Bảo tồn và phát huy

TRANG CHỦ VỀ VĂN HÓA    SỬ KƯ ĐỊA DƯ ĐỊA DANH LỊCH SỬ
 SẮC DÂN VIỆT XĂ HỘI  VIỄT GIA Đ̀NH VIỆT VĂN HỌC MỸ THUẬT
PHONG TỤC VIỆT TÍN NGƯỠNG VIỆT GIÁO DỤC&DẠY CHỮ CÁC NGHỀ NGHIỆP CÁC LỄ HỘI
Y &TRANG PHỤC ẨM THỰC VIỆT Y & DƯỢC VIỆT VƠ & DƯƠNG SINH DU LỊCH
THUYẾT PHONGTHỦY LỊCH & TƯỚNG SỐ NIỀM TỰ HÀO NỖI LO ÂU VĂN NGHỆ
 

                                  

 

 

     Hàn Mặc Tử

         với hai mối t́nh

               Thôn Vỹ và Mộng Cầm

                               Người viết :  Hoàng Công Duyên

 

 Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

 Có  chở trăng về kịp tối nay?

 

Hơn một nửa thế kỷ nay, mến mộ thơ văn Hàn Mặc Tử (1912-1940), một số bạn bè gần gũi, nhiều nhà văn thơ, nhà nghiên cứu phê b́nh đă viết nhiều bài, nhiều tác phẩm về nhà thơ tài hoa mệnh bạc này.  Những lư giải súc tích về một hồn thơ dị biệt đă được nêu lên, nh́n ngắm từ nhiều khía cạnh, tuỳ theo cảm nhận riêng của từng người viết.

Một người say mê nghệ thuật như Hoài Thanh, tác giả cuốn Thi Nhân Việt Nam, đă để ra ngót một tháng trời để đọc thơ văn HMT, từ lối thơ  Đường đến vở kịch bằng thơ Quần Tiên Hội và đă cảm thấy mệt lả v́ tâm hồn nhà thơ này có một sắc thái ǵ đó rất dị  thường ‘dễ sợ’,   làm cho độc giả phải bối rối, khó tiếp cận những  câu thơ trong cơi mộng khó khăn khúc mắc.

Tả một đám mây in h́nh dưới ḍng nước:

 

   Mây chết đuối ở ḍng sông vắng lặng

   Trôi thây về xa tận cơi vô biên

Mượn lời thơ  để tả sự đau đớn của ḿnh:

 Tôi muốn hồn tràn ra đầu ngọn bút;

  Mỗi lời thơ  đều dính năo cân ta

   Bao nét chữ  quay cuồng như máu vọt

   Như mê man chết điếng cả làn da

Phạm vi của bài viết này nhằm trước hết tŕnh bày mối t́nh thôn Vỹ- mối t́nh của Tử với Hoàng Cúc-   được coi như là một  trong những tư liệu tuyệt hảo  để thơ  Tử ào ạt tuôn trào như thác lũ trên giấy

 Đừng nắm lại nguồn thơ ta  đương siết

 Cả ḷng ta trong mớ chữ rung rinh

Những  khía cạnh khác lư thú:  Đau thương và sáng tạo- Hồn thơ dị biệt-  Tính cách tân kỳ trong thơ-   Những khát khao siêu h́nh trong thơ Tử… tuỳ theo cơ duyên, sẽ xin lần lượt tŕnh bày những lần sau

* ĐÔI  NÉT VỀ TIỂU SỬ

 Hàn Mặc Tử tên thật là  Nguyễn Trọng Trí, sanh 22-9-1912 tại Lệ Mỹ, Đồng Hới, bên bờ sông Nhật Lệ, con thứ tư của ông Nguyễn văn Toản mất năm 1926 lúc mới 45 tuổi, là một viên thông phán sở Thương Chánh và mẹ là bà  Nguyễn thị Duy mất năm 1951 tại G̣ Bồi, Qui Nhơn, thọ 71 tuổi, một từ mẫu suốt đời tận tụy nuôi sáu đứa con với một t́nh yêu bao la, nhất là đối với Tử, con người gầy yếu, vắt vẻo từ nhỏ.  Suốt đời niên thiếu, Nguyễn Trọng Trí theo cha đi làm việc nhiều nơi như Đồng Hới,  Sa Kỳ năm 1920, Qui Nhơn - Bồng Sơn 1921-1923, trở lại Sa Kỳ, Quảng Ngăi năm 1924.   Chính ở đây,   Trí đă nhiều đêm đi qua và thưởng ngoạn mê say cái động cát rất đẹp về đêm có cái tên huyền diệu là Sa Kỳ mà Trí dùng làm chất liệu sau đó để viết lên bài Chơi Giữa Mùa Trăng, một bài thuộc loại thơ xuôi được coi như là  trác tuyệt trong nền văn chương nhân loại cả về nội dung lẫn h́nh thức.

    Sau khi thân sinh mất,   Trí được thân mẫu gởi ra học trường ḍng Pellerin , Huế.   Tại cố đô này,   Trí có nhiều dịp thưởng ngoạn vùng trời thơ mộng của núi Ngự, sông Hương,  Kim Long,   Đập Đá, thôn Vỹ… mà các nhà thơ dân gian dùng làm nguồn thi hứng:

 

 Thuyền từ Đông Ba, thuyền qua Đập Đá

Thuyền từ Vỹ Dạ, xuống  Ngă Ba Sinh

Là đà bóng ngả trăng chênh

Giọng ḥ xa vọng nhắn t́nh nước non 

                                        Ca dao

 

Ôi  Vỹ Dạ! Sao quen thân đến thế?

Thiên Mụ chuông chùa như tiếng tiếng gọi quê hương…

                                                     Đặc San TSH                                   

* NHỮNG BÚT HIỆU

Hàn Mặc Tử có khiếu thơ văn rất sớm.  Khi mới lên  mười lăm,  Trí lấy bút hiệu là Minh Duệ  Thị   để kư dưới những bài thơ Đường luật  đầu tiên mà Trí hay  xướng họa với người anh cả  Nguyễn Bá Nhân  ( bút hiệu Mộng Châu), với người bạn thân Quách Tấn và có lần với cả Cụ  Phan Bội Châu…. Như tiên tri được cái thân phận đau thương, bi đát, cô đơn, gió bụi của ḿnh mà Tử lấy bút hiệu tiếp theo là   Phong Trần, Lệ Thanh và sau cùng mới đổi là  Hàn Mặc Tử ( anh chàng bút mực), cái tên bất tử, chói sáng trong thi giới từ  đó đến nay.

Hồi mới  15,16 tuổi,  Tử đă sáng tác bài Vội Vàng Chi Lắm kư bút hiệu Minh Duệ Thị  để hoạ lại bài thơ của anh ruột   Mộng Châu

 

 Vội vàng chi lắm nhạn lưng mây

 Chầm chậm cho ḿnh gửi mối dây

 Về đến Thần Kinh khoan  nghỉ đă

 Ghé miền Gia Hội tỏ t́nh ngay

 Suốt năm canh mộng hồn mê mỏi

 Chỉ một ḷng son muốn giải bày

 Này nhạn ! Ta c̣n quên chút nữa

 Con tim non nớt tặng nàng đây.

 

Lời thơ thật trong trẻo, nhẹ nhàng, thanh thoát.

 Trong  Lệ Thanh thi tập, thơ Đường  luật của HMT thật tuyệt bút.  Đặc biệt có hai bài thơ   Cửa Sổ Đêm KhuyaĐi Thuyền  HMT làm lúc  mới 17 ,18 tuổi, có thể đọc được 6 cách: đọc xuôi, đọc ngược, bỏ 2 từ đầu đọc xuôi  và đọc ngược, bỏ  2 từ cuối dọc xuôi và đọc ngược:

 

CỬA  SỔ ĐÊM KHUYA

 

Hoa cười, nguyệt rọi cửa lồng gương

Lạ cảnh buồn thêm nỗi vấn vương

Tha thướt liễu in hồ gợn bóng

Hững hờ mai thoảng gió đưa hương

Xa người nhớ cảnh t́nh lai láng

Vắng bạn ngâm thơ rượu bẽ bàng

Qua lại yến ngàn dâu ủ lá

Ḥa đàn sẵn có dế bên tường

 

ĐI  THUYỀN 

 

Bèo trôi nước dợn sóng mênh mông

Cỏ mọc bờ xa bóng liễu trông

Chèo vững thiếp qua vời khổ hải

 Giữ bền chàng đến vận trung không

Theo lần nguyệt xé mây  mù mịt 

Họa đáp thông reo trống năo nùng

Neo thả biết đâu nơi định trước

Bèo trôi nươc dợn sóng mênh mông

 

Ban Biên  Tập

 

Phạm x.Khuyến

TrườngThy

Xuân Bích

 

Nguyễn

Lê Hiếu

 

HươngKiều Loan

 

Dươngvăn Phối

Đặng văn

Minh

 

PhạmLiên Anh

 

 

PhạmKim Liên

 

 

Trần v. Quang

 

Nguyễn A.Tuấn

 

  Trong thi giới có mấy ai làm thơ đọc được 6 cách như thế này ?Tất cả thơ Đường của Tử kư dưới bút hiệu Minh Duệ Thị,  Phong Trần,, Lệ Thanh đều xuất sắc lỗi lạc.

Những năm theo học trường Pellerin, Huế, Tử  đă nhiều lẩn xướng họa với cụ  Phan.  Bài thơ Thức Khuya kư bút hiệu Phong Trần, đăng trên báo   Tràng An,  được cụ Phan khen ngơị hết lời:

 

 Non sông  bốn mặt ngủ mơ màng

 Thức chỉ ḿnh ta dạ chẳng an

 Bóng nguyệt leo song rờ rẫm gối

 Gió thu lọt cửa cọ mài chăn

 Khóc giùm thân thế hoa rơi lệ

 Buồn giúp công danh dế dạo đàn

 Chỗi dậy nôm na vài điệu cũ

 Năm canh tâm sự vẫn chưa tan 

                                        ( Thức khuya)

Cụ Phan đánh giá lời thơ già dặn, sắc  sảo, nồng nàn, thấm đậm t́nh yêu non nước

* MỐI T̀NH VỚI  HOÀNG CÚC

Hàn Mặc Tử là một nhà thơ tài hoa, lăng mạn, yêu thích những mối t́nh thơ mộng, thiết tha. Anh bắt đầu biết yêu khi tiếng tăm lẫy lừng, thơ anh được đăng tải nhiều trên báo chí các mặt báo.

Sau khi đi học Huế   về lại Qui Nhơn, Tử xin vào làm sở Đạc  Điền năm 1933 do cụ Thương Tá Hoàng Phùng, thân phụ  Hoàng Thị Kim Cúc làm Giám Đốc.   Thời gian này Tử đă để ư đến Kim Cúc   và bắt đầu làm quen với một số bạn bè yêu thích văn thơ như Bùi Tuân,  Hoàng Diệp, Hoàng Tùng Ngâm  ( anh thúc bá với Kim Cúc), Chế Lan Viên,  Thúc Tề, Yến Lan và Quách Tấn.

Bản tính của Tử trầm mặc xa vắng, rụt rè, e thẹn.  Nói đến t́nh yêu là Tử đỏ mặt.  Hằng ngày, ngoài thơ ḿnh, Tử thích ngâm những câu thơ trong Kinh Thi :

 

  Khoan khoan thư cưu, tại hà chi châu,

  Yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu

 

Anh quan niệm t́nh yêu là sự tŕu mến, khắng khít bên nhau  như đôi chim thư cưu, và giai nhân  phải là trang thục nữ yểu điệu, thướt tha, tương thân nhi tương kính.  Tử yêu mê say, yêu ngất ngây một cô gái láng giềng thùy mị nết na, thoáng chút kiêu sa, ở cùng một con đường Khải Định, Qui Nhơn, chỉ cách xa nhà Tử vài ba căn phố: cô Hoàng thị Kim Cúc bút hiệu Hoàng Hoa nữ sĩ

   Đây là mối t́nh đầu da diết nhất của anh:

 

   Cái phút ban đầu lưu luyến ấy

  Ngh́n năm hồ dễ mấy ai quên

                                        ( Thế Lữ)

Tử thương nhớ khôn khuây, một sự nhớ thương đơn phương, không được người trong mộng  đáp ứng.   Có những buổi, Tử ngồi lặng lẽ, thẫn thờ hàng giờ trên chiếc ghế mây trong nhà, sau bức mành tre trước cửa để đợi chờ nh́n ngắm giai nhân đi ngang qua.  Trong bài Âm Thầm,Từ thổ lộ tâm sự chưa bao giờ tỏ bày :

  …Em có ngờ đâu trong những đêm

  Trăng ngà giải bóng mặt hồ êm

  Anh di thơ thẩn như ngây dại

  Hứng lấy hương nồng trong áo em

  Bên khóm thuỳ dương anh thiết tha

  Bên ni bờ liễu anh trông qua

  Say sưa vướng phải mùi hương ướp

  Yêu cái môi hường chẳng nói ra    

                                              (Âm Thầm)

Hoàng Tùng Ngâm bạn rất thân của Tử đă chuyển đạt đến Hoàng Hoa nỗi ḷng rạo rực của anh :

 Thu về nhuộm thắm nét Hoàng Hoa

  Sương đẫm trăng lồng bóng thướt tha

  Vẻ mặt khách chi người quốc sắc

  Trong đời tri kỷ chỉ riêng ta 

                                      ( Vịnh Hoa Cúc)

Tả cái dáng dấp đơn sơ, mặn mà của người yêu :

  Thích trồng hoa cúc để xem chơi

  Cúc ngó đơn sơ lắm mặn ṃi

  Đêm vắng, gần kề say chén nguyệt

  Vườn thu vắng vẻ đủ mua vui    

                                    ( Trồng Hoa Cúc)

Bản tính rụt rè, sợ sệt, cố giữ cho trong trắng, đúng là  ‘Kính nhi viễn chi’, trái với sự liều lĩnh, táo bạo của Lục Vân Tiên ngồi núp gốc môn’,,,

  Bấy lâu sát ngơ chẳng ngăn tường

  Không dám sờ tay sợ  lấm hương

  Xiêm áo hôm nay tề chỉnh quá

  Muốn ôm hôn Cúc ở trong sương   

                                                 ( Hồn Cúc)

Cái thái độ si t́nh, quá thật thà, đứng rũ buồn nghe ngóng trước thềm nhà của người yêu :

  Đêm nay ta lại phát điên cuồng

  Quên cả hổ ngươi cả thẹn thuồng

  Đứng rũ trước thềm nghe ngóng măi

  Tiếng đàn the thẻ ở bên song

Bẵng đi một thời gian, Tử buồn t́nh bỏ Qui Nhơn năm 1935 vào Sàig̣n làm báo với một số bạn hữu, rồi cuối năm trở về lại Qui Nhơn  ăn tết với mẹ.   Lúc này triệu chứng bệnh phong  đă được phát hiện trên nét mặt.  Trí như phát điên lên và sự náo loạn tâm hồn nầy như là khởi điễm cho một nguồn cảm hứng mới sau đó.     Thật  ‘họa vô đơn chí’. Tử mang thêm nỗi buồn ly biệt bởi người yêu ra đi.  Cụ Hoàng Phùng thân phụ Hoàng  Cúc về hưu trí.  Hoàng Cúc phải theo gia đ́nh về sống ở Vỹ Dạ, Huế.

  …Và được tin ai sắp bỏ đi

  Chẳng thèm trở lại với t́nh si

  Ta lau nước mắt, mắt không ráo

  Ta lẩy t́nh nương, rửa biệt ly.

Mối t́nh  Thôn Vỹ cuối cùng tuyệt vọng, chôn kín trong ḷng v́ một trở ngại to lớn là lương giáo hai đàng dị  biệt, chứ không phải là lư do môn đăng hộ đối nào khác như Quách Tấn  đă viết trong  hồi kư của ḿnh

     MỐI T̀NH VỚI  MỘNG CẦM

  Thương quá đỗi thương, thương hóa giận

   Giận chi th́ giận, giận rồi thương  

                                               Quách Tấn

 

Sau cái t́nh yêu của thủa ban đầu lưu luyến ấy với người con gái đoan trang thôn Vỹ, t́nh yêu mà ‘gió theo lối gió, mây đường mây’,  Hàn Mặc Tử thôi làm ở sở  Đạc điền, rời bỏ Qui Nhơn năm 1935, để vào Sài g̣n  làm báo cùng với một số bạn hữu: Thúc Tề, Việt Hồ, Trọng Miên.   Qua trung gian một sự giới thiệu,  HMT làm quen với một người con gái quê quán Phan Thiết, tên thật là  Nghệ ( không biết họ ǵ) bút hiệu  Mộng Cầm có khiếu văn chương từ luc 17 tuổi và là cháu gái gọi Bích Khê bằng cậu ruột .   Hai người trao đổi thư từ qua lại mật thiết trên phương diện văn chương, và sau trở thành người yêu., thề nguyền gắn bó keo sơn và coi nhau như cặp vợ chồng chưa cưới. Họ thường hẹn ḥ gặp gỡ nhau tại Mũi Né, lúc Mộng Cầm đang học cô đỡ, hoặc tại trường  Hồng Đức   Phan Thiết khi Mộng Cầm chuyển sang nghề dạy tại đây.

 Tại cù lao Mũi Né, cảnh non nước hữu t́nh, thuận tiện để tỏ tỉnh yêu đương khắng khít, HMT vẫn tỏ ra khiêm cung, rụt rè, mắc cỡ, kính nhi viễn chi ‘người đẹp’

 

  Mặt trời mai ấy đỏ ong

  Nàng tiên hóng mát trên ḥn cù lao

   Gió ơi lại đấy mà ngừa

  Tôi đứng xa lắm, xin chừa tôi đi

   Hồn tôi mắc cỡ là v́

  Không quen thưởng thức cái ǵ  ngất ngây

  Như là  ánh nắng vàng lây

  Mà thơ sắp sửa phơi bày yêu đương

Những ngày thứ bảy, chủ nhật, HMT bao xe khứ hồi từ Sàig̣n ra Phan Thiết với người yêu để đi ngắm bờ biển những đem trăng, thưởng ngoạn những danh lam thắng cảnh.  Lầu Ông Hoàng, ở một vị trí thiên nhiên thanh tú, nh́n ra biển xanh mênh mông, là nơi cặp t́nh nhân thường lui tới để t́nh tự, hưởng những ngày hạnh phúc đằm thắm bên nhau.

 Đang vui hưởng cái hạnh phúc hiện tại, nhưng ngại ngùng cho cái huyền nhiệm ngày mai. Mộng Cầm  nhắc nhở  Tử

 

Rồi có khi nào trong phút giây

Trăng lên khỏi núi, gió đùa mây

Th́ anh nên nhớ  người năm nọ

Đă được cùng anh sống những ngày

 

Có thể đây là những ngày hai người thở đầy lồng ngực những hương hoa hạnh phúc bên nhau.  Bốn câu thơ như khơi gợi, tiên báo một chia ly bi đát không thể tránh!

   Năm 1936 hay tin Mộng Châu Nguyễn Bá Nhân, anh cả của Trí ( HMT) mất tại Phú Yên v́ tai nạn xe hơi,  Mộng Cầm viết thư cho Tử, xin được thọ tang: ‘ Lệ Thanh  anh ơi!   Anh ơi. Em không thể ra tận ngoài ấy để đưa linh cữu ông anh cả về nơi an nghỉ cuối cùng.  Vậy anh cho phép em cư tang cho ông anh một năm cũng như anh, nghe anh. Anh ở trên mấy từng mây, vong linh ông anh cả nếu có linh thiêng nên nhận người đang cầm bút biên mấy hàng này là người em dâu chắc chắn, nhất định của ông anh rồi.  Vậy ông anh nên phù hộ cho chúng em thương nhau cho đến bạc đầu’.

Sau khi biết ḿnh mắc bệnh hiểm nghẻo, HMT tuyệt giao với bạn bè, thông báo tin dữ cho người yêu Mộng Cầm biết và yêu cầu nàng  hăy quên ḿnh đi-  quên những lời  ‘hẹn ước trăm năm bền chặt sắt cầm’.   Mộng Cầm vùng vằng giận dỗi, mắng chàng là tàn nhẫn, khinh bỉ nàng, và an ủi chàng lo thuốc thang điều trị, đừng nghĩ vớ vẩn, và thề bồi lại một lần nữa  đậm đà hơn.    Nhưng trong thế gian mấy ai biết được chữ ngờ!  Quả thật là ‘ Ngôn dị hành nan’.  Nàng nói một đàng, ‘quàng’ một nẻo.  Sáu tháng sau ngày Tử lâm bệnh, nàng lặng lẽ khoác áo vu quy.  C̣n ǵ đau đớn hơn cho Tử đang lúc quằn quại với bệnh hiểm nghèo và thêm cả nghèo đói mà người yêu lại đường đột sang ngang!

 

  Trời hỡi!  Nhờ ai cho khỏi đói?

  Gió trăng có sẵn, làm sao ăn?

  Làm sao giết được người trong mộng

  Để trả thù duyên kiếp phũ phàng?

                                          (Lang thang)

Tử bức xức mănh liệt, đau đớn tột cùng, hồn trí dại khờ phiêu lạc

  Họ đă xa rồi không níu lại

  Ḷng thương chưa đả, mến chưa bưa

  Người đi một nửa hồn tôi mất

  Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ   

                  ( Những giọt lệ)

Chàng nức nở, nghẹn ngào, gào thét tên thật của người yêu  đến tội nghiệp:

  Nghệ hỡi Nghệ muôn năm sầu thảm

  Nhớ thương c̣n một nắm xương thôi!

  Thân tàn ma dại đi rồi

  Rầu rầu nước mắt bời bời ruột găn

 Chàng không thể nào quên được nụ hôn ngọt ngào đầu tiên đặt lên môi mọng  người yêu

  Nhớ hàm răng, nhớ hàm răng

  Mà ngày nào đó vẫn khăng khít nhiều

 

  hoặc  

        Xua thứ ǵ dính dáng ở đầu môi

       Nay trả lại để tôi lằm dấu tích

                           ( Dấu tích )

 Tử thường ngậm ngợi hai câu thơ của người bạn thân Quách Tấn

         Thương quá đỗi thương, thương hóa giận

         Giận chi th́ giận, giận rồi  thương

Và Tử nhấn mạnh càng giận, càng thương hơn

  Dẫu đau đớn v́ điều phụ rẫy

  Nhưng mà ta không lấy làm điều

  Trăm năm vẫn một ḷng yêu

  Và c̣n yêu măi rất nhiều em ơi!

             ( Muôn năm sầu thảm)

Để vơi bớt nỗi t́nh sầu, HMT t́m đến Lầu Ông Hoàng, nơi chứng nhân cho t́nh yêu, ḥng t́m lại dấu vết kỷ niệm xưa.  Chàng chỉ thấy một hoang vắng tiêu điều, đ́u hiu, chẳng khác nào một Lamartine, nhà thơ lăng mạn Pháp, khi đến thăm lại hồ  Bourget, không c̣n mục kích Elvire người yêu cũ lộng lẫy ngồi trên phiến đá bờ hồ năm xưa nữa  mà chỉ thấy nơi đây trăng treo nghiêng cành liễu, và những tiếng chim kêu chiêm chiếp, kêu đau thương như nức nở dưới trời sương.  Tử cảm thấy sầu hận ngất ngư, tê buốt  lạ.

  …Ta lang thang t́m đến chốn Lầu trang

  Lầu Ông Hoàng người thiên hạ đồn vang

  Nơi đă khóc, đă yêu thương da diết

   Ôi ! Trời ơi! Là Phan Thiết! Phan Thiết!

  Mà tang thương, c̣n lại mảnh sao rơi!

  Ta đến nơi- nàng ấy vắng lâu rồi!

  Nghĩa là chết từ muôn trăng thế kỷ!

  Trăng vàng ngọc, trăng ân t́nh chưa phỉ

  Ta nh́n trăng khôn xiết ngậm ngùi  trăng.

  Ta văi tung thơ lên tận cung Hằng,

  Thơ phép tắc bỗng kêu rên thống thiết:

  Hỡi Phan Thiết!  Phan Thiết!

  Mi là nơi ta  ta chôn hận ngh́n thu !

  Mi là nơi ta sầu muộn ngất ngư 

           ( Phan Thiết ! Phan thiết !)

Tử nằm trên giuờng bệnh, ngâm bài thơ này cho bạn Hoàng Diệp nghe.   Giọng ngâm buồn năo nuột của một linh hồn tuyệt vọng, khiến cho bạn nghe lạnh buốt đến cả xương sống.  Chàng nhấn mạnh  điệp từ Phan Thiết là nơi  ‘đất đă hóa tâm hồn‘  nàng đă vắng, chỉ c̣n lại mảnh sao rơi.  Sau khi ngâm, Tử lặng lẽ, nhắm kín đôi mắt, thiêm thiếp đi, như hồn trí dơi theo một nẻo mộng  xa xăm nào nơi cảnh giới  Thượng Thanh Khí huyền vi.

    Năm1936, sau khi biên chép, gom góp các thơ lại, với sự cố gắng tài chánh rất chật vật của gia đỉnh, Tử  đă xuất bản được   GÁI QUÊ là một thi tập gồm những  bài thơ do Tử làm khi c̣n khoẻ, diễn tả  những mối t́nh nhẹ nhàng man mác trong phong vị êm đềm của  cảnh sắc quê hương.

Trong dịp đi xem Hội chợ Huế năm 1936, Tử gặp lại Hoàng Cúc, chưa vui gặp gỡ, lại vội sầu chia phôi.  Bản tính cố hữu Tử vẫn nhút nhát, sợ sệt.   Thay v́ giao tặng thi tập Gái Quê cho người ḿnh nhớ yêu ‘ chưa đă, nói chưa bưa’, th́ Tử lại giao cho các em Hoàng Cúc.  Những năm 1937 trở đi, bệnh t́nh của anh ‘ khi đầy khi vơi’  như tuỳ theo con trăng tṛn, khuyết, phải chạy chữa khắp nơi.   Đâu nghe có thầy thuốc  giỏi là anh t́m đến, nhưng vẫn tiền mất  tật mang.   Điều lạ thường nơi anh: bệnh càng nặng, thể xác càng nhức nhối, tê mê, rũ liệt  đau thương lên đến giai bậc tận cùng, hồn ĺa khỏi xác nhập vào cơi u linh, th́ thơ Tử càng  tuyệt vời, huyền diệu, diễm ảo. Người ta bảo Xuân Diệu là thi sĩ của  t́nh yêu, Nguyện Bính là nhà thơ thương đồng cỏ nội, Vũ Hoàng Chương  là nhà thơ say v.v… th́ Hàn mặc Tử đúng là nhà thơ đau thương, đau thương triền miên suốt một đoạn đời.   Đau thương mang một nội dung xung cảm (ambivalent) nơi con người Hàn Mặc Tử:    nó làm cho nhà  thơ suy nhược thể xác, nhưng làm lớn dậy tâm hồn ông.  Đau thương chính là tác nhân thiên tài  HMT vậy.

Năm 1939, bạn thân của Tử  là Hoàng Tùng Ngâm viếty thư về Huế cho Hoàng Cúc biết Tử đau nặng lắm rồi, và khuyên Cúc nên viết thư thăm an ủi một hồn thơ đang đau khổ với bệnh nan y, đang cô đơn trong một lều tranh, trên một chơng tre, cách ly với thế gian  để chữa bệnh.   Hoàng Cúc vô cùng xúc động và theo thơ viết ngày 11-5-1988 gỡi cho anh ruột  Hoàng Tùng huynh trưởng trong gia đ́nh, chị Cúc kể rơ sự thật rằng:’ Hồi em ở Qui Nhơn với Ba, HMT có để ư đến em, nhờ Ngâm hỏi ư kiến em, Ngâm không hỏi.   Anh ta  kiếm cách gặp em kể lể nỗi niềm, em thấy trước là câu chuyện không đi đến đâu, nên em từ chối.  Câu chuyện chỉ có chừng nấy,  em yên trí là không  liên quan ǵ  đến nhau nữa.  Không dè thi sĩ cứ thầm yêu trộm nhớ, làm thơ tặng rồi nhờ bạn bè tặng sách báo cho em, em vẫn cứ im lặng, không trả lởi trả vốn, đến khi nghe anh ta bị bệnh nan y, em rất sót thương cho con người tài hoa bạc phận, và để an ủi một tâm hồn tha thiết yêu đương  đang vô cùng đau khổ, em gửi cho anh ta hai hàng chữ hỏi thăm sức khỏe viết trên một cái ‘ các’ 6x9,  phong cảnh hoàng hôn thành phố Huế, mua t ại nhà chụp bóng Tăng vinh.   Trong ảnh có mây nước, có chiếc đ̣ ngang với cô gái chèo đ̣, có mấy khóm tre, ánh trăng  hay ánh mặt trời chiếu xuống mặt nước.  Sau khi nhận được tấm phong cảnh đó,, th́ anh ta  gởi bài thơ  ‘Ở đây thôn Vỹ Dạ’ tặng em.   Thư đi thư về đều qua tay Ngâm chuyển… Sau khi nhận bài thơ tặng, em cũng nín luôn, không thơ từ ǵ cho thi sĩ nữa..  Qua năm sau 1940 được tin HMT mất tại Qui Nhơn.

  Sau khi HMT qua đởi, Ngâm mới kể rành mạch nỗi ḷng của Tử  đối với em, rồi giao cho em tất cả thơ văn của HMT có nói đến em.  Em hết sức cảm kích và vô  cùng ngậm ngùi  ( trích bài Hôm nay có  Một Nửa Trăng Thôi của Nguyễn Tường  THSI trang 102-107  Dallas Texas 1991)

Sự thật quá rơ ràng mà Hoàng Cúc đă im hơi lặng tiếng hơn nửa thế kỷ, khiến miột số ngộ nhận  đáng tiếc  đă xẩy ra trong giới thưởng ngoan nghệ thuật.

Bài thơ  Đây Thôn Vỹ Dạ   có mặt trong tập  Thơ Điên sau đổi là Đau Thương, nhưng chưa bao giờ bị liệt vào loại thơ Điên. Nó thuộc loại bài trong sáng của đời Tử như Mùa Xuân Chín, T́nh Quê với từ ngữ bỉnh dị, âm điệu quen thuộc, nhẹ nhàng, quyến rũ.  Đây là một trong những bài thơ t́nh hay nhất của Tử, được Phạm Duy phổ nhạc, được các ca sĩ diễn ngâm, được đem ra b́nh giảng trong các trường  Trung học , Đại học

Thôn Vỹ Dạ nằm về hữu ngạn sông Hương êm đềm thơ mộng, chỉ cách cầu Trường Tiền không đầy nửa giờ tản bộ.  Thôn Vỹ Dạ nổi tiếng từ xưa bởi vườn tược xanh tươi, mơn mởn những cây ăn trái, biệt thự cổ kính, duyên dáng, thấp thoáng dưới các mầu xanh tươi cây.  Dân ở đây phong lưu, đài các, quư phái.  Con gái Vỹ Dạ trang đài, thướt tha, đoan trang, phúc hậu. Từ Vĩ Dạ nh́n chênh chếch về phía chợ Đông Ba, ta thấy  Cồn Hến nằm giữa hai nhánh sông Hương giang, nổi tiếng  là cơm hến và bắp cồn là hai đặc sản Huế đă được ca tụng  từ lâu.  Do đó, ta không ngạc nhiên khi thấy nhiều học giả, nghệ si tên tuổi đều có những bài khảo cứu, sáng tác, mà xuất phát điểm ư tưởng, ư thơ đều nảy sinh từ thôn Vỹ thơ mộng này.

 

Bài thơ chỉ vỏn vẹn ba đoạn, mười hai câu.  Đọc qua, tưởng chừng như ư tưởng rạc rời, không ăn khớp.   Nhưng  thẩm thức thấu đáo, ta thấy các câu, các đoạn toàn bài ràng buộc chặt chẽ liền khối vào nhau thật ư vị.  Không có câu nào lạc mạch, nằm ngoài từ trường cảm hứng của cây bút tài hoa.

 

 
 

Trong đoạn đầu, nhà thơ tự hỏi ḿnh, như tự trách ḿnh sao không về chơi thôn Vỹ để nh́n ngắm lại những cảnh sắc mơ màng xứ Huế mà Tử đă bao lần quyến luyến khi cỏn học ở trường ḍng Pellerin:

  Sao anh không về  chơi Thôn Vỹ?

  Nh́n nắng hàng cau, nắng mới lên

  Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

  Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Buổi sáng sớm, ánh nắng mới chiếu long lanh trên những tàu cau xanh, c̣n ướt đọng sương đêm.  Khách phương xa đến thấy hàng cau trước nhất v́ cau thường cao vút lên trời.  Ấn tượng cái nắng ở câu thơ trên rọi xuống màu xanh của vườn, nên tạo ra cái mướt xanh như ngọc, cái mướt xanh của vườn tược Vỹ Dạ.Tả vườn như câu thơ thứ ba,  Tử đă đạt đến  mức độ tinh diệu tài tỉnh. C̣n tả lá bằng  một câu thơ rất tạo h́nh:

 
 

 

     Lá trúc che ngangmặt chữ điền

 

‘Mặt chữ điền tiền rưỡi cũng mua’, ông bà ta ngày xưa  nói vậy để miêu tả gương mặt của những thục nữ đoan trang phúc đức, đôn hậu thấp thoáng sau những lá trúc, cành tre của thôn làng Vỹ Dạ nói riêng  và của Việt Nam nói chung.

Tiếp nối mạch cảm xúc của đoạn đầu, trong đoạn hai, tác giả nói đến tâm trạng chia ly bởi mộng ước không thành, như gió mây đôi ngả, bởi tôn giáo hai đàng khác biệt.  Ta thấy ư câu thơ thứ nhất của đoạn 2   Gió theo lối gió, mây đường mây là đáp số, là trả lời cho câu thơ  thứ nhất của đoạn 1.   Đó chính là lư do tại sao Tử không về chơi Thôn Vỹ

 

   Gió theo lối gió, mây đường mây

  Ḍng nước buồn thiu, hoa bắp lay

  Thuyển ai đậu bến sông trăng đó

  Có chỡ trăng về kịp tối nay?

Người buồn th́ ḍng nước Hương Giang cũng buồn lặng lờ trôi về xa  xăm và hoa bắp Cồn Hến cũng đong đưa, lay động xót xa cho mối t́nh ngang trái.   Hai câu thơ 3 và 4 đoạn 2   ‘Thuyền ai…. kịp tối nay’   là hai câu thơ của cơi mộng, tuyệt diệu như thế này, đem ra phân tích một cách thật thà, sợ làm mất hồn thơ, mất con thuyền chở trăng trên bến sông trăng.   Thuyền ai có thể là con thuyền mai mối, thuyền chở  trăng nguyệt lăo xe duyên, V́ tôn giáo dị biệt thuyền đậu bến sông trăng không thể chở trăng nguyệt lăo về  xe duyên cho nhà thơ.   Theo người em ruột Nguyễn Bá Tín, hai câu thơ 3 và 4 trong đoạn 2 có ư nghĩa là con thuyền ai cắm sào  đợi đó, có chở trăng về tối nay cho HMT  đỡ cô đơn, cho HMT lăng khuây phần nào mối t́nh gió mây đôi ngả, để cứu rỗi linh hồn bất hạnh này không.?   Trái tim khao khát yêu đương, Tử trút lên trăng trang thơ những giấc mơ, mơ bóng khách má hồng đang ở dặm đường xa thẳm

   Mơ khách đường xa, khách đường xa

   Áo em trắng quá nh́n không ra

Màu trắng ở đây là mầu trắng của tâm tưởng.  Màu trắng do kỷ niệm gợi lại một cách hư hư thực thực, tâm tưởng của Tử không nh́n ra, nhận rơ

 Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ở đây không phải là ở tấm ảnh Hoàng Cúc tặng Tử, không phải là ở Gành Ráng Qui NHơn nơi Tử đang đau khổ với bệnh hiểm nghèo, cũng không phải là nơi Thôn Vỹ của người yêu mà chính là ở nơi mối t́nh này, mối t́nh đang là, đang hiện hũu, là một mối t́nh mong manh, mờ ảo như sương khói làm nhạt nḥa người trong ảnh.  Mạch ư câu thơ này chuyển sang câu thơ kế tiếp cũng là câu thơ cuối cùng của bài thơ 

 
   

Ai  biết t́nh ai có đậm đà?

Em hiện diện ở ngay đấy, giữa cuộc đời mịt mờ nhân ảnh này, anh không biết  t́nh em có sâu đặm như trước?   Anh e ngại người con gái Huế vốn trang nghiêm và trầm lặng, tậm sự nhiều mà ít hé trên môi.  Ư thơ như nhắn nhủ, trách móc, chơi vơi, gợi mở một nỗi buồn rất nhẹ nhàng, thanh khiết mà sâu xa rộng mở đến vô cùng. 

    Hàn Mặc Tử đă đi xa, xa măi

    Nhưng bảy, tám tập thơ ông để lại cho đời

   Như hương trầm ấm măi giữa thế gian

 

 
 

      

Những bóng sắc giai nhân đi qua đời Hàn Mặc Tử, ngoài  Hoàng Cúc và Mộng Cầm, Tử c̣n có một mối t́nh thứ ba : nữ sĩ Mai Đ́nh yêu thơ Tử và  luỵ luôn cả thi nhân.  Nhiều thơ yêu  đă được trao trao đổi giữa hai ngưởi.    Măi những năm tham gia kháng chiến chống Pháp, theo Chế Lan Viên viết trong  Tuyển Tập  Hàn Mặc Tử, nhà xuất bản Văn học  Hà Nội 1987 th́ nữ sĩ Mai Đ́nh   đă có những vần thơ thê thiết nhớ thương Tử

 

  …Sắt son đă chẳng cùng nhau vẹn

  Em phải đem ḿnh gửi núi sông

 
 

  

                                    Image result for Mong Cam                         Mộ Hàn Mạc Tử ở Ghềnh Ráng

 

 
 

    

Ngoài những h́nh bóng giai nhân nói trên, c̣n có  hai yểu điệu thục nữ yêu kiều khác-  mà Tử chưa hề một lần gặp mặt-   được bạn hữu  sắp xếp giới thiệu đến Tử với mục đích giúp chàng vơi bớt t́nh sầu dang dở.   Đó là  Lê Ngọc Sương chị ruột của Bích Khê và Thương Thương, 1 nữ sinh Huế 12  tuổi cháu của  Trần Thanh Địch.   Đặc biệt   Thương Thương được HMT coi như là nguồn thơ bất tuyệt để sáng tác tập thơ Cẩm Chân Duyên và hai kịch thơ tuyệt tác của nhân loại :  Duyên Kỳ Ngộ và Quần Tiên Hội mà bần bút có cơ duyên thuận tiện sẽ tŕnh bày sau.

Những đau khổ tê điếng, ngất ngư về bệnh, về t́nh đă đưa đẩy thuyền thơ HMT đến những chân trời kỳ diệu của ngôn ngữ thi ca Viêt Nam

       Hoàng Công Duyên  

 

 

Web Hit Counters