Bản Sắc Của Văn Hóa Việt

                                                   Người sưu tầm : PKL 

 

Văn hóa Việt là  văn hóa tổng hp của  ba nền văn hóa : Đông Sơn, Sa Huỳnh và Óc Eo.

 

Nền văn hoá Đông Sơn với những chiếc trống đồng trải rộng khắp miền Bắc tận ranh giới Trung Hoa tới Đèo Ngang.    Dân tộc  của nền văn hoá này  từ bỏ bộ tộc trong những hang động miền cao để xuống định cư thành những làng mạc,  ở đồng bằng sông Hồng, với đơn vị căn bản là gia đ́nh,. Dân tộc  này tổ tiên của những người Kinh.

 

Nền văn hoá Sa Huỳnh với những công cụ bằng sắt và các đồ trang sức bằng mă năo trải rộng từ Thừa Thiên đến lưu vực sông Đồng Nai. Dân tộc  của nền văn hoá này  là tổ tiên của người Chăm đă xây dựng nên vương quốc Champa.

 

Nền văn hoá Óc Eo ở cực Nam trong các tỉnh Long An - Đồng Tháp và khắp miền châu thổ sông Cửu Long. Dân tộc của nền văn hoá này  là tổ tiên của người Khơ- me.

 

Ba nền văn hoá  nêu trên hợp lại tạo thành nền văn hóa Việt chung cho 54 sắc dân mà  sắc dân Kinh chiếm tới 90% dân số.

 

 

Vùng đất  của văn hóa Việt  th́ phía Bắc có núi chắn ngang, phía tây có dẫy Trường Sơn,  phía Đông, Nam và Tây Nam  là Biển Đông. Văn hóa Việt này khác với Văn hóa Trung Quốc ở phía Bắc, Văn hóa Lào và Cambodia ở phía Tây, v́ những rặng núi h́nh rẻ quạt ở phía Bắc và dăy Trường Sơn hùng vĩ ở phía Tây ngăn cách và ngăn cản phần nào sự hoà nhập các loại văn hoá khác .

 
   

Văn hóa Việt này có một bản sắc riêng trong các sinh hoạt hàng ngày cũng như trong  cách phản ứng thuộc về t́nh cảm và tư tưởng,  khác với văn hóa của  các dân tộc chung quanh..

 Bản sắc đó là ǵ?. Bản sắc đó rút ra từ đâu. Bản sắc đó được cấu tạo bởi điều kiện kinh tế, địa dư lịch sử như thế nào ?

Chúng ta có thể gọi Bản Sắc đó  bằng từ ngữ  Việt Nam tính. Xin độc giả cùng tôi   thử   t́m hiểu  cái Việt Nam tính này.

Nếu chúng ta biết xă hội là hoàn cảnh của con người, th́ thiên nhiên lại là hoàn cảnh của xă hội.  Bởi vậy con người vẫn bị  hai yếu tố chính luôn luôn  chi phối:  thiên nhiên và xă hội

 

I-    Thiên nhiên chi phối Thể chất + Tâm lư  ( tính t́nh, tư tưởng)

Người Việt tạo lấy một tính chất  sinh lư  và  tâm lư  nhất định, mặc dầu tính chất ấy  và  tâm lư ấy đă do sự pha máu huyết hỗn tạp giữa các sắc tộc khác nhau. 

a/ - Khí hậu 

-Đất Việt  nằm trong  khu vực gió mùa, khí hậu nóng và ẩm  tác động đến thể chất con người Việt:  tầm vóc thấp (1m50) mắt đen và sếch, mũi hơi tẹt, nước da ngăm ngăm hơi chớm vàng, ... nhưng   người ở phía Bắc thường cao hơn người ở phía nam  một chút .

Vào mùa nắng (số giờ nắng khoảng 1.500 - 2.000 giờ/năm), sông ng̣i và  ruộng nương thường khô cạn. Về mùa mưa  (lượng mưa trung b́nh từ 1.500 - 2.000 ml/cm2, độ ẩm khoảng 80%),  th́ nước sông   dâng lên thành lụt. Ở Bắc Việt,   lụt là  một mối họa lớn cho dân gian, nên từ ngàn xưa người dân Việt phải đắp đê.   Ngày nay hễ đến mùa nước lớn là dân gian phập pḥng  sợ lụt. Nhờ vậy  mà Chí bền vững, ḷng nhẫn nại của  người dân tộc Việt     được ma luyện thêm.

- Từ đèo Hải Vân trở ra phía Bắc, khí hậu thay đổi theo 4 mùa khá rơ rệt: xuân, hạ, thu, đông. Những bất lợi về thời tiết như băo tố, lũ lụt, hạn hán thường xuyên đe doạ (xem Tổng Cục Du lịch, Non nước VN, Hà Nội 2000, tr.11-12). Do đó, tâm tính người Việt  có thể nói dễ thay đổi theo kiểu "sáng nắng chiều mưa" hơn những dân tộc sống trong các vùng khí hậu ổn định, ôn hoà. Gia đ́nh từ đó cũng chịu những hậu quả của sự thay đổi thất thường này như: có nhiều căi vă, xung đột hơn, kém thuỷ chung hơn...

 

b/   Điạ thế

-  Núi không cao, sông không rộng lắm, mọi thứ như vừa mực thuớc của con người, vừa tầm đo lường của trí nghĩ và năo tượng.  Điạ thế ấy đă ảnh hưởng  sâu xa đến tính t́nh và tư tưởng của người Việt vốn không ưa những cái ǵ  vĩ đại và thái quá.

- Gắn bó với núi cao, biển rộng, sông dài nên người Việt  thường có nhiều t́nh cảm cao thượng, biết nh́n xa trông rộng và gần gũi với thiên nhiên.

- Bị  núi rừng ngăn cản hướng tiến lên phía Bắc và phía Tây,  dân Việt  phải hướng về phía Nam từ đồng bằng châu thổ sông Hồng ở miền Bắc (rộng 15.000 km2), vượt qua các đồng bằng nhỏ hẹp ở miền Trung để vào tới đồng bằng sông Cửu Long (rộng 40.000 km2) ở miền Nam. Nên người Việt  không sợ hiểm nguy, dám đối đầu với những thử thách và bất trắc của cuộc sống để viết nên những trang sử hào hùng.

     

II-      Xă hội    chi phối Thể chất và Tâm lư  ( tính t́nh, tư tưởng)

 Nói đến xă hội là nói đến chính trị , đẳng  cấp và Kinh tế.

Người Việt luôn luôn  bị áp bức  về kinh tế và chính trị, nên cảm giác  của  họ  có vẻ chậm chạp và sức phản  ứng  thuộc t́nh cảm và tư tưởng không mau lẹ.   Suốt qua ḍng lịch sử, dân  Việt phải luôn luôn tranh đấu với  các dân tộc phương Bắc và phương Nam  để bảo vệ biên cương, hoặc để chiếm  thêm đất đai mà vợi bớt số dân thừa ứ. Rồi hết loạn lạc đến nạn  thủy tai, đại hạn hàng năm, họa đói kém thường trực, khiến cuộc sống người Việt  chông chênh và eo hẹp, cho nên họ  ít năo sáng tác.

  V́  phải luôn luôn  nhẫn nại và dung ḥa với hoàn cảnh, người Việt đă khuôn  thể xác  và tinh thần theo điều kiện sinh hoạt, nên tự tạo ra được tài mô phỏng không thua kém một dân tộc nào

 
   

a/    Chính trị

Sống dưới sự thống trị của Trung Hoa kéo dài 11 thế kỷ, người Việt kiên nhẫn chịu đựng gian khổ, chờ thời cơ trổi dậy .  Nhiều cuộc  trổi dậy đă đến: chẳng hạn, cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (40-43), Bà Triệu (248), Lư Bí (thế kỷ VI), Mai Thúc Loan (722), Phùng Hưng (766-791). Tinh thần ái quốc dâng cao khiến người Việt sẵn sàng hy sinh t́nh riêng gia đ́nh v́ đại nghĩa của đất nước.

V́ sống quá lâu dưới ách thống trị, người Việt đặc trưng thường :

-          nhút nhát, sợ sệt, không dám bày tỏ trực tiếp ư kiến của ḿnh, nhất là trước mặt

          người lạ.

-      hay giấu diếm t́nh cảm của ḿnh để tránh cho quân thù khỏi làm hại,

-      dễ nghi ngờ  và  thiếu tin tưởng v́ nghĩ rằng ai cũng có thể là kẻ thù,

-      và ít cộng tác với người khác ngay cả với người thân thuộc.

 
 

 

Những đặc tính này tạo ra nhiều điểm bất lợi cho đời sống gia đ́nh v́ gia đ́nh là một cộng đồng đ̣i hỏi sự hiệp thông trọn vẹn giữa các thành viên, cần sự cởi mở chân thành, tin tưởng và lo lắng cho nhau.   Dù thời Bắc thuộc đă qua nhưng những di chứng tiêu cực dường như vẫn c̣n ăn sâu trong tâm hồn người Việt.

  V́ sống quá lâu  dưới chế  thống trị, người Việt thường bất hợp tác.  Để biểu thị sự bất hợp tác, họ chỉ làm việc cầm chừng dưới ánh mắt theo dơi của quân thù và ra vẻ chăm chỉ khi bị giám sát dưới làn roi hành hạ. Do làm măi dưới chế độ này,  người Việt dễ trở thành người làm việc nửa vời, chỉ cố gắng khi có sự theo dơi của người khác thay v́ làm việc với ư thức về trách nhiệm của ḿnh.

Ngoài ra, v́ quan niệm tất cả những ǵ công cộng như vườn cây, đường xá, cầu cống... đều là của chung, do kẻ thù quản lư, nên họ chẳng thiết tha ǵn giữ. Hơn nữa, những thứ chung đó cũng là do sưu cao thuế nặng của họ đóng cho Nhà nước đô hộ nên họ nghĩ có lấy cắp của công cũng chỉ là hoàn trả cho ḿnh, thậm chí có người c̣n cho rằng: "Ăn cắp của công là không có tội".

 V́ sống một ngh́n năm  bị đô hộ, người Việt  đă ma luyện được  thứ khí giới của kẻ yếu để  quật lại kẻ thù. Thứ khí giới đó  chính là  phương pháp tiêu cực: chỉ trích và châm biếm..  Trạng Quỳnh, Trạng Lợn cùng truyện Tiếu Lâm là ba h́nh ảnh cụ thể  của khiếu châm biếm sâu sắc ấy. Ngoài ra c̣n vô vàn câu ca dao khác  biểu thị hoạt kê của sức tranh đấu vẫn tiềm tàng trong dân chúng.

 
   

b/ Đẳng Cấp

Từ chế độ bộ lạc  mạnh được yếu thua,  qua  chế  chế độ thuộc địa hơn ngàn năm, kẻ thống trị áp bức kẻ  bị trị, đến chế độ quân chủ  chuyên chế, người lê dân  bị coi thường,. sống như tôi đ̣i lúc nào cũng phải phục vụ  những ngưởi có quyền hành. Bởi vậy khi người nào có cơ hội ngóc đầu lên được  bằng cách nào đó, có một  vị trí xă hội cao hơn người khác  th́ họ  hănh diện.Tính ưa hư danh phản ảnh của xă hội đẵng cấp là một tật phổ thông của người Việt.Tính ưa hư danh này ăn vào huyết mạch của người Việt..  Ngay cả ngày nay, giới trẻ Việt  khi lên  bậc Đại Học, th́ họ thường chọn ngành Bác Sỹ,  ngành Luật Sư, ngành Dược Sư, ngành Kỹ Sư để học v́  dân Việt  rất tôn trọng những  người làm nghề này, họ coi những người làm nghề này là những người danh giá nhất trong xă hội. Nói chung, người Việt  hiếu học, không phải v́ khát hiểu biết, mà  v́ mong đạt địa vị ưu thắng  trong xă hội.

c/- Kinh tế

-Cuộc sống  chật vật  giữa xă hội đông người mà đất hiếm đă luyện cho con người Việt sức chịu đựng đau khổ  rất dẻo dai và sức làm việc rất bền bỉ.

-Tinh thần người Việt phần nhiều là thông minh. Nhưng v́ xă hội đông người mà đất hiếm  không có chỗ   thuận tiện cho cuộc sống  vật chất khá hơn,  nên thường tính thông minh biến ra năo tinh vặt.

 
 

Đến năo tưởng tượng th́ hoàn toàn bị năo  thực tiễn làm tê liệt cũng chỉ v́  miếng cơm manh áo  là điều kiện tiên quyết phải giải quyết..  Năo thực tiễn mở nguồn cho nhiều đức tính khác, chẳng hạn:

-Người Việt  hiếu học, không phải v́ khát hiểu biết, mà c̣n  v́ kế mưu sinh.

- Cũng v́ thiết thực mà người Việt tín ngưỡng để rút phần lợi ích thiển cận của tôn giáo tại ngay kiếp này nhiều hơn là mong linh hồn được giải thoát măi tận kiếp sau. Ví dụ   họ cầu nguyện để  xin Chúa cho họ kiếm được công ăn việc làm tốt, để gia đ́nh họ được hạnh phúc.

 Chính v́ vậy mà  người Việt  không có thái độ  cực đoan về tôn giáo cũng như về chính trị. Cũng v́  thiết thực  mà người Việt  không quan niệm cái ǵ thái quá.

- Là dân nông nghiệp, người Việt ưa ḥa b́nh và thường nhút nhát, song ngộ sự cũng biết hy sinh v́ đại nghĩa hợp với quyền lợi thiết thực của ḿnh

Bài sưu tầm  dựa vào các tài liệu :

-cuốn  Xă hội Việt Nam của  của Lương Đức  Thiệp

-Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim

-Tài liệu về Gia Đ́nh   người Việt trong Internet