Bảo tồn và phát huy

TRANG CHỦ VỀ VĂN HÓA    SỬ KƯ ĐỊA DƯ ĐỊA DANH LỊCH SỬ
 SẮC DÂN VIỆT XĂ HỘI  VIỄT GIA Đ̀NH VIỆT VĂN HỌC MỸ THUẬT
PHONG TỤC VIỆT TÍN NGƯỠNG VIỆT GIÁO DỤC&DẠY CHỮ CÁC NGHỀ NGHIỆP CÁC LỄ HỘI
Y &TRANG PHỤC ẨM THỰC VIỆT Y & DƯỢC VIỆT VƠ & DƯƠNG SINH DU LỊCH
THUYẾT PHONGTHỦY LỊCH & TƯỚNG SỐ NIỀM TỰ HÀO NỖI LO ÂU VĂN NGHỆ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ban Biên  Tập

 

Phạm x.Khuyến

TrườngThy

 

Xuân Bích

 

Nguyễn

Lê Hiếu

 

HươngKiều Loan

 

Dươngvăn Phối

 

 

Đặng văn

Minh

 

PhạmLiên Anh

 

 

PhạmKim Liên

 

 

Trần v. Quang

 

Nguyễn A.Tuấn

 

 

        

Trang  Chủ: 

                   Văn Hóa Vùng Tây Nguyên

 

 

Vùng Tây Nguyên  Việt Nam cũng gọi là Cao nguyên Trung phần Việt Nam bao gồm 5 tỉnh, xếp theo thứ tự vị trí địa lư từ bắc xuống nam gồm Kon Tum, Gia Rai, Đắk Lắk, Đắk Nông Lâm Đồng.

Bắc Tây Nguyên : Kon Tum và Gia Rai,

 Trung Tây Nguyên :   Đắk Lắk và Đắk Nông

 Nam Tây Nguyên :Lâm Đồng

  I-    Khái quát về Vùng Tây Nguyên

Tây Nguyên phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía đông giáp các tỉnh Quảng Ngăi, B́nh Định, Phú Yên, Khánh Ḥa, Ninh Thuận, B́nh Thuận, phía nam giáp các tỉnh Đồng Nai, B́nh Phước, phía tây giáp các tỉnh Attapeu (Lào) và Ratanakiri Mondulkiri (Campuchia).

Đường biên giới chung  Việt  Nam-  Lào- Campuchia  qua các tỉnh  Kon tum  Gia Rai, Đắk Lắk Đắk Nông  được bao bọc bởi những dăy núi và khối núi cao Trường Sơn Nam.

  1-  Rảo qua lịch sử vùng Tây Nguyên

  - Chiêm Thành     vào   thế kỷ 12  sau khi đánh bại nước  Chân Lạp,  đô hộ toàn vùng Tây Nguyên

 -Vua Lê Thánh Tông vào năm 1471   sau khi  phá được thành  Đồ Bàn  và bắt được vua  Chiêm Thành  là Trà Toàn, th́  tách miền bắc Tây Nguyên khỏi Chiêm Thành thành lập nước Nam Bàn

 -  Vào Tây Sơn (1771-1786),  ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ Nguyễn Lữ đồng minh với các bộ tộc vùng bắc Tây Nguyên nhằm tạo một hậu cứ vững chắc, đồng thời mộ quân và tài lực phục vụ cho chiến tranh. Nhờ vậy, cuộc khởi nghĩa  thành công.   Miền bắc Tây Nguyên trở thành hậu cần và một người vợ của Nguyễn Nhạc   thuộc dân tộc Ba Na.

  - Các giáo sĩ Thiên chúa giáo  vào  những  năm 1840--1850   truyền đạo  miền bắc Tây Nguyên .   Hai linh mục Pháp và 7 thầy giảng người Việt  đặt cơ sở tôn giáo tại đây vào năm 1850. Hai trung tâm truyền giáo đầu tiên :Kon Kơ Xâm (do linh mục Combes phụ trách   truyền giáo bộ tộc Bahnar-Jơlơng) và Kon Trang (do linh mục Dourisboure phụ trách truyền giáo bộ tộc Sêđăng).

  -Bác sĩ Alexandre Yersin   vào  năm 1891   mở cuộc thám hiểm miền Nam Tây Nguyên và phát hiện ra cao nguyên Lang Biang.  Cao nguyên này chính  là Đà Lạt.  

  -Thực dân Pháp  vào   thời gian  1900-1917   đặt cơ sở hành chánh.   Năm 1900, Toàn quyền Paul Doumer đích thân thị sát Đà Lạt và quyết định chọn Đà Lạt làm thành phố nghỉ mát,.Năm 1907, thành lập các trung tâm hành chính Kontum và Cheo Reo, bắt đầu xây dựng các đồn điền.   Năm 1917, thị xă Đà Lạt được thành lập.

  -Thời   Việt Nam độc lập,  vào năm1945  chính phủ Trần Trọng Kim đổi tên cả  vùng Tây Nguyên  là Cao nguyên Trung Bộ.   Kể từ năm 1950 Quốc trưởng Bảo Đại đổi tên Cao nguyên Trung Bộ   là Hoàng triều Cương thổ. Tại vùng này th́ Quốc trưởng Bảo Đại vẫn giữ vai tṛ là Hoàng đế.

  -Thời   Việt Nam  Cộng Ḥa,  năm 1955 Chính phủ Ngô Đ́nh Diệm sát nhập Hoàng triều cương thổ  vào Trung phần và được gọi là vùng Cao nguyên Trung phần

    2-     Điạ Chất  vùng Tây Nguyên

 Tây Nguyên đất đỏ bazan ở độ cao khoảng 500 m đến 600 m so với mặt biển, Tây Nguyên rất phù hợp với những cây công nghiệp như cà phê, ca cao, hồ tiêu, dâu tằm. Cây điều cây cao su

Tây Nguyên có trữ lượng bô xít khoảng 8 tỉ tấn. theo tài liệu của Liên Xô để lại.    Chính phủ  Cộng Sản giao cho  các nhà  thầu Trung Quốc khai thác.   Hậu quả của Bauxit sẽ làm  nhiễm độc môi trường sinh sống của cả miền Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ .

Kon Tum: khoáng sản như sắt, crôm, vàng, nguyên liệu chịu lửa, đá quư, bán quư, kim loại phóng xạ, nhiều gỗ quư như cẩm lai, dáng hương, pơ mu, thông

Đắk Lắk:  khoáng sản: như  sét cao lanh, sét gạch ngói, Vàng, phốt pho, than bùn, đá quư

  3-   Khí hậu vùng Tây Nguyên

Tây Nguyên gió mùa được chia làm hai mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến hết tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, trong đó tháng 3 và tháng 4 là hai tháng nóng và khô nhất. Do ảnh hưởng của độ cao nên trong khi ở các cao nguyên cao 400–500 m khí hậu tương đối mát và mưa nhiều, riêng cao nguyên cao trên 1000 m th́ khí hậu lại mát mẻ quanh năm, đặc điểm của khí hậu núi cao.

   4-   Dân số  vùng Tây Nguyên

  VùngTây Nguyên  gồm  5 tỉnh có số  dân vào khoảng 5.282.000 người  theo tài liệu  năm 2011.    Cư dân thuộc các dân tộc:        Gia Rai, Bana, Ê dê, M’nong ,  Cơ Ho, Mạ, Nùng, Xơ đang  Tày, Thái, Mường, Dao, Gié Triêng   Hoa, Chu ru,    Brâu, Rơ Măm. Hrê, Kinh .   Mỗi dân tộc gắn với một vùng cư trú khác nhau.

 
 

  

II- Dân  bản địa lâu đời của vùng Tây Nguyên

Vùng Tây Nguyên  có rất nhiều dân tộc  trong 54 dân tộc Việt, tuy nhiên có 5 dân tộc bản địa  sống lâu đời hàng chục thế kỷ, đó là các dân tộc sau đây:    Bana, Gia Rai, Ê dê, Mnong, Cơ Ho, Mạ

Đối v ới xă hội cổ truyền  của dân bản địa, th́ Làng (Kon,  Bon)  là một  bản vị  duy nhất   do một già làng đứng đầu. Mỗi làng thường có vài chục nóc nhà. Về quyền lợi kinh tế, già làng cũng giống như mọi thành viên khác của làng nhưng về mặt tinh thần, có uy tín gần như tuyệt đối .Già làng là hiện thân của truyền thống và là một yếu tố tinh thần đưa đến sự thống nhất của cộng đồng.    Ngoài  làng ra, họ không có  một  bản vị chính quyền liên minh cao hơn. Đất rộng người thưa, cách biệt với bên ngoài bởi rừng rậm và núi non hiểm trở.  Nơi sinh hoạt cộng đồng là Nhà Rông.    Có thễ nói Nhà Rông  là  biểu tượng của đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống ở Tây Nguyên

Vẻ đẹp Kon Tum qua các địa danh nổi tiếng

  (Xin coi video về    các dân tộc  Tây Nguyên : click  Tây Nguyên)

 1--Người  Bana Giarai

Hai dân tộc Bana, Gia Rai sống ở hai tỉnh   Kon tum và  Gia Rai. Người Bana sống ở Kontum nhiều hơn, c̣n người Gia Rai  sống ở  tỉnh   Gia Rai nhiều hơn.  Hai dân tộc này về văn hóa có những điểm giống nhau  và có những điểm khác nhau , tuy nhiên  giống  nhau th́ nhiều hơn

Giống nhau 

Họ giống nhau   về  nhiều điểm.

Về chủng tộc, họ  cùng thuộc nhóm chủng tộc Austronesia  trong ngữ hệ Nam Đảo.   Tuy nhiên họ  tiếng nói riêng

 

Về nhạc cụ  họ  : Cồng chiêng, Đàn đá, Đàn K'ni, K'lông pút, Đàn Goong, T'rưng, Alal..

.

Về lễ hội họ  có: Lễ hội đâm trâu, Lễ ăn cơm mới, Lễ bỏ mả..

 

Về đặc sản thực phẩm họ  có  Rượu cần, Cơm cháy - Rượu nếp, Phở khô (Loại phở hai tô)

 

Ở mỗi làng có một nhà công cộng là nhà Rông ở giữa làng. đó là trụ sở của làng, nơi  làng họp bàn việc công, nơi dân làng hội họp, nơi trai chưa vợ và góa vợ ngủ đêm, nơi tiến hành các nghi lễ phong tục của cộng đồng và cũng là nơi tiếp khách lạ vào làng

 

Về Nhà ở họ  có loại h́nh nhà sàn. Trước đây khi chế độ gia đ́nh lớn c̣n thịnh hành,  thường có những căn nhà dài hàng trăm mét, tuy nhiên hiện nay chế độ gia đ́nh lớn không c̣n nữa, mô h́nh các gia đ́nh nhỏ với những căn nhà sàn gọn gàng xuất hiện ngày càng nhiều. Nhà sàn ngắn của các gia đ́nh nhỏ là phổ biến. Nhà sàn thường dài từ 7m đến 15m, rộng từ 3m-4m, cao từ 4m-5m, sàn cách mặt đất khoảng 1m đến 1,5m

Nhà sàn cho mỗi gia đ́nh một vợ một chồng mẫu hệ, loại nhà sản nhỏ, mở cửa chính nh́n về hướng Bắc.  Đặc điểm là nhà nóc h́nh mai rùa hoặc nhà có hai mái chính với hai mái phụ h́nh khum - dấu vết của nóc h́nh mai rùa. Chỏm đầu dốc có "sừng" trang trí với các kiểu khác nhau tùy theo địa phương. Vách che nghiêng theo thế "thượng thu hạ thách". Có nhà, cột xung quanh nhà cũng chôn nghiêng như thế vách. Thang đặt vào một sàn lộ thiên trước cửa nhà. Trên sàn này người ta đặt cối giă gạo (cối chày tay). Điểm đáng chú ư là dưới đáy cối có một cái "ngơng". Khi giă gạo người ta cắm cái ngơng ấy vào một cái lỗ đục trên một thanh gỗ đặt trên sàn.Nhà tre vách nhưng có thêm lớp đố, bên ngoài buộc rất cầu kỳ như là một lớp trang trí.  Bộ khung nhà kết cấu đơn giản. Có làm v́ kèo nhưng vẫn trên cơ sở của v́ cột.

Về Kinh tế, họ  giống nhau về chăn nuôi trâu ḅ, voi, lợn,.  săn bán và hái lượm chủ yếu là trồng rẫy. Công cụ canh tác của người Gia Rai giản đơn, chủ yếu là con dao chặt cây, phát rừng, cái cuốc xới đất và cây gậy chọc lỗ khi tra hạt giống. bắp và đậu

Đàn ông thạo đan lát các loại gùi, giỏ, đan chiếu, lưới ;   đàn bà giỏi dệt khố váy, mền đắp, vải may áo cho gia đ́nh

Hầu như mỗi làng đều có ḷ rèn. Một số nơi biết làm đồ gốm đơn giản.. Việc mua bán theo nguyên tắc hàng đổi hàng, xác định giá trị bằng gà, ŕu, gùi thóc, lợn hay nồi đồng, ché, chiêng, cồng, trâu v.v..

Về Trang phục

Trang phục nam: áo chui đầu, cổ xẻ. áo cộc tay, thân áo có đường trang trí sọc đỏ chạy ngang, gấu áo màu trắng. khố h́nh chữ T , luồn qua háng rồi che một phần mông. rét, họ mang theo tấm choàng. búi tóc giữa đỉnh đầu hoặc để xơa. khăn chít theo kiểu đầu ŕu. Trong dịp lễ bỏ mả, họ thường búi tóc sau gáy và cắm một lông chim công. Nam cũng thường mang ṿng tay bằng đồng.

Trang phục nữ: tóc ngang vai, có khi búi và cài lược hoặc lông chim, hoặc trâm bằng đồng, thiếc.

Có nhóm không chít khăn mà chỉ quấn bằng chiếc dây vải hay ṿng cườm. Có nhóm như ở An Khê, Mang Giang hoặc một số nơi khác họ chít khăn trùm kín đầu, khăn chàm quấn gọn trên đầu. Trước đây, họ đội nón h́nh vuông hoặc tṛn trên có thoa sáp ong để khỏi ngấm nước, đôi khi có áo tơi vừa mặc vừa che đầu. Họ thường đeo chuỗi hạt cườm ở cổ và ṿng tay bằng đồng xoắn ốc dài từ cổ đến khủy tay (theo kiểu h́nh nón cụt). Nhẫn được dùng phổ biến và thường được đeo ở hai, ba ngón tay. Tục xả tai phổ biến vừa mang ư nghĩa trang sức vừa mang ư nghĩa tín ngưỡng của cộng đồng. Hoa tai có thể là kim loại, có thể là tre, gỗ. Tục cà răng mang theo quan niệm của cộng đồng hơn là trang sức.

 Phụ nữ  mặc áo chủ yếu là loại chui đầu, ngắn thân và váy. Áo có thể cộc tay hay dài tay. Váy là loại váy hở,

. Quanh bụng c̣n đeo những ṿng đồng và cài tẩu hút thọc vào đó.

Về Phương tiện vận chuyển: Gùi có hai dây đeo qua vai là h́nh thức phổ biến. Ngoài ra có ngựa, voi để thồ và cưỡi. Voi c̣n dùng để kéo

 Về Tín ngưỡng:   Người Gia-rai v à Bana theo vạn vật hữu linh, suy tôn nhiều vị thần.

Khác nhau

Về tạo h́nh áo váy, người Ba Na không có ǵ khác biệt mấy so với dân tộc Gia-rai hoặc Ê-đê. Tuy nhiên, nó khác nhau ở phong cách mỹ thuật trang trí hoa văn, bố cục trên áo váy của người Ba Na. Theo nguyên tắc bố cục dải băng theo chiều ngang thân người, dân tộc Ba Na dành phần chính ở giữa thân áo và váy với diện tích hơn một nửa áo, váy cũng như hai ống tay để trang trí hoa văn (chủ yếu là hoa văn với các màu trắng đỏ), nền chàm c̣n lại của áo váy không đáng kể so với diện tích hoa văn. Thắt lưng váy được dệt thêu hoa

Về Số dân:

 Người Gia Rai 411.275 người (Tổng cục Thống kê năm 2009).

Ngôn ngữ và chữ viết: ngữ tộc Malay-Polynesia tiếng Gia Rai,. một ngôn ngữ thuộc phân nhóm ngôn ngữ Chăm .Người Gia Rai.  đă có một tổ chức xă hội tiền nhà nước với hai vua: vua Nước và vua Lửa[4], c̣n được gọi là Tiểu quốc Jarai.

Người Ba Na  227.716 (2009)

Ngôn ngữ và chữ viết: ngữ tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me Tiếng nói  

Về kinh tế

 Người Gia Rai hiện nay đă làm ruộng nước; lúa tẻ là cây lương thực chính. Gạo tẻ là lương thực chính. Muối ớt là món không thể thiếu trong bữa ăn.Người Gia Rai có đàn ngựa khá đông. Người Gia Rai c̣n thuần dưỡng và nuôi cả voi.

Về Hôn nhân gia đ́nh

Dân tộc Gia Rai  theo truyền thống mẫu hệ, phụ nữ tự do lựa chọn người yêu và chủ động việc hôn nhân. . Việc cưới xin trải qua nhiều thủ tục và lễ cưới được tiến hành ở cả hai gia đ́nh   Sau lễ cưới, chàng trai về ở nhà vợ, không được thừa kế tài sản. Trái lại, con gái lấy chồng lần lượt tách khỏi cha mẹ ra ở riêng, được phân chia một phần tài sản. Con cái đều theo họ mẹ. Ngoài xă hội, đàn ông đóng vai tṛ quan trọng hơn, nhưng trong nhà phụ nữ có ưu thế hơn. Ngày xưa, có tục những người cùng ḍng họ (theo phía mẹ), khi chết chôn chung một hố, nay tục này đă giảm

Dân tộc Ba Na : tuy theo truyền thống mẫu hệ, nhưng   vợ chồng trẻ ở luân phiên mỗi bên một thời gian,  sau khi sinh con đầu ḷng mới làm nhà riêng.. Rất ít trường hợp li dị. Nam nữ thuộc họ gần trong ṿng ba đời của một ông bà tổ, bao gồm cả bên cha và bên mẹ,. tuyệt đối không hôn nhân..  Phong tục của người Ba Na khuyến khích trai gái khác ḍng họ kết hôn với nhau..Nếu mắc tội loạn luân,    làng xử phạt rất nặng v́ trái với đạo đức, khiến thần linh nổi giận trừng phạt làngNếu t́nh cảm sâu nặng mà không đi đến hôn nhân, không thủ tục cưới hỏi th́ làng th́ bắt vạ một con dê, một con ḅ, hoặc một con gà.

Sau khi người mẹ chết, nếu bố lấy vợ mới, con cái thường không ở với bố và mẹ kế mà về sống với ông bà nội..

Các con được thừa kế gia tài như nhau. Trong gia đ́nh, mọi người sống ḥa thuận b́nh đẳng.

 2: Người Ê Đê và M'nông

Trong những dân tộc bản địa định cư lâu đời ở Đắk Lắk, Đắk Nông , th́  dân tộc Ê đêM'nông có số dân đông nhất, có nền văn hóa giàu bản sắc truyền thống:thành thạo nghề dệt thủ công, làm được các loại sản phẩm thổ cẩm thông thường như áo, váy, khăn choàng, áo gối, túi xách...các loại nhạc cụ dân tộc như đàn T’Rưng, đàn Goong, đàn Krông But.

 Các lễ hội của họ gồm có:    Sa Peng chu, lễ cầu mưa, cúng bến nước, lễ M’gắp Bon, mừng lúa mới, mừng cơm mới, vào nhà mới, lễ cúng sức khỏe, chúc phúc dân tộc Ê Đê, M’Nông mỗi khi tổ chức lễ hội là có âm thanh của cồng chiêng và có hoạt động văn nghệ cộng đồng.

  Dân tộc Ê Đê

Dân số   330.348 người ở đất Việt.  Riêng ở   Đắc Lắc 298.534 người

  Nguồn gốc  của họ từ Mă Lai (Malays) thuộc các hải đảo Thái B́nh Dương đă có mặt lâu đời ở Đông Dương, chuyển cư vào miền trung Việt Nam hàng ngàn năm trước, và di cư lên Tây Nguyên khoảng sớm nhất vào cuối thế kỷ 8 đến thế kỷ 15.,  cư trú tập trung ở tỉnh Đắk Lắk.

 

Tiếng nói của họ   thuộc nhóm ngôn ngữ Mă Lai-Polynesia (ngữ hệ Nam Đảo). tiếng Ê Đê c̣n vay mượn vốn từ vựng có nguồn gốc từ Môn -Khmer và một số từ vựng tiếng Pháp.

 Thông thường họ dùng từ Dam (nghĩa là Chàng) để đệm cho Nam giới như Dam Sam, Dam Điêt, Dam YiHơbia (nghĩa là Nàng) để đệm cho Nữ giới như HơBia Blao, HơBia Ju, HơBia Jrah Jan.

Người Ê Đê cũng là tộc người duy nhất ở Việt Nam đặt tên theo cấu trúc Tên trước Họ sau, có thể là kết quả ảnh hưởng của văn hóa Pháp.

Văn hóa:

Người Ê Đê có kho tàng văn học truyền miệng phong phú: thần thoại, cổ tích, ca dao, tục ngữ, đặc biệt là các  trường ca, sử thi . Người Ê Đê yêu ca hát, thích tấu nhạc .  Nhạc cụ có cồng chiêng, trống, sáo, khèn, Gôc, Kni, .    Đinh Năm, Đinh Tuốc là các loại nhạc cụ phổ biến của người Êđê và được nhiều người yêu thích.

Nhà cửa

 Nhà sàn người  Ê Đê có h́nh con thuyền dài, cửa chính mở phía trái nhà, cửa sổ mở ra phía hông. Bên trong nhà có trần gỗ h́nh ṿm giống hệt mui thuyền.

   Nhà sàn của người Ê Đê   thuộc loại h́nh nhà dài sàn thấp, thường dài từ 15 đến hơn 100 m tùy theo gia đ́nh nhiều người hay ít người.. nhà sàn của gia đ́nh lớn theo chế độ mẫu hệ.

 Bộ khung kết cấu đơn giản. Đặc  trưng của nhà người Ê Đê là: h́nh thức của cầu thang, cột sàn và cách bố trí trên mặt bằng sinh hoạt. Đặc biệt là ở hai phần. Nửa đằng cửa chính gọi là Gah là nơi tiếp khách, sinh hoạt chung của cả nhà dài, bếp chủ, ghế khách, ghế chủ, ghế dài (Kpan) (tới 20 m), chiếng ché,... nửa c̣n lại gọi là Ôk là bếp đặt chỗ nấu ăn chung và là chỗ ở của các đôi vợ chồng, chia đôi theo chiều dọc, phần về bên trái được coi là "trên" chia thành nhiều gian nhỏ. Phần về bên phải là hàng lang để đi lại, về phía cuối là nơi đặt bếp. Mỗi đầu nhà có một sân sàn. Sân sàn ở phía cửa chính được gọi là sân khách. Muốn vào nhà phải qua sân sàn. Nhà càng khá giả th́ sân khách càng rộng, khang trang.
 
   

Hôn nhân gia đ́nh

Trong gia đ́nh người Ê Đê, chủ nhà là phụ nữ, theo chế độ mẫu hệ, con cái mang họ mẹ, con trai không được hưởng thừa kế. Đàn ông cư trú trong nhà vợ. Nếu vợ chết và bên nhà vợ không c̣n ai thay thế theo tục nối dây th́ người chồng phải về với chị em gái ḿnh. Khi chết, được đưa về chôn cất bên người thân của gia đ́nh mẹ đẻ.Chỉ con gái được thừa kế tài sản, người con gái út được thừa kế nhà tự để thờ cúng ông bà và phải nuôi dưỡng cha mẹ già.

Đặc điểm kinh tế

Người Ê Đê làm rẫy là chính, riêng nhóm Bíh làm ruộng nước theo lối cổ sơ, dùng trâu dẫm đất thay việc cày, cuốc đất. Ngoài trồng trọt c̣n chăn nuôi, săn bắn, hái lượm, đánh cá, đan lát, dệt vải. Trên nương rẫy, ngoài cây chính là lúa c̣n có ngô, khoai, bầu, thuốc lá, , hành, ớt, bông.

Đặc điểm làm rẫy của người Ê Đê là chế độ luân khoảnh, tức là bên cạnh những khu đất đang canh tác c̣n có những khu đất để hoang để phục hồi sự mầu mỡ. Ngày nay người Êđê gắn ḿnh với sản xuất nông sản cây công nghiệp: cà phê, cao su, hồ tiêu, ca cao,...

Người Ê Đê c̣n  nuôi trâu, , voi. Họ c̣n tự làm ra đựơc đồ đan lát, bát đồng, đồ gỗ, đồ trang sức, đồ gốm
 
 

 

Trang phục nam

Nam để tóc ngắn quấn khăn màu đen nhiều ṿng trên đầu. Y phục truyền thống gồm áo khố  (Kpin),.

Áo có hai loại cơ bản:

 -  Loại áo dài trùm mông: Đây là loại áo khá tiêu biểu cho người Ê Đê qua trang phục nam, có tay áo dài, thân áo cũng dài trùm mông, có xẻ tả và khoét cổ chui đầu. Trên nền chàm của thân và ống tay áo ở ngực, hai bên bả vai, cửa tay, các đường viền cổ, nơi xẻ tà gấu áo được trang trí và viền vải đỏ, trắng. Đặc biệt là khu giữa ngực áo có mảng sọc ngang trong bố cục h́nh chữ nhật tạo vẻ đẹp, khỏe.lực lăm

 -Loại áo dài quá gối: Đây là loại áo dài quá ngối, có khoét cổ, ống tay b́nh thường không trang trí như loại áo dài trùm mông nói trên,...

Áo thường ngày ít có hoa văn, bên cạnh các loại áo trên c̣n có loại áo cộc tay đến khủy, hoặc không tay. Áo có giá trị nhất là loại áo Ktêh của những người quyền quư có dải hoa văn "đại bàng dang cánh", ở dọc hai bên nách, gấu áo phía sau lưng có đính hạt cườm. Nam giới cũng mang hoa tai và ṿng cổ.

Khố:     Khố có nhiều loại và được phân biệt ở sự ngắn dài có trang trí hoa văn như thế nào. Đẹp nhất là các loại ktêh, drai, đrêch, piêk, c̣n các loại bong và băl là loại khố thường.

Trang phục nữ

Phụ nữ Ê Đê để tóc dài buộc ra sau gáy. Họ mang áo váy trong trang phục thường nhật. Xưa họ để tóc theo kiểu búi tó và đội nón duôn bai. Họ mang đồ trang sức bằng bạc hoặc đồng. Ṿng tay thường đeo thành bộ kép nghe tiếng va chạm của chúng vào nhau họ có thể nhận ra người quen, thân.

Áo: Áo phụ nữ là loại áo ngắn dài tay, khoét cổ (loại cổ thấp h́nh thuyền) mặc kiểu chui đầu. Thân áo dài đến mông khi mặc cho ra ngoài váy. Trên nền áo màu chàm thẫm các bộ phận được trang trí là: cổ áo lan sang hai bên bả vai xuống giữa cánh tay, cửa tay áo, gấu áo. Đó là các đường viền kết hợp với các dải hoa văn nhỏ bằng sợi màu đỏ, trắng, vàng. Ngoài ra phụ nữ c̣n có áo lót cộc tay (áo yếm).

Váy: là chiếc váy mở (tấm vải rộng làm váy) quấn quanh thân. Cũng trên nền chàm, váy được gia công trang trí các sọc nằm ngang ở mép trên, mép dưới và giữa thân bằng chỉ các màu tương tự như áo. Đồ án trang trí tập trung hơn ở mép trên và dưới thân váy.. Váy có nhiều loại phân biệt ở các dải hoa văn gia công nhiều hay ít. Váy loại tốt là myêng đếch, rồi đến myêng đrai, myêng piêk. Loại b́nh thường mặc đi làm rẫy là bong. Hiện nay nữ thanh niên thường mặc váy kín.

Tôn giáo

Phần lớn người Ê Đê theo đạo Thiên Chúa Giáo .  Số người theo Tin Lành  nhiều hơn  Công giáo .  Đắc Lắc được coi là một trong những trung tâm đạo Tin Lành lớn nhất khu vực Đông Dương.. Một số ít theo Phật giáo tại các vùng đô thị chủ yếu là người Ê Đê kết hôn với ngươi Việt, người Hoa. Số c̣n lại vẫn theo nét tín ngưỡng cổ truyền, thờ cúng các thần hộ thân cho ḿnh.

 
 

 

Dân tộc M'Nông

 

Người M’Nông ở Việt Nam có dân số 102.741    Họ tập trung tại Đăk Lăk 40.344 người,   tại Đăk Nông 39.964 người

Dân tộc M'nông thuộc chủng Indonesian. Có tầm vóc trung b́nh, nước da ngăm đen, môi hơi dày, râu thưa, mắt nâu đen, tóc đen, thẳng. Một số chủng có tóc xoăn.Người M'Nông nói tiếng M'Nông, một ngôn ngữ thuộc ngữ tộc Môn-Khmer ,ảnh hưởng tiếng  tiếng Chăm, Ê Đê Gia Rai, là những ngôn ngữ thuộc nhóm Malay-Polynesia.  Họnhiều phương ngữ, nhưng chủ yếu là phương ngữ M'nông miền Đông và phương ngữ M'nông miền Tây .

 

Văn hóa

cách nấu cơm bằng những nồi đất nung, ăn món cháo chua vào bữa trưa. Khi đi làm rẫy, cháo chua thường được đựng trong vỏ quả bầu khô mang theo... Thức ăn thông thường là muối ớt., cá khô, thịt thú ăn được và các loại rau rừng...

Tập quán: ... Rượu cần, là một nhu cầu phổ biến đối với người M'nông. Nam, nữ, trẻ, già ai cũng thích rượu cần và thuốc lá cuốn...

Phong tục:   tục cà răng, căng tai , nhuộm răng đen và ăn trầu ......

Tục lệ ma chay:   ca hát, gơ chiêng trống bên áo quan suốt ngày đêm. Sau khi hạ huyệt, họ dùng cây, que và lá cây trải kín miệng hố rồi mới lấp đất lên trên. Qua 7 ngày hoặc một tháng, gia chủ làm lễ đoạn tang.

Các lễ hội: lễ hội Đâm trâu,   tết mừng lúa mới ,  lễ Cơm mới. Lễ hội thường diễn ra vào những ngày nông nhàn, mọi người được nghỉ ngơi,

 
   

Hôn nhân gia đ́nh

Chế độ mẫu hệ, họ mẹ, vợ giữ vị trí chính, nhưng Cha mẹ về già thường ở với con gái út. Sau lễ cưới, vợ chồng trẻ ở phía nào là tùy thỏa thuận giữa hai gia đ́nh. Người con trai thường ở bên nhà vợ. Con cái sinh ra đều theo ḍng họ mẹ và quyền thừa kế tài sản đều thuộc về những người con gái trong gia đ́nh

Người M'Nông phải cà răng mới được yêu đương lấy vợ lấy chồng. Phong tục cưới xin gồm 3 bước chính là dạm hỏi, lễ đính hôn, lễ cưới.   Người M'Nông thích nhiều con, nhất là con gái. Phong tục cũ sinh con sau một năm mới đặt tên chính thức.

 

 Nhà cửa

Người M'Nông có nhà trệt là chính, chân mái thường buông xuống gần đất, có kiến trúc mái cửa ṿm như cửa ṭ ṿ, trông rất đẹp mắt.

Nhà người M'Nông là  nhà dài, ảnh hưởng kiến trúc ngườ  Eđê. Thông thường, mỗi ngôi nhà là nơi cư trú của nhiều hộ gia đ́nh có quan hệ huyết thống về phía mẹ.

Đặc điểm kinh tế

Người M'Nông làm rẫy là chính, ruộng nước chỉ có ở vùng ven hồ, đầm, sông. Cây lương thực chính là lúa tẻ. Số lượng lúa nếp gieo trồng không đáng kể. Ngoài lúa ra, ngô, khoai, sắn cũng được họ trồng thêm trên rẫy để làm lương thực phụ và nhất là dùng cho chăn nuôi heo, gà. 

 Công cụ làm rẫy chủ yếu là: Chà gạc (Viêh), ŕu (sung), gậy chọc lỗ (Tak Rmul), cuốc, Wăng Êt (dụng cụ làm cỏ) và cào...

 Vật nuôi là trâu, chó, dê, lợn, gà : ḅ, , vịt chủ yếu là dùng vào các lễ hiến sinh tổ chức nhiều lần theo chu kỳ nông nghiệp cổ truyền...

Người M'Nông kinh nghiệm săn thú, và gài cạm bẫy bắt thú rừng, đ ặc biệt săn và thuần dưỡng voi rừng.  dùng làm phương tiện vận chuyển đường rừng rất hữu hiệu.

Ngoài  ra,  đàn ông đan lát các dụng cụ như gùi, giỏ, mùng.. đàn bà có dệt vải sợi bông.

 
 

 

Trang phục

đàn ông  đóng khố, áo chui đầu, hiện nay trang phục này giảm dần. Đàn bà mặc váy buông dài trên mắt cá chân. Khố, váy, áomàu chàm thẫm được trang trí bằng các hoa văn truyền thống, màu đỏ rất đẹp mắt.

Người M'nông thích mang nhiều đồ trang sức như: ṿng cổ, ṿng tay, ṿng chân, hoa tai, nhẫn bằng đồng hay bằng bạc.. Những chiếc ṿng đồng là cái mà hầu như người M'nông nào cũng có. Đó là kỷ vật của các lễ hiến sinh, hay lễ kết nghĩa anh em, bạn bè. Nó c̣n tượng trưng cho sự giao ước với thần linh thay lời hứa hôn của đôi trai gái theo tập quán cổ truyền của dân tộc   .Riêng nữ giới c̣n thích quàng lên cổ những chuỗi hạt cườm ngũ sắc

Tập quán :   thanh niên nam, nữ đang trưởng thành  thường cưa bằng một số răng cửa xâu thủng lỗ tai để mang đồ trang sức. Hoa tai thường là một khúc ngà voi, hay một khúc tre vàng óng hay một thỏi gỗ quư. Dái tai của một số lăo ông, lăo bà có khi xệ xuống chạm vai và như thế được coi là đẹp, là người sang trọng. Tập tục cà răng, căng tai là tập quán nhuộm răng đen và ăn trầu giống như người Kinh...

Tôn giáo

Trước đây, người M'nông theo tín ngưỡng đa thần, đặc biệt là các vị thần nông nghiệp và các vị chư thần giống như các vị thần của c ác dân t ộc thiểu số  Đạo Thiên chúa và nhất là đạo Tin lành đă thâm nhập và phát triển vào vùng người M'nông.

 
 

 

  3: Người Cơ Ho và M

Trong những dân tộc bản địa định cư lâu đời ở tỉnh Lâm Đồng, th́  hai dân tộc Cơ Ho và M có số dân đông nhất, có nền văn hóa giàu bản sắc truyền thống nhất.

 

Dân tộc Cơ Ho

Dân số có 145.665 người  tại tỉnh Lâm Đồng.    Người Cơ Ho nói tiếng Cơ Ho, ngôn ngữ thuộc ngữ chi Ba Na (Bahnaric) thuộc Ngữ hệ Nam Á.  Họ  chuyên sống du canh, du cư, nên từ lâu, họ đă di chuyển xuống phía Nam vùng Bắc và Đông-Bắc thành phố Đà Lạt.  Hiện nay, họ cư trú trên địa bàn các huyện Đức Trọng, Lâm Hà, Lạc Dương, Đơn Dương và vùng phụ cận thành phố Đà Lạt.

Chữ  Cơ Ho  vào đầu thế kỷ 20,  được xây dựng bằng hệ thống chữ Latin nhưng mặc dù đă được cải tiến nhiều lần, được dùng để dạy trong một số trường học, nhưng loại chữ này chưa phổ cập. Cuốn tập đọc song ngữ tiếng Việt tiếng Cơ Ho do Việt Nam Cộng ḥa xuất bản.

Văn hóa

Ăn uống:   ba bữa, ăn bốc, với canh rau rừng và các loại gia vị như tiêu, ớt... Món ăn thường chế biến khô để thuận tiện cho ăn bốc. Thực phẩm kho hoặc luộc, canh được chế biến từ rau trộn với tấm và cho thêm ớt, muối. Gạo ăn với cá, thịt, rau. nấu ăn bằng ống nứa, sau này nấu ăn bằng đất nung, đồng, gang.

Thức uống là nước suối, dụng cụ trữ nước uống là những quả bầu khô hoặc ghè.

Rượu cần (tơrnơm) làm từ gạo, ngô, sắn...với men chế biến từ cây rừng. Rượu cần được dùng trong các dịp lễ tiệc, hội hè

Người Cơ Ho    quen  hút các loại cây thuốc phơi khô cuốn lại.

 

Văn học

Thơ ca đậm chất trữ t́nh và giàu nhạc tính. Gần đây, linh mục Nguyễn Huy Trọng, giáo xứ Kala, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng đă sưu tập được khoảng 400 truyện cổ tích, 30 trường ca, sử thi của người Cơ Ho trong đó có trường ca Gơ Plom Ḳn Yồi dài hơn 6.000 câu. Những kết quả sưu tập này bước đầu đă được gửi cho cơ quan chuyên môn..

  (  coi video chuyện t́nh dân  tộc  Cơ Ho: xin click  chuyện Co Ho

 

Lễ  hội

vũ khúc cổ truyền t được diễn trong các lễ hội. Các nhạc cụ truyền thống như bộ cồng chiêng gồm 6 chiếc, kèn ống bầu (Kơmbuat), đàn ống tre (Kơrla), trống (Sơgơr)... có khả năng ḥa âm với lời ca hoặc độc tấu. Lễ hội lớn nhất là lbỏ mả  và lễ Tết .  Lễ bỏ mă  ( tang  ma ) có tục chia của cho người chết  C̣n  lễ Tết vào tháng 12 dương lịch. Tết này có ư nghĩa đón lúa về nhà. Theo tập quán, các gia đ́nh thay phiên nhau mỗi năm hiến một con trâu để cả bon tổ chức lễ đâm trâu Mọi người nhảy múa theo tiếng cồng chiêng. Thịt trâu được chia cho từng gia đ́nh, c̣n máu trâu bôi vào trán những người dự lễ như một sự cầu phúc. Lễ tết kéo dài 7 - 10 ngày,. Sau Tết, người ta mới được ăn lúa mới và thực hiện các công việc lớn như làm nhà, chuyển làng...

 
   

Hôn nhân gia đ́nh

 

Dựa trên cơ sở sự ưng thuận giữa hai bên trai gái, cha mẹ không quyết định.   Độ tuổi kết hôn của người Cơ Ho thường là 16 - 17 tuổi đối với nữ và 18 - 20 tuổi đối với nam, b́nh quân một phụ nữ sinh 5 - 6 con nên tỷ lệ sinh cao.

Chế độ mẫu hệ: người phụ nữ đúng vai tṛ chủ động trong hôn nhân, sau hôn lễ, người đàn ông về nhà vợ ở (nếu gặp trường hợp gia đ́nh hiếm muộn th́ người phụ nữ vẫn có thể ở nhà chồng, con cái tính ḍng họ theo mẹ, con gái là người thừa kế.

Tuyệt đối cấm kỵ việc kết hôn giữa những người có cùng một ḍng họ, nhất là ở cùng một địa phương. Con chú, con bác, con d́, không được lấy nhau. Trái lại, con cô, con cậu từ hai phía có thể có quan hệ hôn nhân với nhau theo luật tục. Sau khi vợ chết, người chồng có thể kết hôn với người em gái của vợ. Và ngược lại, nếu chồng chết, người vợ góa có thể kết hôn với người em trai của chồng nếu đôi bên ưng thuận.

 

Nhà cửa:

 

Nhà sàn dài bằng gỗ, hai mái uốn cong, lợp bằng cỏ tranh, có liếp nghiêng ra phía ngoài và cũng lợp tranh để chống lạnh. Trước cửa ra vào là cầu thang lên xuống, vách đối diện với cửa để ché, giỏ đựng đồ đạc và bàn thờ. Mọi sinh hoạt chủ yếu (ăn uống, nghỉ ngơi, tiếp khách) đều diễn ra quanh bếp lửa trong nhà.

Nhà người Cờ Ho về h́nh thức cũng giống nhà ngườ Mạ.

 

Đặc điểm kinh tế

 

 Chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, ngoài ra c̣n có săn bắt  thú rừng, đánh cá,

hái lượm lâm thổ sản và một số nghề thủ công như rèn, đan lát, dệt.

-   Trồng trọt:    trồng lúa nước ở các thung lũng.   Nếu cư trú ở vùng núi cao,  th́ phát rừng trồng ngô, lúa rẫy, sắn,  làm vườn trồng các loại rau (bầu, bí, mướp, đậu...)., trồng cây ăn quả như mít, bơ, chuối, đu đủ...Họ quen  châm lửa đốt rồi dọn rẫy để gieo hạt khi mùa mưa bắt đầu. Người Cơ Ho sống du cư, khi đất canh tác bạc màu lại chuyển đến nơi khác.

Công cụ sản xuất truyền thống: ŕu; chà gạc dùng để chặt cây, là một đoạn tre già uốn cong một đầu để tra lưỡi sắt), gậy chọc lỗ tra hạt, cuốc; cày làm bằng gỗ, gần đây thay bằng sắt; bừa,    răng gỗ và Kơr (dùng để trang đất cho bằng phẳng). Cày, bừa và kơr đều do 2 trâu kéo.

Chăn nuôi  trâu, ḅ, dê lợn, , gà, vịt... theo phương thức thả rông. Trâu, ḅ chủ yếu để kéo ở những vùng làm ruộng nước, v à để hiến tế trong các nghi lễ.

 
 

 

Trang phục:

 

Đàn ông vận khố bằng vải bản rộng, dài khoảng 1,5 – 2 m, có hoa văn theo dải dọc.

Phụ nữ dùng váy bằng một tấm vải quấn quanh người rồi giắt cạp. Váy nền đen, có diềm hoa văn trắng. Nếu thời tiết lạnh, họ khoác thêm chăn (ùi) ra ngoài. Phụ nữ dùng ṿng cổ, ṿng tay, cườm và khuyên căng tai làm đồ trang sức.

Tín ngưỡng

Đa thần...Thần linh (yang). Vị thần tối cao là Nđu, rồi có thần Mặt Trời, Mặt Trăng, thần Núi, thần Sông, thần Đất, thần Lúa..

  Đối vớ i  thầ n linh, họ cúng tế khi hiếu hỷ, ốm đau bệnh tật.... khi gieo lúa, lúa trổ bông, đạp lúa và cho lúa vào kho. Họ   dùng trâu, lợn, , hoặc để tế sống cùng với rượu. Bàn thờ  thường đặt ở chỗ trang trọng và tôn nghiêm nhất trong nhà.

Ngày nay, khá lớn người Cơ Ho theo Thiên Chúa Giáo Công giáo  và Tin lành. Kinh thánh và các tài liệu truyền giáo khác được dịch ra tiếng Cơ Ho

  Dân tộc Mạ

 Dân số   33.338 người,   cư trú chủ yếu ở các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Lắk, Đồng Nai

 Người Mạ nói tiếng Mạ thuộc ngữ chi Ba Na của ngữ tộc Môn-Khmer, ngữ hệ Nam Á. ..Nhưng

  họ không có chữ viết, nên văn hoá dân gian Mạ vẫn theo lối sống ngh́n xưa  chỉ có  thuộc ḷng những truyền  khẩu   mà thôi.

Họ sống thành từng làng (ḅn ) , mỗi làng có từ 5 đến 10 nhà sàn dài (nhà dài là nơi ở của các thế hệ có chung huyết thống). Đứng đầu làng già làng.

 Lănh thổ người Mạ đă từng ổn định trong lịch sử, khiến cho một số tài liệu xưa gọi nó là tiểu vương quốc Mạ hoặc xứ Mạ.

Văn hóa

Kho tàng văn học dân gian Mạ gồm nhiều truyện cổ, truyền thuyết, huyền thoại độc đáo. Nhạc cụ có bộ chiêng, đồng, trống, khèn bầu, khèn sừng trâu, đàn lồ ô, sáo trúc 3 lỗ gắn vào trái bầu khô.Người Mạ có nhiều lễ cúng. Lễ cúng thần Lúa là lễ lớn nhất trong năm ..Sau mùa thu hoạch, già làng mời các vị lớn tuổi trong làng họp để bàn về lễ đâm trâu.

 

Hôn nhân gia đ́nh

 

Bộ tộc Mạ đă xác lập được chế độ phụ hệ vững chắc trong hôn nhân gia đ́nh

Nhà trai chủ động trong hôn nhân, nhưng sau lễ cưới chú rể phải sang ở nhà vợ, đến khi nộp đủ đồ sính lễ cho nhà gái mới được đưa vợ về ở hẳn nhà ḿnh.

Nhà cửa

 Nhà cửa cổ truyền của người Mạ là nhà sàn dài tới 20–30 m. Nay vẫn là nhà sàn nhưng là nhà ngắn của các gia đ́nh nhỏ. Nhà sàn chỉ c̣n ở những vùng cao  nhưng  nay nhà đất vùng thấp đă chiếm ưu thế.

Bộ khung nhà với ba v́ ,hai hoặc bốn cột. buột lạt. Mái hồi khum tṛn nhưng không có "sừng" trang trí. Hai mái chính cũng hơi khum nên mặt cắt của nóc có h́nh "parabôn". Mái nhà rất thấp nên phần mái bên trên cửa, người ta phải làm vồng lên để ra vào khỏi đụng đầu.

Mặt bằng sinh hoạt cũng có những đặc điểm đáng chú ư: khu vực giữa nhà là nơi sinh hoạt chung của mọi gia đ́nh (tiếp khách, cúng bái...), nơi này có bàn thờ thần bếp và có một cái cột để buộc ché rượu cần khi tiếp khách. C̣n dưới chân vách hậu là một dăy dài những ú, ché đựng rượu cần... Các hộ gia đ́nh ở về hai bên của khu trung tâm.

Phần diện tích và không gian trong nhà dành cho các gia đ́nh cũng có những đặc điểm rất dễ nhận: giữa nhà là một kho thóc, mặt sàn kho các mặt sàn nhà khoảng trên 1 mét.   Dưới gầm kho thóc đặt bếp. Trên bếp có dựa treo. Giáp vách hậu là sạp dành cho mọi thành viên trong gia đ́nh. Giáp vách tiền là một sạp nhỏ và thấp (khoảng 70–80 cm) trên để bát, đĩa, vỏ bầu khô và các thứ lặt vặt khác.

Kinh tế

Người Mạ làm rẫy trồng lúa và làm rẫy trồng ngô, bầu, bí, thuốc lá, bông... H ọ có làm ruộng nước bằng kỹ thuật lùa cả đàn trâu xuống ruộng để trâu giẫm đất đến khi sục bùn th́ gieo lúa giống ..

 Công cụ sản xuất thô sơ, có các loại xà-gạt, xà-bách, dao, ŕu, gậy chọc lỗ.

Về  chăn nuôi,   người Mạ nuôi trâu, ḅ, gà, vịt, ngan... theo cách thả trâu, ḅ vào rừng sống thành đàn, chỉ khi cần giết thịt hoặc giẫm ruộng mới t́m bắt về.

 Về   nghề  nghiệp,   đàn ông Mạ tự luyện quặng sắt lấy sắt để rèn các công cụ sản xuất và vũ khí như xà gạt lưỡi cong, lao,  c̣n đàn bà  nổi tiếng về nghề dệt vải truyền thống với những hoa văn tinh vi h́nh hoa lá, chim thú với nhiều màu sắc.....

 
 

 

Trang phục

Mùa làm nông, nhiều người ở trần, mùa rét choàng tấm mền. Có tục cà răng, căng tai, đeo nhiều ṿng trang sức.

Trang phục nam:  tóc dài, búi sau gáy, ở trần,đóng khố. Khố nhiều loại khác nhau về kích thước và hoa văn trang trí. Loại khố trang trọng có đính hạt cườm, tua dài. Bên cạnh đó họ c̣n mặc áo chui đầu, xẻ tà, vạt sau dài hơn vạt trước che kín mông. áo có các loại: dài tay, ngắn tay và cộc tay. Thủ lĩnh búi tóc cắm lông chim có bộ khiên giáo kèm theo.

Trang phục nữ:   Phụ nữ để tóc dài búi sau gáy. Xưa họ ở trần mặc váy, có bộ phận mặc áo chui đầu. Áo nữ mặc vừa sát thân, dài tới thắt lưng, không xẻ tà, vạt trước và sau áo bằng nhau; cổ áo tṛn thấp. Tổng thể áo chỉ là h́nh chữ nhật màu trắng. Nửa thân dưới áo trước và sau lưng được trang trí hoa văn các màu đỏ, xanh là chính trong bố cục dải băng ngang thân với các mô típ hoa văn h́nh học là chủ yếu. Chiều dọc hai bên mép áo được dệt viền các sọc trang trí. Váy là loại váy hở được dệt trang trí hoa văn với những phong cách bố cục đa dạng. Về cơ bản là các sọc: màu xanh, đỏ, vàng, trắng trên nền chàm chủ yếu là hoa văn h́nh học theo nguyên tắc bố cục dải băng ngang truyền thống. Có trường hợp nửa trên váy dệt trang trí hoa văn kín trên nền sáng (trắng) với hoa văn h́nh học màu đỏ xanh.

Nam nữ thường thích mang ṿng đồng hồ ở cổ tay có những ngấn khắc ch́m - kư hiệu các lễ hiến sinh tế thần cầu mát cho chủ nhân nó. Nam nữ đều đeo hoa tai cỡ lớn bằng đồng, gà voi, gỗ; cổ đeo hạt cườm. Phụ nữ c̣n mang ṿng chân đồng nhiều ṿng xoắn

 
   

III--  Quê hương của các dân tộc bản địa lâu đời

 

1.   Tỉnh  Kon Tum

     quê hương của  dân tộc bản địa   Bana       Gia Rai

Theo ngôn ngữ Ba Na th́ Konlàng, Tum hồ, Tên gọi Kon Tum có từ 1856

    

Tỉnh Kon Tum  có  cột mốc ở xă Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, ngă ba biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia     Đây là Cột mốc không số giáp ranh tỉnh Ratanakari của Campuchia, tỉnh Attapư của Lào.   Đây vừa là điểm khởi đầu của biên giới Việt Nam - Campuchia, vừa là điểm kết thúc của biên giới Việt Nam - Lào.

Kon Tum có độ cao trung b́nh từ 500 mét đến 700 mét, riêng phía Bắc có độ cao từ 800 mét - 1.200 mét, đặc biệt có đỉnh Ngọc Linh cao nhất với độ cao 2.596 mét.

 

Thành phố Kon Tum là tỉnh lỵ của tỉnh Kon Tum

 

10  địa danh nổi tiếng nhất của du lịch Kon Tum:

Sông Đăk bla,   Nhà rông Kon Klor ( Nhà rông lớn nhất Tây Nguyên ) ,Cầu treo Kon Klor ,  Ngục Kon Tum,   Nhà thờ gỗ ,   Chùa Bác Ái ,   Khu du lịch sinh thái Măng Đen,    Vườn quốc gia Chư Mom Ray,   Ngă ba Đông Dương v à  Ṭa giám mục

 

     (Xin coi video về    dân tộc  Ba Na : click     Ba Na)

 
   

2 Tỉnh Gia Lai

     quê hương của  dân tộc bản địa   Gia Rai  và  Bana

 

Tỉnh Gia Laicột mốc  biên giới mang số 30 ở cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh -và cửa khẩu quốc tế Ozadao, thuộc tỉnh Ratanakiri, Campuchia

Tỉnh lỵ: Thành phố Pleiku

 Về du lịch :  Tiềm năng du lịch của Gia Lai rất phong phú, đa dạng với núi rùng cao có nhiều cảnh quan tự nhiên và nhân tạo. Rừng nguyên sinh nơi đây có hệ thống động thực vật phong phú, nhiều ghềnh thác, suối, hồ như Biển Hồ là một thắng cảnh nổi tiếng, ngoài ra có chùa Minh Thành (Gia Lai). Nhiều đồi núi như cổng trời Mang Yang, đỉnh Hàm Rồng. Các cảnh quan nhân tạo có các rừng cao su, đồi chè, cà phê bạt ngàn. Kết hợp với tuyến đường rừng, có các tuyến dă ngoại bằng thuyền trên sông, cưỡi voi xuyên rừng,v.v…

   (Xin coi video về   nhạc cụ  dân tộc  Gia Rai: click    nhac cụ Giarai)

3.   Tỉnh   Đắk Lắk

     quê hương của  dân tộc bản địa   Ê Đê   M'Nông

Tỉnh Đắk Lắkcột mốc  biên giới mang số  44  cắm  giữa  hai tỉnh   Đắk Lắk Monđulkiri Campuchia

Đắk Lắk, (theo tiếng M'Nông) là "hồ Lắk", với dak nghĩa là "nước"

Độ cao trung b́nh 400 – 800 mét so với mặt nước biển.

Tỉnh lỵ của Đắk Lắk là thành phố Buôn Ma Thuột,

 Du lich

Tiềm năng du lịch nhiều hồ tự nhiên và hồ nhân tạo : hồ Lắk, Ea Kao, Buôn Triết Thác Gia Long, Thác Krông Kmar, Diệu Thanh, Tiên Nữ… khu bảo tồn thiên nhiên Chư Yang Sin, Easo…, cụm du lịch Buôn Đôn

Các Di tích lịch sử :

 Đ́nh Lạc Giao, Chùa Sắc tứ Khải Đoan, Nhà đày Buôn Ma Thuột, Khu Biệt điện Bảo Đại, Toà Giám mục tại Đắk Lắk, Hang đá Đắk Tur Tháp Yang Prong

 

  4.   Tỉnh   Đắk Nông    

        quê hương của  dân tộc bản địa     M'Nông và ÊĐê

 

Tỉnh Đắk Nông cột mốc  biên giới mang số  54  tại xă Thuận Hà, Đắk Song, Đắk Nông Monđulkiri (Campuchia).

Đắk Nông nằm trọn trên cao nguyên M’Nông, với độ cao trung b́nh từ 600 mét đến 700 mét so với mặt nước biển

 tỉnh lỵ: Gia Nghĩa

 

Du lịch

Những điểm du lịch hấp dẫn ở Đắk Nông:Thác Đắk Buk So,    Hồ Ea SnôĐray sap - Thác khói hùng vĩHùng vĩ thác Gia LongThác Trinh NữHồ TâyHồ TrúcThác Đắk G’lun

 

  Xin coi video về    dân tộc  ÊĐê : click     ÊĐê

 
 

 

 5.  Tỉnh Lâm đồng

   quê hương của  hai dân tộc bản địa   Cơ Ho   Mạ

 

Tỉnh Lâm đồng nằm trên cao nguyên cao nhất của Tây Nguyên Lâm Viên - Di Linh với độ cao 1500 mét so với mực nước biển và là tỉnh duy nhất ở Tây Nguyên không có đường biên giới quốc tế..

Địa h́nh đa số là núi và cao nguyên với độ cao trung b́nh từ 800 đến 1.000 mét so với mực nước biển

Tỉnh lỵ thành phố Đà Lạt

Du Lịch

Lâm Đồng xem như "bảo tàng của các thác nước".: thác Datanla, thác Prenn, thác Dambri, thác Gongah, thác Pongour... Thác Liên Khương Thác Bob La thác J'rai Bliang.

Lâm đồng  có thành phố Đà Lạt thơ mộng, thành phố của ngàn hoa, của sương mù quanh năm giá lạnh - Đà Lạt    khí hậu tuyệt với từ 18 - 20 độ C. nhiệt độ lúc cao nhất cũng chỉ ở 29 độ C.

tên gọi Đà Lạt. bật lên từ  cái  từ  ngữ "Đạ Lạch" (Đạ là nước, = sông suối của người Lạch) và người   Pháp thông dụng từ n ày
Đà Lạt   nổi tiếng  v́
thác Dambri, thác Cam Ly, Prenn... và v́ có nhiều hồ tự nhiên và nhân tạo như Hồ Xuân Hương, hồ Than Thở, hồ Đa Thiện, hồ Tuyền  và  v́  .. bao quanh rừng thông nối tiếp nhau. Có thể gọi Đà Lạt là thành phố của rừng thông, rừng hoa

 

  Xin coi video về    dân tộc  Mạ : click    Người Mạ

 

Web Hit Counters