǵ dzậy ta ?” – Mà “dzậy ta” cũng là một thứ “tiếng địa phương” của người Sài G̣n à. Người Sài G̣n có thói quen hay nói “Sao kỳ dzậy ta?” “Sao rồi ta?” “Được hông ta?”…Nghe như là hỏi chính ḿnh vậy đó, mà…hổng phải dzậy đâu nghen, kiểu như là nửa hỏi người, nửa đùa đùa vậy mà. “coi dzậy mà hổng phải dzậy”

Người Sài G̣n có cái kiểu gọi “Mày” xưng “Tao” rất “ngọt”. Một vài lần gặp nhau,nói chuyện ư hợp tâm đầu một cái là người Saigon mày tao liền. Nếu đúng là dân Sài G̣n, hiểu người Sài G̣n, yêu người Sài G̣n sẽ thấy cách xưng hô ấy chẳng những không có ǵ là thô thiển mà c̣n rất ư là thân thiện và gần gũi.

Mày-tao là kiểu xưng hô hay thấy trong mối quan hệ bạn bè của người Sài G̣n. Cách xưng-hô này thấy dàn trải từ đủ các mối quan hệ bạn bè; từ bạn học giữa mấy đứa nhóc chút xíu, cho đến mấy bác mấy anh lớn lớn tuổi. Hổng biết cái máu dân Sài G̣n nó chảy mạnh quá hay sao mà thấy mấy cách gọi này nó...tự nhiên và dễ nói hơn là mấy từ như "cậu cậu - tớ tớ" của miền Bắc. Nói chuyện bạn bè với nhau, thân thiết mà gọi mấy tiếng mày mày tao tao th́ nghe thật sướng, thật thoải mái tự nhiên, và khoai khoái làm sao ấy. Gọi thế th́ mới thiệt là dân Sài G̣n.

Đấy là ngang hàng, ngang vai vế mà gọi nhau, chứ c̣n như đám nho nhỏ mà gặp người lớn tuổi hơn, đáng bậc cha, chú th́ khác. Khi ấy “tụi nhỏ” sẽ gọi là chú, thím, cô, d́, hay bác và xưng “con” ngọt xớt. Có vẻ như người Sài G̣n "ưa" tiếng chú, thím, d́, cô hơn; cũng như đa phần dân miền Nam khác vậy mà. Mà có lẽ cách gọi này cũng c̣n tuỳ vào việc ước lượng tuổi của người đối diện. Gặp một người phụ nữ mà ḿnh nhắm chừng tuổi nhỏ hơn mẹ ḿnh ở nhà th́ "D́ ơi d́...cho con hỏi chút...!" - c̣n lớn hơn th́ dĩ nhiên là "Bác ơi bác..." rồi. Khi gọi một cách thân mật có ư khuyên bảo với một em nhỏ, người Sài g̣n thường nói “Nầy, chú em…”

Những tiếng mợ, thím, cậu,... cũng tuỳ vào vai vế và người đối diện mà gọi. Có người chẳng bà con thân thuộc ǵ, nhưng là bạn của ba ḿnh, lại nhỏ tuổi hơn, thế là gọi là chú và vợ của chú đó cứ thế gọi luôn là thím. Gọi th́ gọi thế, c̣n xưng th́ xưng “con” chứ không phải “cháu cháu” như một số vùng khác. Cái tiếng “con” cất lên nó tạo cho người nghe cảm giác khoảng cách giữa ḿnh với đứa nhỏ đang nói kia tự dưng… gần xịt lại. Nghe sao mà quen thuộc, và gần gũi đến lạ lùng. Tự dưng là thấy có cảm t́nh liền.

Nói tiếp chuyện xưng-hô, người Sài G̣n có kiểu gọi thế này :

Ông đó = ổng

Bà đó = bả

Anh đó = ảnh

Chị đó = chỉ

Người Sài G̣n cũng có thói quen gọi các người trong họ theo... số. Như anh Hai, chị Ba, thím Tư, cô Chín, dượng Bảy, mợ Năm...Mà nếu anh chị em họ hàng đông đông, sợ gọi cùng là chị Hai, anh Ba mà hổng biết nói về ai th́ dzậy nè, thêm tên người đó vào. Thành ra có cách gọi : chị Hai Lư, chị Hai Uyên, anh Ba Long, anh Ba Hùng, anh Sáu Lèo ...

Thêm nữa, nếu mà anh chị em cùng nhà th́ tiếng "anh-chị-em" đôi khi được....giản lược mất luôn, trở thành "Hai ơi Hai, em nói nghe nè..." và "Ǵ dzạ Út ?"...Tôi thích cách gọi này, đâm ra ở nhà gọi D́ Út tôi chỉ là một tiếng Út gọn lỏn. Có chuyện nhờ là cứ "Út ơi...con nhờ chút!" hoặc với mấy chị tôi th́ "Hai ơi Hai...em nói nghe nè!".

 

      2--   Cái Giọng Huế

                 (Bài viết của tác giả  Phương Nhi)

 
 

Với người Huế, những từ như mô, tê, răng, rứa… vừa gần gũi vừa giản dị thân thương v́ nó đă ăn sâu vào trong nếp sống thường ngày của người dân Cố đô. Những câu từ đơn giản nhưng lại tạo nên sự kỳ lạ đối với du khách bốn phương.

 

Ngôn ngữ đời thường xứ Huế

 

Đối với người Bắc và người Nam, tiếng Huế là một “ngoại ngữ” vừa khó nghe vừa khó hiểu. Tiếng Huế khó nghe v́ cách phát âm không đúng chuẩn của ngôn ngữ tiếng Việt. “Nói” thành “noái”, “ông” thành “ôn”, “chân” thành “chưn”, “yêu” thành “ưng”, “không” thành “khôn”…. Ví như “Em có ưng anh khôn?” có nghĩa là “Em có yêu anh không?”.

 

Bên cạnh đó c̣n có các từ địa phương như “mô, tê, răng, rứa, mần, bựa, chừ…” đậm chất Huế. Điều này tạo nên sự khó hiểu cho những người mới nghe lần đầu. Có một cô gái phương Bắc từng bị bất ngờ khi lần   đầu tiên đặt chân đến Huế đă nghe câu hỏi “O đi mô rứa?”. Cô không biết phải trả lời như thế nào nếu như không có người dịch giúp “Cô đi đâu vậy?”

Nhưng cũng chính v́ sự khó nghe khó hiểu đó mà tiếng Huế tạo nên một sắc thái riêng, không pha tạp với ngôn ngữ của các vùng miền khác.

Có người bảo: Người Huế chi lạ, con “mắt” th́ bảo là con “ngươi”, cái “sân” th́ bảo là cái “cươi”, cái “chổi” th́ bảo là cái “chuổi”, cây “chuối” th́ bảo là cây “chúi”… Thế mà khi sống ở Huế một thời gian th́ họ lại bắt chước giọng nói Huế. Nhưng cho dù cách bắt chước của họ có giống đến đâu th́ cũng không thể nói giọng Huế “chuẩn” như người Huế gốc. 

 
   

Nhiều chàng trai khi đến Huế đều muốn lấy một cô gái Huế làm vợ. Phải chăng, chính từ giọng nói ấy đă tạo nên nét rất riêng, rất đặc biệt của người con gái Huế.

 

Ngôn ngữ Huế không tṛn vành rơ chữ nhưng giản dị, chân phương, không kiểu cách, không màu mè. Hăy cùng lắng nghe cuộc đối thoại giữa một chàng trai và một cô gái sau bao ngày xa cách:

- “Răng bựa chừ anh khôn đến thăm em? (“Sao dạo này anh không đến thăm em?”)

- “Anh bị đau chưn.” (“Anh bị đau chân”)

- “Răng anh khôn noái em qua thăm?” (“Sao anh không nói em đến thăm?”)

“Chừ chưn anh răng rồi?” (“Giờ chân anh sao rồi?”)

- “Khôn can chi” (“Không sao đâu”)

Lời đối thoại mộc mạc, chân t́nh nhưng thể hiện t́nh cảm thắm thiết của đôi trai gái.

 

Có người nói giọng Huế đầy chất thơ chất nhạc. Chỉ cần nghe cô gái Huế nói là đă thấy cả thơ và nhạc đong đầy.

“Răng mà cứ theo tui hoài rứa

Cái ông ni mới dị chưa tề

Sớm trưa chiều ba bữa đi về

Đưa và đón mần chi không biết!”

(Trích đoạn bài thơ Chuyện t́nh Huế cùng “răng, rứa”)

 

Những người xa Huế không chỉ nhớ về Huế với sông Hương, núi Ngự mà c̣n nhớ về Huế với chất giọng đặc biệt. Chỉ cần nghe ai nói “mô tê răng rứa” th́ đă có cảm giác thân quen rồi. Bởi thế, những người Huế đi xa rất dễ kết thân không chỉ v́ t́nh đồng hương mà c̣n bởi v́ cùng chung một ngôn ngữ Huế.

 

Dù cho tiếng Huế không phải là tiếng chuẩn quốc gia mà chỉ mang tính chất địa phương nhưng nó đă để lại ấn tượng không thể nào phai trong ḷng du khách thập phương. “Hăy giữ chút ǵ rất Huế đi em” - Câu nói này không chỉ là lời nhắn nhủ giữ lấy h́nh ảnh của người con gái Huế đoan trang thùy mị với tà áo dài, chiếc nón lá nghiêng nghiêng mà c̣n giữ lấy giọng Huế mộc mạc, chân phương.

 
   

 3--   Cái Giọng Hà Nội

                 (sưu tầm)

Giọng Hà Nội được xem là giọng chuẩn của người miền Bắc. Giọng chuẩn tức là giọng không pha trộn, không bị cải biến đi qua thời gian. Như nói về giọng chuẩn của người Hà Nội, người ta nói đến cái giọng ấm nhẹ, khi trầm khi bổng, khi sắc khi thanh, và chẳng ai phủ nhận người Hà Nội nói chuyện rất hay và “điêu luyện”. Cái “điêu luyện” ấy như thuộc về bản chất của người Hà Nội mà chỉ người Hà Nội mới có được.

Từ bé tôi đă rất mê giọng nói người Hà Nội. Ở trong đó có ǵ rất ngọt ngào, t́nh cảm, lôi cuốn người nghe và trên hết là phát âm tṛn vành rơ chữ. Có lẽ v́ thế mà nhiều người ở mọi miền yêu mến Hà Nội, muốn về Hà Nội để nghe tiếng nói ngọt ngào, từ câu chào mời đến lối sống phong cách…

Về căn bản, người Hà Nội phát âm tương đối chuẩn tiếng Việt. Giọng đọc, giọng ngâm thơ, hay giọng hát người Hà Nội dễ nghe, dễ hiểu.

Giọng Hà Nội phong phú hơn về mặt thanh điệu và phụ âm cuối so với các vùng miền khác, nhưng cũng có phần kém hơn ở một số phụ âm đầu và vần. 

Ưu điểm của giọng   Hà  nội là phân biệt rơ ràng các phụ âm cuối [C] và [T], [N] và [NG] và đầu [D] và [GI]

 
   

Một vài đặc điểm của Giọng Hànội

Người Hànội nói riêng và miền Bắc nói chung, có thói quen dùng từ "vâng" khi nói chuyện, khác với người miền Nam lại dùng từ "dạ". 

Khi nói chuyện với người lớn hơn ḿnh, người dưới thường đệm từ "vâng"vào mỗi câu nói. "Bố Má cháu có ở nhà không?  Vâng , có ạ.   Từ  "vâng"  đó thấy d thương...dễ chịu mà gần gũi, nhẹ nhàng mà t́nh cảm lắm lắm. Nghe một tiếng "vâng"  là biết ngay tên này là dân miền Bắc, giọng Hànội.

 - Người Hànội   khi đề  cập  tới  đứa con gái nào đó , th́  thường buông lời : "cái" Thuư   xinh lắm !,   "cái" Hường  nhỏ nhẹ  ghê !,   th́ cũng như người Sài G̣n gọi “nhỏ" Thuư, “nhỏ" Hường.  Tiếng “cái” của người Hà Nội” mang ư nghĩa như tiếng” nhỏ của người Sài G̣n.

 
   

- Người Hànội  có  thói quen  buông lời :   "Mời" bác xơi cơm, "Mời"  bố xơi cơm, "Mời"  mẹ xơi cơm, "Mời"  anh xơi cơm, "Mời"  chị xơi cơm,  mời... mời... mời tùm lum!.Thằng em mời dài nhất, mời lâu nhất, mời từ trên xuống dưới .

-  Trên đài phát thanh hay trên trên TV,   người  nữ ca sĩ Hà Nội thường nhấn mạnh âm TR.    Cô đă hát: “Hăy hát lời lửa TRu...oái tim yêu thương (chính nhẽ  ra phải hát :  lửa trái tim yêu thương)

- Người Hànội    có thói quen  buông lời: Có đúng không nhỉa ? ( chính nhẽ  ra phải nói :Có đúng không nhỉ?
- Người Hànội    có thói quen  phát âm
: Mặt mùi…ũi,   mèo... éo,    ṃ... ó c̣…ó ,  đồng tiên…iền   ( chính nhẽ  ra phải  phát âm: Mặt mũi méo mó, mà có đồng tiền)

 

  III-- Nhận định về thổ âm và giọng nói

            3 miền Hànội,  Huế,  Saigon

 

Nếu lấy Huế làm trung điểm của cán cân, ta thấy có một sự thay đổi trong giọng nói của tiếng Việt chúng ta từ Bắc vô Nam. Sự biến chuyển này ở các vùng liền nhau là tiệm tiến một cách có thể khó nhận ra. Tuy vậy, giọng nói của chúng ta có thể được phân chia thành ba miền rơ rệt: giọng Miền Bắc, Miền Trung và Miền Nam mà chúng ta thường gọi là giọng bắc, giọng trung, và giọng nam.

 

  Giọng Hànội

 

  Ưu điểm  ở  2 điểm:

          - phân biệt rơ ràng các phụ âm cuối [C] và [T], [N] và [NG] và đầu [D] và [GI].

          - Về âm sắc, phân biệt các dấu hỏi, ngă.

  Nhược điểm :

        không phân biệt [CH] và [TR] nói thành [CH], [S] và [X] nói thành [X], ví dụ Châu (châu phê) và trâu (con trâu) nói giống nhau thành châu; sanh (sanh sản) và xanh (màu xanh) đều nói thành xanh

 

 Giọng  Huế

 

  Giọng nặng cho đến nỗi nhiều người không quen nghe, không thể hiểu được.

Giọng  phân biệt được [CH] và [TR], [S] và [X], nhưng phụ âm cuối [C] và [T] đều nói thành [C], [N] và [NG] đều thành [NG], ví dụ cắc và cắt đều nói cắc, man (di) và mang (vác) đều thành mang. Phụ âm đầu [D], [GI] và [NH] đều nói là [GI]. Người Huế c̣n phát âm [OI] thành [OAI], ví dụ nói (năng) thành noái (năng).

Giọng Huế không c̣n phân biệt dấu hỏi dấu ngă nữa. Cả hai dấu này đều được phát âm nửa vời, không hỏi không ngă, có lúc trầm xuống gần với dấu nặng.

Giọng  Saigon

Giọng Saigon mềm mại hơn giọng Huế và Hànội. Người Saigon  không phân biệt phụ âm cuối [C] và [T] nói thành [C], [N] và [NG] nói thành [NG]. Phụ âm đầu [V] đều nói là [D], ví dụ như vui vẻ sẽ nói thành dui dẻ. Đặc điểm là dân Saigon nói các phụ âm cuối dài như [ICH], [INH] thay cho phụ âm ngắn [IT] và [IN], ví dụ, con vịch thay v́ con vịt, dây nịch thay v́ dây nịt, niềm tinh thay v́ niềm tin. Âm đầu [R] thường phát âm là [G] ví dụ cá rô thành cá gô. Nhiều vùng không nói được âm đầu [H] mà biến thành gần như [GU], ví dụ Huế thành Guế.

 
   

Kết luận

Saigon, Huế, và Hànội của 3 miền Nam Trung Bắc quê hương Việt mến yêu có những thổ âm khác nhau và những giọng nói khác nhau v́   nước Việt   được h́nh thành do có  quá nhiều dân tộc , và v́ đất Việt  quá dài ,  lai   thêm nhiều núi non ngăn cách. Đối với một  t́nh trạng như vậy, khó mà  h́nh thành  một   quê hương  có một  giọng nói chuẩn được cho cả  mọi vùng đất nước

       Bài viết : Sưu tầm

 

Web Hit Counters