Bảo tồn và phát huy

TRANG CHỦ VỀ VĂN HÓA    SỬ KƯ ĐỊA DƯ ĐỊA DANH LỊCH SỬ
 SẮC DÂN VIỆT XĂ HỘI  VIỄT GIA Đ̀NH VIỆT VĂN HỌC MỸ THUẬT
PHONG TỤC VIỆT TÍN NGƯỠNG VIỆT GIÁO DỤC&DẠY CHỮ CÁC NGHỀ NGHIỆP CÁC LỄ HỘI
Y &TRANG PHỤC ẨM THỰC VIỆT Y & DƯỢC VIỆT VƠ & DƯƠNG SINH DU LỊCH
THUYẾT PHONGTHỦY LỊCH & TƯỚNG SỐ NIỀM TỰ HÀO NỖI LO ÂU VĂN NGHỆ
 

        

     Văn hóa Việt 

        th́ đa dạng chứ không đơn thuần

             như vẫn được hiểu.

 

 

       I-    Văn hóa  đa dạng

  Nước Việt  gồm 3 miền: Bắc Trung Nam.  Bắc có văn hóa Đông Sơn, Trung có văn hóa  Sa Huỳnh,  Nam có văn hóa  Óc Eo.

Văn hóa Đông Sơn đặc sắc  về

                 Kỹ thuật đúc  đồng: trống, lưỡi cày,  mũi  tên bắn

 

Văn hóa  Sa Huỳnh   đặc sắc  về

              - đồ  gốm   (nghệ thuật tạo dáng trên gốm)

              - thủy tinh: (dùng cát trắng để nấu thủy tinh)    

              - đào  Giếng phát triển cao độ

              - trồng lúa Chiêm 

-    trồng dâu nuôi tằm

 

Văn hóa  Óc Eo đặc sắc  về:

                - Kiến trúc:   Đền, tháp, Nhà cửa   xây  bằng gạch,  đá và gỗ.

             - Điêu Khắc:  Tạc tượng trên đá và kim loại quư,

              -Chạm trổ  h́nh người trên lá vàng, con dấu và  nhẫn.

Văn hóa Việt  tổng hợp ba văn hóa  Đông Sơn, Sa Huỳnh và óc Eo. Văn hóa này được h́nh thành  do 54 sắc dân, nhưng sắc dân  Kinh  là một sắc dân  lớn nhất.   Tiếng nói của sắc dân Kinh là tiếng nói chính của quốc gia. Ngôn ngữ này thông dụng từ công s  cho tới  câu chuyện giao tiếp thường ngày. C̣n ngôn ngữ các sắc dân  khác  vẫn được duy tŕ ở địa phương  nơi các sắc dân  cư ngụ. 

Trong nền  Văn hóa Việt,  yếu tố Tôn giáo là  một yếu tố quan trọng.   Tôn giáo cơ bản  của   sắc dân Kinh là  đạo Thờ  Trời  và tôn Kính Tổ Tiên , c̣n tôn giáo cơ bản của các sắc dân khác là đạo  thờ  thần linh (animism)  Ngoài ra c̣n có  các tôn giáo du nhập vào nước Việt   gồm có   Phật Giáo   Đại Thừa, Nho Giáo, Lăo Giáo nhập từ Trung Hoa qua ngả phía Bắc nước từ thế kỷ  thứ nhất và thế kỳ 2  sau Dương lịch,   Hồi Giáo du nhập vào khỏang thế kỷ thứ 10 do người Chăm đưa vào miền Trung Việt khi họ c̣n  thống trị Miền Trung.  C̣n Phật Giáo Tiểu Thừa  và  Ấn Giáo du nhập vào  miền Nam thời kỳ  văn hóa Óc Eo  thuộc vương quốc Phù Nam  khoảng thế kỳ thứ nhất cho tới thế kỷ 6 Dương lịch.  Sau cùng, Thiên Chúa Giáo du nhập  vào  3 miền  Việt  vào khỏang thế kỷ  17 do các giáo sỹ  Tây ban Nha, B Đào Nha, và Pháp.    Chính nhờ các  giáo sỹ này mà  chữ quốc ngữ  được  h́nh thành thay thế cho chữ nôm ; ngày nay  chữ quốc ngữ   trở  thành chữ  viết chính thức  của  dân chúng Việt.

Trong nền  Văn hóa Việt ,  yếu tố chế độ gia đ́nh là một yếu tố khá đặc sắc.

Văn hóa Việt  có  3 chế độ gia đ́nh: phụ hệ,  song hệ và mẫu hệ.

 Phần lớn các sắc dân  theo chế độ phụ hệ. Một số  sắc dân  theo chế độ song hệ một số  sắc dân  theo chế độ mẫu hệ

Một số  sắc dân sau  đây theo chế độ song hệ ( vừa phụ hệ vừa mẫu hệ) :   Sedang, Bahnar, Gié-Triêng, Hrê (ngữ hệ Nam Á Austro-Asiatic)  BắcTây Nguyên  và Khmer Nam Bộ.

Một số  sắc dân sau  đây theo chế độ mẫu hệ  Chăm, Jarai, Êđê, Raglai, Churu ( ngữ hệ Nam Đảo (Austronesian), cư ngụ vùng  Tây Nguyên, và Nam Trung BộM'nông, K'ho  (ngữ hệ Nam Á).Trong số này có sắc dân Chăm.

Đặc biệt  trong  chế độ mẫu hệ,  vai chủ động đi hỏi cưới  là  bên  họ nhà gái, hôn lễ cũng tổ chức chủ yếu là bên nhà gái.

 Nếu vợ qua đời trước, người chồng sẽ quay về sống với mẹ hoặc chị em gái của ḿnh mà không ở với con, v́ chúng thuộc về gia đ́nh vợ. Những đứa con côi sẽ ở lại, sống với người em gái út của mẹ. 

H́nh thức tổ chức xă hội cổ truyền  của chế độ mẫu hệ chính là  xă hội  palay.   Cái  xă hội  palay  này  tập hợp những gia đ́nh thuộc một hoặc vài ba ḍng họ mẫu hệ, cư trú quây quần xung quanh ngôi nhà của người phụ nữ đứng đầu thị tộc hoặc chi tộc.

Tuy nhiên, quyền lực thực tế không thuộc về nữ giới mà thuộc về nam giới. Mặc dù quan hệ huyết thống và quan hệ thừa kế đều được tính theo ḍng mẹ, nhưng không nhất thiết người mẹ hay một người phụ nữ cụ thể nắm quyền cai trị gia đ́nh, thị tộc hay bộ tộc.

Đấu tranh sinh tồn với những cộng đồng lân cận và với thiên nhiên hoang dă, vai tṛ thủ lĩnh của cộng đồng thường được trao cho nam giới có sức vóc tráng kiện. Tư cách thủ lĩnh của người đàn ông được xác định bởi mối quan hệ mẹ con  hay quan hệ bà - cháu của ông ta   ( Mẹ, bà  = chủ gia đ́nh hay tộc trưởng) Khi ở rể , th́ do sự suy cử của các thành viên gia đ́nh hoặc thị tộc người vợ, ông ta cũng có thể trở thành người chỉ huy chiến đấu.

 

   II- Văn hóa  là tổng hợp  đời sống

               và những sinh hoạt  Xă hội

 

Nói đến Văn hóa người ta  thường  nghĩ ngay  đến đời sống và sinh hoạt  của   con ngườI trong xă hội. 

 

   A-  Đời sống

   Để sống, th́ phải có chỗ ở ( nhà cửa) và  phương tiện làm ăn,  Chết th́ phải chôn  ( tang chế

   1/    Về   Nhà cửa  của một số sắc dân

 

             hp2

    Nhà người Kinh                  Nhà người Khmer       nhà sắc dân Tây nguyên       

 

        

 
 

 

Nhà người Kinh

Nhà  bằng gỗ hay tre là vật liệu căn bản.  Nhà cửa đều là một hệ thống kèo cột rằng rịt lấy

nhau, có mái nặng đè xuống cho vững. Lấy cột làm chỗ tựa cho mái, vách và tường chỉ dùng để chắn gió mưa. Cột nhà đều tựa chân trên tảng đá. Bộ phận chính của nhà là  3 gian và 2i hàng cột  ở giữa. Nhà th́ có 4 mái: hai mái chính và hai mái chái. Nhà nào cũng ít cửa, nên trong nhà thường tối

Nhà người Khmer

Nhà  sàn bằng gỗ trên cọc gỗ , mái  có  thể bằng ngói  hay bằng cọ   Nhà này  khác nhà  kia có  thể  v́  khung mái nhà, v́  vị trí cầu thang, v́  hiên nhà, v́ số cột  mặt tiền, v́ số cột  toàn diện. Nhà cửa  là  nhà sàn v́  ở vùng nhiệt đới  ẩm ướt hay ngập lụt không thuận lợi nếu xây cất trên mặt đất

Hiên nhà  và gian chính là nơi xum họp gia đ́nh và khách . Những cột  của hiên nhà  dùng làm cột  mắc vơng.  Dưới sàn nhà là nơi sinh hoạt và làm việc,

Nhà người  Tây nguyên

   Tây nguyên  vùng của  các sắc dân Êđê, Jrai, Sê Đăng, Bâhnar . Căn nhà  của họ  là  nhà sàn  có chiều dài thường từ 25-50m, từ mặt đất đến gầm sàn khoảng dưới 1m. Hệ thống cột gồm 6 cây gỗ lớn chạy song song hai bên ḷng nhà. Đồng bộ với các cột là hai cây xà nhà dài cũng suốt chiều dọc của căn nhà. Các cột nhà đều là thân cây gỗ lớn.   Nhà ở  làm theo hướng Bắc - Nam đón gió mát và không bị hắt nắng chiều.    Nhà  mái tranh với hai đầu hồi nhọn nhô ra phía sàn hiên trước và sau nhà. Mái thường lợp rất dày .Cửa vào nhà ở hai đầu hồi. Nhà ở được làm từ những nguyên liệu truyền thống vốn có sẵn ở núi rừng như: Gỗ, tranh, tre, nứa, lồ ô... 

Nhà người  Mường & người Tày

Nhà cửa  là nhà sàn  được làm bằng gỗ, tre, nứaNgười  Mường dùng con xỏ bằng tre, con then bằng gỗ, đinh kèo bằng gỗ để đóng thay cho đinh sắt. Họ  dùng lạt, mây giang  hoặc tre bánh tẻ để buộc níu các ngoàm đẽo hoặc cột kèoTre nứa dùng làm nhà phải không được cụt ngọn, không bị sâu hay bị đốt cháy dở.

Khung nhà được dựng hoàn toàn bằng cách đục đẽo ghép mộng, hoặc thiết kế theo kiểu v́ cột, liên kết chủ yếu là buộc, gá hoặc dùng ngoẵm. Đ̣n tay được đặt dọc mái nhà. Mái nhà lợp bằng lá cọ hoặc bằng cỏ gianh. Những cây nứa  được lựa chọn kỹ để pha nan kẹp lá.  Những kẹp lá cọ được đưa lên mái buộc thẳng vào  đui mè. Cửa sổ thường được thiết kế ở đầu hồi và vách phía sau, vách làm bằng phên nứa

Nhà người Chăm

Cơ bản của bộ khung nhà là V́ cột.  Nếu bộ khung  là v́ ba cột ( kèo được liên kết với cột  hoặc  không  có v́ kèo th́ dùng tường thay thế kèo).  Nếu là v́ năm cột  th́ có thêm xà ngang đầu gác  lên  cây đ̣n tay cái nơi hai đầu cột con. Từ các kiểu v́ này dần  dần  xuất hiện cây kèo và trở thành v́ kèo.

      2/-   Về tang chế  của một số sắc dân

 Có sự giống nhau giữa hai miền Bắc nam của  Việt Nam:

 

Con trai đội khăn tang, không mặc áo tang và không nhất thiết phải có dây rơm mũ bạc; con gái, con dâu không trùm khăn như trước; cháu chỉ đội khăn; con trai không c̣n đi lùi trước quan tài của cha hay mẹ. Ngày trước để tang cha mẹ đến 3 năm, nay th́ rút gọn c̣n 1 năm, thậm chí có thể xả tang ngay khi vừa chôn xong, hoặc lúc mở cửa mả, do phải đi làm ăn xa hoặc cho bớt nặng nề trong tang chế.

 

Có sự khác biệt giữa hai miền Bắc nam  của  Việt Nam

 

Khác biệt về   đám  tang

Tuy có chịu ảnh hưởng từ văn hóa Bắc,  nhưng trong tập tục tang ma, miền Nam bộ vẫn có những nét khác biệt so với miền Bắc bộ.

 Đám tang ở người Nam bộ không thấy có chuyện khóc mướn,  trong khi người Bắc bộ thường có chuyện khóc mướn

Thường mỗi đám tang người Nam bộ đều có ban nhạc lễ để đuổi tà khí và để “người chết khuây khỏa”. Không thể thiếu các dàn nhạc Tây, được mời đến diễn từ lúc quan tài c̣n ở nhà cho đến khi đưa ra nghĩa trang. Ban nhạc diễn những bài phù hợp như Ḷng mẹ, T́nh cha, Ơn nghĩa sinh thành,Cát bụi   Trái lại đám tang người Bắc  bộ thường im lặng , hoặc có kèn  đám ma buồn thảm

 

   Khác biệt về các ngôi mộ

 Người miền Bắc  chôn cất người chết  ở các nghĩa trang  xa nhà . Nhưng người miền Nam th́ các ngôi mộ nằm rải rác trên các cánh đồng, trong vườn, gần nhà. Tập tục đó khó thay đổi, bởi những mồ mả đó đă bao đời gắn bó với họ. Điều này giúp giải thích tại sao người dân khó có thể dứt bỏ ruộng vườn, nơi có mồ mả tổ tiên ḿnh nằm để đi nơi khác lập nghiệp, dù cuộc sống có nhiều khó khăn. Và phải chăng không có ranh giới cách biệt giữa người sống và người chết, không chỉ là sự tiện lợi cho việc nhang khói cho người quá cố, mà đó c̣n là sự ấm áp của t́nh thân.

 

Một vài khác biệt nữa:

Nếu như nhiều tỉnh ở miền Bắc có tục cải táng sau 3 năm, th́ ở Nam bộ có thói quen xây sẵn “kim tỉnh”, tức xây sẵn huyệt mộ chuẩn bị cho người chết, mà có khi nhiều năm sau người ấy mới chết.

 Và  về miền quê Tây Nam bộ, một số gia đ́nh khá giả ở nông thôn Nam bộ có tục mua “ḥm dưỡng già” Chiếc ḥm này được đặt ở bên chái hiên nhà;  hoặc  đặt cạnh giường, tủ. Rơ ràng nó thể hiện sự lạc quan của người Nam bộ ngay với cái chết và cả đạo hiếu với ông bà.

 

    Riêng về tang chế  của  các sắc dân thiểu số

       Không  thấy tài liệu nói về đám tang,  nhưng có thấy tài liệu nói về mồ mả .  Mồ mả  nằm trong một cái nhà . Nhà này có tên là Nhà mồ. Hàng ngày, người thân của người chết phải đem cơm nước đến nhà mồ, quét dọn nhà mồ. Chỉ sau khi làm Lễ Bỏ Mả người chết mới đi về thế giới tổ tiên, chấm dứt mọi ràng buộc giữa người sống với người chết. .Sau đây là các loại nhà m

Nhà mồ ở Tây Nguyên của  các sắc dân Bana, Gia Rai   quay hướng Đông – Tây, gió và nắng lồng lộng xua tan mùi hôi hám

Nhà mồ  làm  bằng gỗ, nứa, tre, tranh có sẵn trên rừng. Cột gỗ là chủ yếu, không có v́ kèo, mà chỉ là những cột chống và phủ mái lên.   Nhà mồ tạm th́ mái có thể lợp tranh, nhưng sau lễ bỏ mả phải làm mái gỗ.

 

Nhà mồ các sắc dân Nam Đảo   (Malay-polynesien)

Khung h́nh chữ nhật cao bằng  gỗ xẻ, đặt bao quanh ngôi mộ,  trang trí  nhiều hoa văn  đen và đỏ. Mái nhà mồ là những tấm gỗ đặt nằm ngang, có khắc nổi h́nh vành trăng khuyết, đây là thế giới của linh hồn. Mái nhà mồ cao  h́nh chóp có 4 mặt.. rất nhiều hoa văn (   dân Êđê,và Jrai).      Xung quanh nhà mồ có hàng rào treo nồi đồng, ngà voi và các tượng mồ dày đặc và đa dạng.. Đầu nhà mồ là nhà cúng cơm.

Nhà mồ các sắc dân Nam Á  ( Austro-asiatic)

    Nhà mồ  bằng gỗ, trùm vừa đủ kín diện tích ngôi mộ, kê trên một giá gỗ thấp lè tè sát mặt đất.. h́nh trăng khuyết là biểu tượng chung của thế giới người chết .  Mái nhà mồ  thường thấp.   Mái bằng gỗ chau chuốt tỷ mỷ, mang tính mỹ thuật cao.    Xung quanh nhà mồ có hàng rào treo nồi đồng, ngà voi  và rất nhiều tượng gỗ vẽ vời rất công phu  h́nh quả trám, h́nh tṛn, con mắt….h́nh con rồng, con kỳ đà, đầu và sừng con  trâu.

 

 

      3/-   Về nghề  nghiệp để sống  c̣n 

 

Để sinh sống th́  người Việt  dù là sắc dân Kinh  hay  sắc dân thiểu số  đều có rất nhiều nghề.   Nhưng   nghề cơ bản của họ  luôn luôn  là nghề nông.

V́  các sắc dân  thiểu số phần lớn sống ở những vùng đất cao hay vùng rừng rú, c̣n  sắc dân  Kinh sống ở vùng đồng bằng sát với sông ng̣i,   nên cách làm nghề nông của họ khác  nhau.

 

Cách làm nghề nông của các sắc dân  thiểu số

 

     - Trồng lúa nước ở các thung lũng

         Dân cư  làm ruộng nước bằng kỹ thuật lùa cả đàn trâu xuống ruộng để trâu giẫm đất đến khi sục bùn th́ gieo lúa giống.

   Làm Rẫy

       Dân cư quen  châm lửa đốt  rừng dọn Rẫy để gieo hạt khi mùa mưa bắt đầu.    Một  khi đất canh tác bạc màu,  th́  họ theo  chế độ luân khoảnh tức là chuyển đến nơi đất c̣n mầu mỡ nhiều. Người ta thường thấy bên cạnh những khu đất đang canh tác c̣n có những khu đất để hoang để phục hồi sự mầu mỡ.

Cách làm nghề nông của sắc dân  Kinh

  Sống ở các đồng bằng sông Hồng   ( Bắc Việt), sông Mă ( Trung Việt), sông Cửu long,  người Việt gốc Kinh canh tác  nông nghiệp như sau

   a/-   Trường hợp ruộng sâu: Lúa cấy & Lúa Sạ

 

   -  Loại   Lúa cấy

Ruộng mạ

Đầu mùa mưa,  cầy đám ruộng mạ.    Ruộng mạ có diện tích bằng 1/10 Ruộng  đất dành cho lúa.  Người nông dân cày đám ruộng  với cái cầy được trâu hoặc ḅ kéo,  phải cày  làm sao để úp mặt đất xuống cho chết cỏ.  Thường th́  cày từ 5 giờ sáng đến 10 giờ mới xong một công đất (1000m2).  Cày rất vất vả.  Cày xong, người ta bừa cho đất vỡ bể ra  rồi trục cho đất nhuyễn ra.

Gieo Mạ  

 Lúa giống ngâm 24 giờ vớt ra ủ cho lên mộng, mỗi ngày tưới nước lạnh, sau 2-3 ngày lúa lên mộng đều, đem gieo trên Ruộng mạ gọi là gieo mạ,  phải giữ  cho đám mạ không bị ngập nước. …..Sau 1 tháng 20 ngày  th́ nhổ mạ.

Thời gian sau khi gieo mạ xong, người ta cày phần đất trồng  lúa  để chuẩn bị cấy, cũng cày bừa, trục, nhổ cỏ…

Cấy

tách ra từng  nắm mạ, chia ra từng 4-5 tép mạ và cấy xuống, cây lúa cách nhau độ  3 tấc. Một người, một ngày có thể cấy xong 1 công đất (1000m2).  Ba ngày sau  đó,  người ta lội giậm lúa(sửa lại những cây lúa nổi )

 

    -  Loại Lúa Sạ

 Người nông dân dùng máy xới. vừa xới vừa kéo theo cái trục.  Người ta để một đầu bẹ dừa  dưới cái trục  để cắt thành rănh nhỏ, nước rỏ xuống. Xới xong  ruộng  để trồng lúa,  th́ họ  phải ngâm lúa giống cho lên mộng, mỗi công đất  trồng  lúa sạ , họ  cần 20 đến 25 lít lúa giống.  Khi sạ, người ta dùng thúng đựng lúa giống và lội theo từng luống tung đều lúa giống ra khắp mặt ruộng,  rồi  3-4 ngày sau  đó , mới cho nước vào từ từ.  Độ 15 ngày sau, xịt thuốc diệt cỏ dại.  Kế đến bón phân và giậm lúa  ( nhổ chỗ rậm đem giâm chỗ lúa chết)

      b/-   Trường hợp Miệt vườn :

Miệt vườn là “những vùng cao ráo đất g̣ ở ven sông Tiền, sông Hậu   có vườn cam, vườn quưt,  có  nguồn nguyên liệu dồi dào tại chỗ để chế biến những món ăn độc đáo in đậm chất phương Nam: cá lóc nướng trui, lươn, rắn nướng lèo, cá tai tượng chiên xù ăn cùng với các loại rau, hoa cỏ lạ như lá lụa, lá cách, lá săng máu, kèo nèo, bông điên điển, so đũa...Người Kinh không bao giờ lăng quên việc  chăm lo Miền   vườn , dù họ bận cày cấy ruộng sau:

                Mẹ mong gả thiếp về vườn,
               Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh

 

   B-  Sinh hoạt

Văn hóa Việt  thường đề cập đến các sinh hoạt sau đây:

  1-Vấn đề hôn nhân

.        Hôn nhân Việt  thật là  đa dạng

   a/  -   ai  định đoạt hôn nhân?

    1/-  Hôn nhân do cha mẹ định đoạt 

                       nơi sắc tộc Kinh và  Chàm

Nơi người Kinh,   việc hôn nhân  là do cha mẹ định đoạt, con cái không có quyền  định đoạt  mối lương duyên của ḿnh.  Khi cha mẹ ưng ư một người con gái nào hoặc v́ nết na, đảm đang hoặc v́ gia đ́nh  môn đương hộ đối, th́ nhờ người băng nhân điều đ́nh. 

Nơi người Chàm,   khi con trai tới tuổi kết hôn (ít nhất là 20 tuổi) bà mẹ sẽ t́m cô gái vừa ư để cưới cho con. Để đến được với nhau, họ phải có một quá tŕnh t́m hiểu hoặc có người làm mối.

     2/-  Hôn nhân  do trai gái quyết định

                      nơi  nhiều sắc tộc

      

Nơi người Dao, khi đôi trai gái quen nhau, mến nhau và họ đi đến quyết định xây dựng hạnh phúc lứa đôi th́ gia đ́nh trai sang nhà gái tiến hành thủ tục hỏi vợ cho chàng trai.

 

Nơi người Thái,   nếu muốn lấy vợ th́ con trai phải học thổi khèn bè để chiếm được  t́nh yêu  cô gái  nếu muốn có chồng, con gái phải luyện tai   để nghe t́nh yêu qua khèn bè; đâu là tiếng khèn bạn t́nh, đâu là tiếng khèn họ đang trèo cầu thang lên nhà, đâu là tiếng khèn gọi ḿnh ra ngồi đầu sàn nói chuyện cùng họ đêm trăng .

Khi đôi nam nữ yêu thương nhau qua tiếng khèn, ánh mắt, muốn lấy nhau, th́ Hôn nhân  mới tiến hành .Mẹ đẻ và một vài bà trong họ đến nhà cô gái xin cho con trai ḿnh được đi lại để t́m hiểu.

Nơi người  M'nong  Preh   - Tây Nguyên, khi chàng trai t́m được cô gái vừa ư, chàng tặng cô gái cái lược, một chuỗi hạt hoặc một ṿng đeo tay để làm tin. Sau đó chàng trai về thông báo cho bố mẹ và xin ư kiến. Nếu đồng ư, bố mẹ chàng trai sẽ nhờ ông mối mang lễ vật đến  nhà gái. 

   3/-  Vai tṛ người mai mối trong hôn nhân 

Hôn nhân  dù do  cha mẹ  định đoạt hay do trai gái  định đoạt  th́  cuối cùng  khi tiến hành  người ta  vẫn  cần người băng nhân  ( tức người làm mối) giữa hai họ.

 

Trường hợp   sắc dân  Kinh,  và các sắc dân khác

   Người mốii đến  để hỏi tên người con gái , so tuổi trai gái xem có hợp nhau không, thay mặt nhà trai bàn bạc với nhà gái v lễ dạm hỏi, về món tiền và lễ vật thách cưới .

Trường hợp sắc dân  Mường, người mai mối  đóng vai chủ chốt  trong thủ tục hôn nhân. Họ là người giao tiếp chính với nhà gái. Họ  phải là người đứng tuổi, có uy tín, được nhiều người kính nể, đông con nhiều cháu, nói chuyện khéo léo, có tài ứng đáp. Họ mang lễ  vật đến nhà cô gái để chính thức ngỏ lời. Nhà gái ra cổng mời họ vào và thết đăi họ. Họ dắt chàng rể và phù rể đi đến bàn thờ lạy tổ tiên nhà gái, rồi quay ra chào mọi người. Họ dẫn đại diện nhà trai lên trao lễ vật cho đại diện nhà gái. Họ đem một cút rượu nhỏ cùng cơi trầu đến xin nhà gái mở lối cho đoàn đón dâu v nhà trai

 

b/-   Chế độ hôn nhân

            khác biệt giữa hôn nhân phụ hệ  và  hôn nhân mẫu hệ

 

   - Đám cưới theo chế độ phụ hệ   ( sắc dân Kinh)

 Ngày đón dâu th́ vào giờ hoàng đạo, họ nhà chú rể mặc quần áo đẹp thành đoàn đến nhà gái,  người chủ hôn đi đầu..  Người chủ hôn là  người cao tuổi mà vợ chồng song toàn, con cháu đông đức, mặc lễ phục, bưng quả hộp đựng trầu cuới và tư trang của cô dâu, mở lối, rồi đến các người dâng lễ, sau đến chú rể cùng hai người phù rể, sau mới là cha mẹ và họ nhà trai.  Tới nhà gái, vị chủ hôn rồi đến chú rể vào làm lễ gia tiên, đoạn người ta mới đặt hương án ra giữa sân cho cô dâu chú rể  làm lễ tơ hồng.  Xong lễ tơ hồng, chú rể vào mừng cha mẹ vợ rồi cùng họ hàng ăn ưống.  Ăn uống đoạn mới rước dâu về.  Trước khi rước dâu, cô dâu chú rể đến trước bàn thờ gia tiên, xin tổ tiên chấp nhận cho nên vợ nên chồng, phù hộ cho trăm năm duyên ưa phận đẹp,cầm sắt giao ḥa, rồi đến làm lễ tạ ông bà và cha mẹ. Cô dâu cung kính thưa: " Xin phép ông bà cha mẹ  con về nhà chồng".  Cha mẹ ông bà cho quà kỷ niệm.  Khi đưa dâu , nhà gái chọn một  người cao tuổi cầm bó hương đi trước  rồi họ hàng  dẫn cô dâu theo sau, có hai phù dâu đi bên cạnh.  Đến nhà trai, một bà dẫn cô dâu vào làm lễ gia tiên rồi đến lễ cha mẹ chồng. Khi vào buồng cưới, cô dâu phải bước qua một chiếc hỏa ḷ than hồng để xua đuổi tà khí. Đến tối hôm động pḥng, người chồng lấy trầu lễ tơ hồng trao ½ cho vợ, rót một chén rượu uống ½ c̣n một ½ kia trao cho vợ uống: đó là lễ hợp cẩn.  Ba ngày sau, hai vợ chồng trở về nhà vợ  làm lễ tứ hỷ hay lại mặt rồi hai vợ chồng đi chào họ hàng nhà vợ. Sau lễ cuối cùng  này, trở về nhà chồng. Từ đấy người vợ không c̣n quan hệ mật thiết đến gia tộc của ḿnh nữa. ( nữ nhân ngoại tộc).

 

      -C̣n Đám cưới  theo chế độ  mẫu hệ   ( sắc dân Chăm)

   Giai đo ạn 1:    Đến nhà  trai xin rể  với Lễ vật: 

-         -Trầu cau , Rượu cần , một cái nồi đồng

          -Hai chiếc ṿng (một nam, một nữ) ,  một  chiếc kiềng bạc

Nhà trai cho người ra đón và dẫn về nhà chú rể       

Tại nhà chú rể:

Hai bên làm lễ trao ṿng, ṿng nam khắc 7 dấu, ṿng nữ khắc 3 dấu, để ràng buộc   quan hệ vợ chồng không được kết hôn với người khác;  kế tiếp, mẹ chồng cầm chiếc kiềng bạc đeo vào cổ con dâu và trao cho đôi vợ chồng chiếc nồi đồng.  Xong lễ, hai bên uống rượu, tṛ chuyện .

Sáng hôm sau, đoàn người nhà gái cùng nhà trai về nhà gái để làm lễ ra mắt tổ tiên.  Rồi

vài tháng hoặc một hai năm  sau, th́ tổ chức lễ cưới chính thức. 

 

Lễ cưới chính thức,   Chú rể được rước đưa sang nhà gái.

Họ nhà trai quần áo chỉnh tề, chuẩn bị đưa chú rể trong bộ lễ phục truyền thống.  Khi chú rể bước xuống cầu thang nhà ḿnh  (nhà trai) để  ra đi, mọi người hát: Xin cha mẹ tha thứ, con từ giă cha mẹ."

 Nếu chú rể ( người Chăm) theo Hồi giáo th́ họ nhà trai  đưa chú rể  đến thánh đường làm lễ.  Trên đường đi, dàn kèn trống nổi lên những điệu nhạc nghe thật vui tai.   Đến thánh đường , vị thầy Cả  dạy bảo chú rể   bổn phận làm chồng .

Từ thánh đường, đám đông đưa chú rể đến nhà cô dâu

Nếu chú rể ( người Chăm) thuộc cộng đồng ngoại Giáo, th́ đám đông đưa chú rể đến  thẳng nhà cô dâu. Ở nhà cô dâu, thầy cúng bốc gạo văi lên trời gọi Giàng trời, Giàng  đất, Giàng  ông bà về chứng kiến ngày hợp thành vợ chồng của đôi trai gái.

 

  Khi chú rể bước tới chân cầu thang nhà gái, các bà đàng gái bưng nước rửa chân cho chú rể và trải khăn trắng mời chú rể bước vô nhà.    Cô dâu trong trang phục cưới truyền thống, ngồi trên chiếc giường cưới chờ chú rể. Chú rể bước đến ngồi cạnh cô dâu.  bên chén rượu.

Lúc này nhà gái xả heo thịt, đem nấu các món ăn, rượu hút ra, cô dâu chú rể cầm đi mời khách uống làm phép. Sau đó, cô dâu, chú rể ngồi vào chiếc chiếu trải cạnh chén rượu để trao rượu cho họ hàng đôi bên. Từ đây, cha mẹ chồng gocô dâu"Nghê", em chồng xưng hô với chị dâu là "Ai".

Trên đầu cô dâu lúc này có giắt ba chiếc trâm, chú rể sẽ rút chiếc trâm dài nhất ở giữa đặt vào tay cô dâu, hành động này nhằm khẳng định nàng bây giờ đă là vợ của chàng. Người vợ lấy trầu têm một miếng để vào miệng chồng. Người chồng quấn lên ḿnh vợ một phần của chiếc áo ḿnh thể hiện sự ân cần chăm sóc của người vợ đối với người chồng và hạnh phúc mà người chồng sẽ mang đến cho vợ

 
 

Bữa cơm của đôi tân hôn: Mâm cơm có 1 dĩa cơm, 1 dĩa thức ăn.  Bấy giờ  bốn phụ nữ có gia đ́nh hạnh phúc nói lời chúc mừng và đôi vợ chồng trẻ sẽ cùng bốc ăn chung. Sau đó chú rể thay bộ đồ do cô dâu tặng để ra ngoài tiếp khách bên nhà vợ,. Cô dâu cũng ra ngoài theo cô hoặc d́ của chồng đến vái chào các bà trong họ nhà chồng (những người phụ nữ này tới nhà gái trước khi đoàn đưa rể đến) và họ hàng nhà ḿnh.

Trong  tiệc cưới,    cha mẹ cô dâu  tiếp đăi khách, người cha  tiếp khách  đàn ông, bà mẹ tiếp khách  đàn bà.  Để chia vui, khách mời sẽ tặng lại một phong b́ đựng tiền. Rồi mọi người lại cầu nguyện và tiệc mặn được dọn lên.Trước khi ăn, có một người xách một ấm nước và một cái thau nhỏ đến trước mặt từng khách rót nước cho khách rửa tay. Thức ăn chỉ có một món duy nhất đó là cơm trắng ăn với cà ri ḅ và dưa chua (củ hành, củ kiệu, gừng, cải đỏ và cải trắng) và muối tiêu chanh.

Bữa tiệc của họ kết thúc nhanh chóng, chứ không ồn ào và kéo dài như tiệc cưới của người Kinh.

Sau lễ cưới

 Sau lễ cưới một ngày,  gia đ́nh nhà gái tổ chức cho vợ chồng đi bắt cá. Trong ngày đó, nếu vợ chồng bắt được nhiều cá th́ sau này làm ăn gặp nhiều may mắn, giàu có, con cái khôn ngoan, vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc.

 

Sau lễ cưới ba ngày, hai vợ chồng về lại nhà trai làm lễ đạp tro nhà chồng. Lúc này nhà trai mổ heo, làm gà, nhắc rượu mời họ hàng, người thân và những người trong buôn để chung vui, đồng thời tiễn người con trai về ở nhà vợ. Dịp này nhà trai trao cho vợ chồng của hồi môn.

 
   

        2- Vấn đề   Văn Ngh

                      Văn Nghệ rất đa  dạng :

 

      a/-    Đa dạng theo Miền

 

  Miền Bắc nổi bật  Hát  Quan Họ, Hát Xẩm, Hát Trống Quân và Hát Ca Trù  ( cũng gọi là Hát  Ả Đào) ,  Miền Trung  nổi bật  Hát  Bội, c̣n Miền Nam nổi bật Hát  Cải lương   và  Hát  Vọng Cổ.

 

 Hát Quan Họ  (Miền Bắc)

        có nhiều giọng, nhưng có 3 giọng chính

 -1/-Giọng  Sổng :  

      hát dạo đầu, tiếng hát ngắn, vút cao nghe đầm ấm, nồng nàn, ướm hỏi ḷng nhau                     

 -2/-Giọng vặt:    hát  tỏ t́nh  gắn bó         

 -3/-Giọng Bỉ    

         - hát để chia tay.   Giọng ngân dài, nói lên s phân ly luyến tiếc

         -Chào tạm biệt:         Người  ơi !  người ở đừng về!

                                              Người về em vẫn khóc thầm

                                     Đôi bên vạt áo ướt đầm như mưa

 

  Hát Bội  (Miền Trung)

     Cái tên hát bội xuất phát từ việc các diễn viên phải bội thêm  lên người cờ phướng, mũ măo cầu kỳHát bội c̣n có tên là hát bộ, tức chỉ các diễn viên hát phải kèm các cử chỉ, điệu bộ để lột tả vai đào kép”, . Đào tức chỉ người diễn là nữ, c̣n kép là nam,   Hai từ đó xuất hiện từ hát bội mà ra

Điều đặc biệt nhất để phân biệt hát bội với các nghệ thuật khác, đó là việc mang trên người các trang phục, trang sức và trang điểm vô cùng cầu kỳ.

Cách trang điểm, tô vẽ trên gương mặt, từ h́nh dáng đến màu sắc, cả trang phục, điệu bộ, cử chỉ đều được quy định rơ ràng. Người xem chỉ cần nh́n vào nhân vật là có thể biết được diễn viên diễn vai ǵ:

   Hóa trang của Hát Bội  như sau:

* mặt

Màu đỏ: nhân vật là người thẳng thắn, trí dũng, nghĩa khí, trung liệt.

– Màu trắng: nhân vật có diện mạo đẹp, thư sinh, nhu ḿ, trong sáng.

– Màu xanh da trời: nhân vật này chưa biết tốt hay xấu nhưng rất mưu mô, xảo quyệt, ngông nghênh.

– Màu lục: nhân vật dạng này không chung thủy, trước sau không đồng nhất ư kiến.

– Màu vàng và bạc:  nhân vật các nhà tu hành, thần tiên.

– Trắng mốc, xám, hồng lợt, vỏ cua:  là vai nịnh thần, gian thần.

– Mặt thật, má hồng:  các vai trung thần.

 -Mặt vằn vện đen, trắng:  nhân vật có tính bộc trực, nóng nảy.

– Mặt vằn vện có xen màu đỏ:  yêu ma quỷ quái.

* Lông mày:

– Lông mày trắng: thần tiên, người cao tuổi.

– Lông mày mềm mại, đơn giản: Người hiền.

– Lông mày uốn lượn, bay múa: người đắc ư, kiêu ngạo.

– Lông mày thẳng dốc hoăc có viền đỏ: người nóng tính.

– Lông mày cau có: Người hay trầm tư, sầu muộn.

– Lông mày ngắn: kẻ gian xảo, xu nịnh.

*Râu:

– Xanh/đen dài:  quan văn.

– Trắng/bạc dài:  vai lăo vơ.

– Râu bắp màu hung đỏ:  vai yêu ma.

– Râu đỏ: tướng phiên (tức tướng ngoại bang).

– Râu đen ngắn:  kép núi.

– Râu bạc ngắn:  quan văn trung.

– Râu 3 hoặc 5 chồm, xuông dài là vai đôn hậu, trầm tĩnh, quư phái.

– Râu đen xoắn là vai nóng tính, dữ dằn.

– Râu ngắn 3 cḥm dành cho các vai dân thường, nông dân, dân chài, tiều phu.

– Râu chuột là vai có tính cách bộp chộp, lanh chanh.

 

   Hát Cải lương  (Miền Nam)

 Hát Cải lương được nhiều người hâm mộ v́  rất dễ hiểu, lời văn giản dị, gần gũi với đời sống hàng ngày, nội dung của nó  đi sát với quần chúng, thích hợp với đời sống mộc mạc của người dân quê, người b́nh dân  của xă hội Việt..

 

 Điệu hát Cải lương là  điệu  Vọng Cổ.  Vọng Cổ  tồn tại  v́ phổ thông  và dễ đàn hát.

  Cấu trúc bài ca  Vọng Cổ

Tuy một bài vọng cổ có 6 câu nhưng ít khi có ai viết một bài với tất cả 6 câu.Thường thường những bài vọng cổ chỉ có khoảng 3 hay 4 câu.Câu 3 khó ca nên ít ai dùng. Câu 4 giống câu 1 . Một bài vọng cổ thông thường xử dụng các câu 1, 2, 4 và 5. Nói chung cách xếp đặt số câu trong một bài vọng cổ tùy vào hứng của tác giả .

Trước câu 1 và câu 4 có phần "Rao", "Nói lối". Có thể là một đoạn thơ, Ḥ, Hát Lư, một đoạn tân nhạc hay một bài cổ nhạc nhỏ như Lư Con Sáo, Ú Liu Ú Xáng, Tử Quy Từ, Lưu Thuỷ Hành Vân, v.v.

Trứớc khi bắt đầu câu 1 hay câu 4, có một đoạn ngắn cũng gọi là "Nói Lối". Phần này chỉ hát không đàn và khi ca sĩ chấm dứt xuống Ḥ th́ khán gỉa vỗ taỵ Ban nhạc phải đợi thời gian hai nhịp để cho khán gia, vỗ tay rồi mới vô đàn . Tuy đoạn này không bắt buộc nhưng thiếu đoạn này coi như bài vọng cổ mất hào hứng .

Ngoài ra trước các câu vọng cổ 2, 3, 5, 6 có thể thêm một vài câu thợ Đàn tự do chỉ "Rao" theo làn hơi của ca sĩ .

 
   

Dàn nhạc cải lương:

          1 trống ban, 1 song lang, 1 cặp năo bạt, 1 đồng la, 1 đàn c̣, 1 đàn gáo, 1 đàn ḱm, 1 đàn tam, 1 đàn đoản, 1 đàn tranh. Lại có thêm sáo, tiêu, kèn củn, kèn nàm. Sau này có thêm đàn độc huyền, đàn xến, ghi ta phím lơm (c̣n gọi là lục huyền cầm), tam thập lục, vi-ô-long, hạ uy cầm    Ghi-ta phím lơm có nhiều khả năng về cung bực, âm thanh trầm bổng lại có thể luyến láy do phím móc sâu. Từ 40 năm nay, ghi-ta phím lơm giữ vai tṛ chánh trong dàn nhạc cải lương, và mấy lúc sau này đàn ghi ta phím lơm có gắn điện.

   

    b/-    Đa dạng theo  Sắc tộc

 

     Các sắc dân Tây Nguyên :  

         nổi  bật về  Cồng Chiêng  trong c ác  Lễ hội Đâm trâu, Mừng nhà rông, Mừng lúa mới, Mừng đám cưới, Mừng được mùa, Bỏ mả... Cồng chiêng Tây nguyên là nơi tiết tấu và giai điệu gặp nhau. Mỗi nhạc công chơi một nốt và một mô h́nh tiết tấu, kết hợp lại thành bè, thành giai điệu.

 
 

   

   Sắc dân   Thái nổi tiếng với điệu múa x̣e.   

      Những cuộc tụ họp đông vui có thể múa xoè quanh đống lửa, quanh hũ rượu cần với sự tham gia đông đảo của già trẻ, trai, gái trong tiếng chiêng, tiếng trống rộn ràng.   Có tới 32 điệu xoè, nay chỉ c̣n giữ được một số điệu. Xoè ṿng sôi nổi bao nhiêu th́ xoè điệu nhẹ nhàng, tinh tế bấy nhiêu. Xoè nón th́ thật duyên dáng và hấp dẫn... Các cô gái Thái trong điệu xoè nón với chiếc nón trong tay lúc chạm vào lúc mở ra từ từ từng cánh như bông hoa trắng muốt. Có lúc nón lao nhanh trên đầu, lúc lại nhẹ nhàng quay trên vai, nghiêng nghiêng bên má, khi e thẹn xoay tṛn trước ngực rồi lại dập dờn như cánh bướm múa .

 
   

    Sắc dân Mường nổi tiếng với điệu Múa sạp

Đạo cụ cần thiết cho múa sạp phải có hai cây tre to, thẳng và dài làm sạp cái và nhiều cặp sạp con bằng tre nhỏ hay nứa (đường kính 3 đến 4 cm, dài 3 đến 4 m). Khi múa, người ta đặt 2 sạp cái để cách nhau vừa đủ để gác hai đầu các cây sạp con, từng cây sạp con đặt song song, cách đều nhau chừng hai gang tay tạo thành dàn sạp. Người múa chia ra một tốp đập sạp và một tốp múamỗi tốp có thể từ vài cặp trai gái đến nhiều cặp, càng nhiều, đội h́nh càng phong phú sinh động

   Sắc dân H Mông nổi tiếng với điệu Múa khèn điệu múa của nam giới, rất độc đáo, có tinh thần thượng vơ, tính cách mạnh mẽ, dũng cảm, nhanh nhẹn, khéo léo, tài hoa với nhiều yếu tố nghệ thuật và kỹ thuật cao, phải vừa thổi khèn vừa múa mà không được để khèn ngắt quăng. 

    Sắc dân   Kinh nổi tiếng với điệu Múa lân-sư tử -rồng

  Múa lân-sư tử -rồng là một  điệu  múa dân gian đường phố có nguồn gốc từ Trung Hoa, thường được biểu diễn trong các dịp lễ hội, đặc biệt là Tết Nguyên Đán và Tết Trung Thu, v́ ba con thú này tượng trưng cho thịnh vượng, phát đạt, hạnh phúc. Tùy theo không gian rộng hay hẹp, tùy theo ư nghĩa của dịp lễ hội, đội Lân-Sư-Rồng biểu diễn từng bài, từng cách múa cho phù hợp. Có thể phối hợp múa lân với sư tử, múa lân với rồng hoặc phối hợp cả ba thể loại với nhau.

 

                  

   Múa  Cổng Chiêng                                                 Múa Xoè

 
   

          

         Múa sạp                                               Múa lân-sư tử -rồng

  Bài biên soạn của PXK

 

 

Web Hit Counters