Bỉ và Áo quan tâm đến

                       văn hóa nghệ thuật Việt Nam 

 

Chỉ trong ṿng 20 năm gần đây, Bỉ và Áo đă lần lượt tổ chức 5 cuộc triển lăm quan trọng về văn hóa nghệ thuật Việt Nam. Đó là: 
1. Tiếng nói của những cổ trống, Việt Nam – Indônêxia– Thái B́nh Dương, tổ chức từ tháng 3 đến tháng 9 năm 1983 tại Viện bảo tàng hoàng gia Mariemont (Morlanwelz) , Bỉ. 
2. Việt Nam thế kỷ 20, Nghệ thuật tạo h́nh và nghe nh́n từ 1925 đến nay:  tổ chức tại Không gian Phương Nam (Espace Méridien), Bruxelles, Bỉ, từ 9-10 đến 31-12-1998. 
3. Những nền mỹ thuật Việt Nam, Hoa đào và Chim xanh, tổ chức tại Viện bảo tàng hoàng gia Mariemont (Morlanwelz), Bỉ, từ 20-4 đến 18-8-2002. 
4. Việt Nam, Mỹ thuật và những nền văn hóa từ thời tiền sử đến ngày nay, tổ chức tại Viện bảo tàng hoàng gia Mỹ thuật và Lịch sử Bruxelles, Bỉ, từ 17-9-2003 đến 29-2-2004. 
5. Sự quyến rũ mê hồn của Việt Nam, Thần linh, Anh hùng, Tổ tiên, tổ chức tại Cung điện Mới, thành phố cổ Leoben, Áo, từ 3-4- đến 1-11-2004 (1)

            

Triển lăm Nghệ thuật và Văn hóa Việt Nam,     Triển lăm Sự quyến rũ mê hồn  

        Bruxelles 2003/2004                                       Léoben, 2004Việt Nam,  

 

 
   

1983 : nền văn minh Đông Sơn được vinh danh tại Bỉ

 Từ mùa xuân 1983 (18 tháng 3) đến mùa thu ( 18 tháng 9), Viện bảo tàng hoàng gia Mariemont, tỉnh Morlanwelz, đă có sáng kiến khởi xướng một cuộc triển lăm quan trọng và độc đáo : "Tiếng nói của những cổ trống, Việt Nam - Indônêxia - Thái B́nh Dương " , tập hợp hơn 100 hiện vật quí hiếm và tranh ảnh độc đáo của bốn viện bảo tàng Bỉ, Pháp và của nhiều bộ sưu tập tư nhân (collections particulières). Theo nhà bảo tàng học Bỉ Catherine Talon-Noppe, người phụ trách tổ chức triển lăm và là một trong hai tác giả quyển Catalô giới thiệu cuộc triển lăm, viện bảo tàng hoàng gia Mariemont muốn sử dụng chủ đề Trống Đồng - hiện vật tiêu biểu nhất của văn minh Đông Sơn mà những người Việt cổ đă sáng tạo ra trong những thế kỷ cuối của thiên niên kỷ 1 trước công nguyên - như một sợi chỉ đỏ dẫn đạo để giới thiệu miền Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo, "những thế giới xa xôi và chưa được biết đến". 
Qua lời nói đầu của quyển Catalô, người ta dễ dàng thấy thâm ư của ban tổ chức triển lăm là vinh danh "nền văn minh Đông Sơn và sự tỏa rạng của nó" từ lục địa Đông Nam Á đến quần đảo Indônêxia và những đảo xa xôi của châu Đại Dương (Océanie). 
Các hiện vật được chia thành ba nhóm, cũng là ba phần lớn của cuộc triển lăm : Việt Nam, Indônêxia, Thái B́nh Dương. Đó là những trống, thạp, chuông đồng, tượng mồ, sừng ma thuật (corne à magie), bộ phận trang trí mặt tiền kiến trúc (ornement de façade), đồ trang sức, tượng đàn ông, đàn bà bằng đồng và bằng đá, mảnh gỗ trang trí h́nh người dùng làm khiên, mộc, đồ dùng bằng tre, đất nung, hộp gỗ, thắt lưng bằng vỏ cây, vũ khí bằng đồng (dao găm, mũi tên...), bằng gỗ (chùy...), v.v. của người Việt cổ, của các sắc dân Tây Nguyên (Việt Nam), của nhiều sắc dân Indônêxia và hải đảo trên Thái B́nh Dương ngày nay - cho thấy ảnh hưởng của văn minh Đông Sơn đă tỏa rạng trên toàn vùng Đông Nam Á cổ đại và cận hiện đại. 
Cuốn Catalô Tiếng nói của những cổ trống... chỉ vỏn vẹn 100 trang kèm theo 100 ảnh minh họa, nhưng tác giả Catherine Talon-Noppe đă dành cho Việt Nam 30 ảnh và 50 trang viết về 12 chủ đề : cái nh́n bao quát địa lư ; những giai đoạn tiến triển của t́nh h́nh dân cư ở miền Bắc ; cuộc Nam tiến ; Dân tộc Việt Nam, một ngoại lệ ; một bức tranh ghép mảnh (mosaique) những sắc dân và những ngôn ngữ ; lịch sử và triển vọng của công cuộc nghiên cứu khảo cổ học ở Việt Nam ;  Văn minh Đông Sơn và sự tỏa rạng của nó : bảng tổng hợp  văn minh Đông Sơn, khung cảnh khảo cổ và biên niên, khung cảnh lịch sử ; phong cảnh Việt cổ, ngôi nhà Đông Sơn, chiến tranh, vũ khí, những nét hoa mỹ; trống đồng : tôn giáo và chính trị ; một nghệ thuật đồ đồng ngoại lệ ; Đông Sơn và những người đồng thời ; Những mối quan hệ với Trung Quốc và sự cáo chung của văn minh Đông Sơn ; các sắc dân vùng Tây Nguyên: kèm theo 5 phụ lục (những tài liệu sử học và văn hóa dân gian liên quan đến trống đồng) 
Tính đến 1983, thời điểm của cuộc triển lăm, đây là những trang viết phong phú và nghiêm túc về văn hóa người Việt cổ, lấy cảm hứng từ những nghiên cứu của Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp cùng những nghiên cứu mới nhất của L. Bezacier, Nguyễn Phúc Long, Hà Văn Tấn... những năm 70-80. 
Viện bảo tàng Hoàng gia Mariemont - được sự hỗ trợ đóng góp của các Viện bảo tàng Hoàng gia Nghệ thuật và Lịch sử Bruxelles, Viện bảo tàng dân tộc học Anvers (Bỉ), Viện bảo tàng Cernushi (Pháp) cùng nhiều mạnh thường quân ở châu Âu - đă làm được một công hai việc : vừa vinh danh văn minh Đông Sơnvăn hóa Việt cổ, vừa khơi gợi cho thế giới biết về một nền văn minh liên hoàn Đông Nam Á đất liền và  hải đảo, đâu đâu cũng thấp thoáng bóng dáng đẹp đẽ của thiên tài Đông Sơn mà Việt Nam là kẻ kế thừa chính đáng.

 
   

1998 : hội họa và điện ảnh Việt Nam được giới thiệu tại Bỉ

Năm 1998, Ủy ban Liên Hiệp Châu Âu đă phối hợp cùng bộ văn hóa Pháp thoại của Bỉ và hội đồng quản trị vùng Bruxelles đứng ra tổ chức cuộc triển lăm "Việt Nam thế kỷ 20, Nghệ thuật tạo h́nh và nghe nh́n 1925-1998", từ ngày 9-10 đến 31-12-1998. 
Bộ văn hóa thông tin Việt Nam đă đồng ư cho các viện bảo tàng mỹ thuật, các họa sĩ có tên tuổi, các nhà sưu tập tư nhân (Phan Kế An, Bùi Đức Minh, Phạm Văn Bổng, Nguyễn Văn Lâm...) cho mượn tác phẩm. Một đoàn chuyên gia Việt Nam (Trịnh Hương Lan, Trần Văn Thủy... cũng đă đến Bruxelles tiếp tay những chuyên gia Bỉ thực hiện cuộc triển lăm. 
Trong số 105 tác phẩm của 44 họa sĩ Việt Nam thuộc các thế hệ khác nhau từ 1925 đến 1998 được trưng bày trong cuộc triển lăm này, có nhiều kiệt tác, nhiều tác phẩm đáng mến mộ. Người xem có dịp tiếp xúc trực tiếp với các tác phẩm để đời của những danh họa xuất thân từ Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, từ thế hệ Lê Văn Đệ, Tô Ngọc Vân... đến thế hệ Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tư Nghiêm...và một số họa sĩ đàn em, đàn con, đàn cháu tài ba từ sau 1945 đến nay, những Lưu Công Nhân, Lê Thanh Đức, Đinh Ư Nhi... 
Ngành điện ảnh non trẻ của Việt Nam, với chủ đề "Việt Nam thế kỷ 20" cũng đă gặt hái được nhiều khích lệ đáng kể qua Cô gái trên sông, Tiếng vĩ cầm ở Mỹ lai, Một cơi tâm linh, Đường dây sông Đà, Ch́m nổi sông Hương... của những Đặng Nhật Minh, Trần Văn Thủy, Lê Mạnh Thích... 
Khách xem tranh xem phim đă giữ những kỷ niệm tốt lành về Việt Nam, đất nước và con người (2).

 
   

2002 : mượn Hoa đào và Chim xanh của Nguyễn Du để vinh danh mỹ thuật Việt Nam

Vẻ chi một đóa yêu đào 
Vườn hồng chi dám ngăn rào chim xanh 
("Truyện Kiều", câu 503-504)

Với tư cách là một trong hai người đứng ra tổ chức triển lăm "Các nền mỹ thuật Việt Nam, Hoa đào và Chim xanh", Jean-François Hubert, sau khi đọc được câu thơ Kiều (lời Kiều nói với Kim Trọng), đă quyết định mượn h́nh tượng Hoa và Chim ấy làm nhan đề phụ cho cuộc triển lăm lần thứ nh́, từ tháng 4 đến tháng 8-2002, mà Viện bảo tàng hoàng gia Mariemont dành riêng cho Việt Nam (3)
Phong phú hơn hẳn lần trước, Jean-François Hubert và Catherine Noppe đă tập hợp được 200 tác phẩm và hiện vật từ 5 viện bảo tàng Bỉ (Viện bảo tàng hoàng gia Mariemont, Viện bảo tàng hoàng gia Nghệ thuật và Lịch sử Bruxelles), Pháp (Viện bảo tàng Cernushi, Paris), Việt Nam (Viện bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Hà Nội) và từ nhiều bộ sưu tập mỹ thuật của tư nhân ở một số nước châu Âu và Việt Nam, liên quan đến nhiều thời đại, thời kỳ, loại h́nh mỹ thuật và sắc dân. 
Cuốn Catalô, do C. Noppe và J-F. Hubert chủ biên, đă được 13 chuyên gia Bỉ, Pháp và Việt tham gia viết bài nghiên cứu về các đề tài : sự h́nh thành Việt Nam ; văn hóa Đông Sơn ; đồ đồng và đồ gốm Giao Chỉ (thời Bắc thuộc) ; gốm sứ các thời Lư, Trần, Lê, Nguyễn ; kiến trúc và điêu khắc của người Việt ; mỹ thuật và tôn giáo Champa ; Victor Tardieu và Trường Mỹ Thuật Đông Dương ; nghệ thuật trang phục các sắc dân thiểu số. 
Lần đầu tiên các tác phẩm và hiện vật tiêu biểu như gốm sứ Hậu Lê, đồ trang sức và kim loại quí hiếm của Champa được phân tích bằng những kỹ thuật hóa học và vật lư học hiện đại nhất, kể cả sử dụng máy gia tốc cộng hưởng (cyclotron).

 
   

  2003 : "Những nền mỹ thuật của Việt Nam, một tác phẩm xuất sắc của hai tác giả Bỉ, Pháp

 

Sau khi tổ chức thành công cuộc triển lăm "Hoa đào và Chim xanh" tại Viện bảo tàng hoàng gia Mariemont (xuân-thu 2002) và cho phát hành cuốn Catalô đẹp đẽ của cuộc triển lăm, Catherine Noppe và Jean-Franois Hubert đă cùng biên soạn một công tŕnh văn hóa khác nhan đề Arts du Vietnam (Những nền mỹ thuật của Việt Nam), do nhà xuất bản Parkstone Press Ltd ở New York ấn hành vào mùa xuân 2003 và ngay sau đó bản nguyên tác tiếng Pháp đă được dịch sang nhiều thứ tiếng. Sách dày 271 trang, khổ lớn, được minh họa bằng 287 h́nh ảnh, 3 bản đồ, một bản biên niên so sánh mỹ thuật thế giới Trung Quốc-Việt Nam-Champa.  
Hai tác giả đă lần lượt giới thiệu một cách sinh động : Dẫn nhập vào Việt Nam, Đất và Nước ( 27 tr.); Văn Lang và Âu Lạc những vương quốc đầu tiên (11 tr.); Sự thống trị của Trung Quốc và gia tài của nó (10 tr.); các triều đại quốc gia: Từ Hoa Lư đến Thăng Long, Kiến trúc Phật giáo, Gốm sứ Lư và Trần (19 tr.); Vương quốc Champa (30 tr.); Triều Lê: Hội An, Kiến trúc Phật giáo, Khổng giáo và tuyên ngôn của nó, các ngôi đ́nh, Gốm sứ Lê (37 tr.); Huế và triều Nguyễn: Hoàng thành, sứ Nguyễn (bleu de Huế) 24 tr.; sự có mặt của Pháp: kiến trúc thuộc địa, Hội họa Việt Nam ở thế kỷ XX (48 tr.); Mỹ thuật các sắc dân thiểu số (16 tr.) 
Sau khi công tŕnh của C. Noppe và J-F. Hubert được xuất bản bằng nhiều thứ tiếng, mặc dù chưa hoàn hảo, các nhà Việt Nam học và Đông phương học đă đồng ư cho đây là một cuốn sách lịch sử mỹ thuật không thể thiếu trong các thư viện công cộng cũng như trong tủ sách của những ai muốn t́m hiểu những vấn đề văn hóa nghệ thuật của người Việt và các sắc dân khác ở Việt Nam. 
Nh́n cấu trúc cuốn sách, người ta thấy hai tác giả đă lướt nhanh qua các thời đại Hùng Vương, Lư-Trần và nền mỹ thuật các sắc dân thiểu số ở Việt Nam. Bù lại họ đă dừng lâu hơn và đă nghiên cứu khá kỹ lưỡng mỹ thuật các thời Hậu Lê và Nguyễn. Mỹ thuật thời Pháp thuộc được giới thiệu phong phú và công phu nhất bên cạnh những trang đẹp đẽ về nền mỹ thuật Champa rực rỡ, cũng như những trang sắc sảo về gốm sứ Việt ở các thời Bắc thuộc, Lư, Trần, Lê, Nguyễn với nhiều thông tin quí hiếm và h́nh ảnh minh họa rất đẹp. Về kiến trúc và điêu khắc, rất tiếc là đă thiếu vắng nhiều pho tượng Phật, tượng Tổ và La Hán nổi tiếng ở các chùa (Mía, Tây Phương, Bút Tháp...) và rất nhiều kiệt tác chạm khắc gỗ vô cùng độc đáo ở các đ́nh làng (Tây Đằng, Chu Quyến, Thổ Hà...). 
Trong khi sách giới thiệu về văn hóa nghệ thuật Việt nam với cái nh́n của người nước ngoài và bằng tiếng nước ngoài c̣n hiếm hoi, công tŕnh của hai chuyên gia Bỉ và Pháp vừa có giá trị biên khảo vừa có giá trị thẩm mỹ như bộ sách Arts du Viẽt Nam này là một thành tựu rất đáng nâng niu trân trọng.

2003 và 2004 : hai cuộc triển lăm về văn hóa nghệ thuật Việt Nam lớn nhất tại Bỉ và Áo

Trong hai năm 2003 và 2004, hai nhà văn hóa học Bỉ và Áo, Miriam Lambrecht và Christopher Schicklgrüber, đă thực hiện hai cuộc triển lăm về văn hóa nghệ thuật Việt Nam có lẽ lớn nhất từ trước đến nay. Đó là : 
- Cuộc triển lăm "Việt Nam, mỹ thuật và những nền văn hóa, từ tiền sử đến ngày nay" tại thủ đô Bruxelles, Bỉ, từ 17-9-2003 đến 29-2-2004, với 442 tác phẩm và hiện vật. 
- Cuộc triển lăm "Sự mê hoặc của Việt Nam, Thần linh, Anh hùng, Tổ tiên" tại thành phố cổ Leoben, Áo, từ 3-4-2004 đến 1-11-2004, với 802 tác phẩm và hiện vật. 
Từ nhiều năm qua, các nhà văn hóa học, bảo tàng học, chuyên gia lịch sử nghệ thuật châu Á tại các viện bảo tàng hoàng gia Bỉ và các viện bảo tàng mỹ thuật và dân tộc học Áo đă có ư định hợp tác dàn dựng một cuộc triển lăm toàn cảnh và tương đối đầy đủ về văn hóa văn minh Việt Nam. Cuối cùng ước muốn này đă trở thành hiện thực... sau 10 năm quyết tâm và kiên nhẫn. Đó cũng là thời khoảng kỷ lục mà ít có những nhà văn hóa phương Tây có thể chờ đợi và chấp thuận. 
Công lao đầu tiên là của nữ tiến sĩ Miriam Lambrecht, người Bỉ, thuộc Viện bảo tàng hoàng gia Nghệ thuật và Lịch sử Bruxelles. Nhưng công lao lớn nhất có lẽ thuộc về tiến sĩ Christian Schicklgrüber, người Áo, thuộc Viện bảo tàng dân tộc học Vienne. Cả hai cùng là trưởng ban tổ chức và đồng chủ biên cuốn Catalô đồ sộ của hai cuộc triển lăm được viết bằng bốn thứ tiếng (Pháp, Hà Lan, Đức, Anh). 
Trả lời nhà báo Việt Nam, hai vị này cho biết họ đă làm việc ṛng ră trong suốt 10 năm trời, từ 1993 đến 2003, với các đối tác Việt Nam, đă lặn lội đến nhiều viện bảo tàng, nhiều đ́nh chùa đền cổ xưa ở Hà Nội và nhiều địa phương để lùng t́m và phát hiện những tác phẩm mỹ thuật và hiện vật dân tộc học tiêu biểu chưa được quần chúng phương Tây biết tới. Phải chờ đến năm 2000 những cuộc tiếp xúc với các đối tác Việt Nam mới thu được những tín hiệu khả quan (4)
Hai vị đại sứ Bỉ và Áo cũng đă phải nhập cuộc thương thuyết, đàm phán để ước muốn của các nhà văn hóa học Bỉ và Áo trở thành hiện thực. Cuối cùng phía Việt Nam đă chấp nhận sửa đổi luật lệ, cho phép mượn và đưa cổ vật ra nước ngoài ; phía Bỉ và Áo đă đồng ư chi trả số tiền bảo hiểm lên đến gần 6 triệu USD, đó là chưa kể đến những chi phí khác cũng tốn hàng triệu euros. 
Khi được hỏi lư do tổ chức cuộc triển làm này, nữ tiến sĩ M. Lambrecht khiêm nhường cho biết : "Sở dĩ có cuộc trưng bày này là v́ các Viện bảo tàng hoàng gia Bỉ (Bruxelles và Mariemont) đang sở hữu một bộ sưu tập có một không hai về đồ đồng Việt cổ và gốm sứ Việt Nam từ thế kỷ 14 trở về trước...", khoảng 3.000 tác phẩm và hiện vật. 
Ban tổ chức Bỉ-Áo nhấn mạnh : "Chúng tôi mong muốn tŕnh bày cho bằng được một bộ mặt khác của Việt Nam. Để thực hiện điều đó, chúng tôi đă phải tập hợp những cổ vật từ nhiều nguồn, chẳng những từ Việt Nam (13 bảo tàng) mà c̣n từ 8 bảo tàng lớn ở châu Âu (London, Paris, Đức, Hà Lan, Thụy Sĩ, Thổ Nhĩ Kỳ) và từ nhiều bộ sưu tập tư nhân ở châu Âu".  
Tiến sĩ C. Schicklgrüber cho biết ông đă đến Việt Nam tháng 5-2000 với bản đề cương cuộc triển lăm tại Bỉ và Áo và t́m gặp các đồng nghiệp Việt Nam đề nghị họ góp ư. Sau đó ông đă để ra ba năm (2001-2003) đi thăm các bảo tàng Việt Nam để tuyển chọn, đàm phán mượn tác phẩm và hiện vật. Phải chờ đến tháng 6-2003 những cổ vật đầu tiên của Việt Nam lên đường sang Bỉ (5).

Tổng cộng có tất cả 416 tác phẩm thuộc các thời kỳ tiền sử và lịch sử, các nền văn hóa nghệ thuật nhiều sắc dân của Việt Nam : đồ đồng, gốm, sứ, tranh tượng, y phục, nhạc khí… mà Việt Nam đă cho Bỉ và Áo mượn. 
Người xem đến từ nhiều quốc gia châu Âu và du khách quốc tế đă vô cùng thích thú khi ngắm nh́n những trống đồng Hoàng Hạ, Ngọc Lũ, Vienne (trước đây quen gọi là trống Gillet) tượng trưng cho văn minh và tâm hồn người Việt cổ. Những tác phẩm gốm, sứ các thời Lư, Trần, Lê (Bát Tràng, Chu Đậu) được trưng bày hài ḥa với những pho tượng Chăm điêu luyện, bên cạnh những tác phẩm hội họa cổ điển và dân gian vô cùng đa dạng của các sắc dân Việt Nam… mà h́nh ảnh được ghi lại đẹp đẽ trong tập Catalô in ấn công phu, chân xác. 
Nội dung khoa học và thẫm mỹ của cuốn Catalô phong phú này có được là nhờ sự đóng góp của 13 nhà văn hóa, nhà nghiên cứu Bỉ, Áo, Anh, Pháp, Việt có uy tín. Những chủ đề lớn đă lần lượt được đề cập tới là : lịch sử Việt Nam từ cội nguồn đến ngày nay ; thương mại và trao đổi trong lịch sử Việt Nam ; dẫn nhập vào lịch sử văn hóa Việt Nam ; âm nhạc và kịch nghệ ở Việt Nam ; các tôn giáo, tín ngưỡng và sự thờ cúng ở Việt Nam ; Việt Nam một đất nước đa sắc tộc, đa văn hóa, làng Việt Nam giữa truyền thống và hiện đại... 
Tuy vậy, trong cuộc triển lăm "Việt Nam, mỹ thuật và những nền văn hóa, từ tiền sử đến ngày nay" tại thủ đô Bruxelles (Bỉ) có một nốt nhạc sai. Đó là những người tổ chức đă dành cho phần đầu của triển lăm quá nhiều h́nh ảnh về chiến tranh, bạo lực, tàn phá và chết chóc tại Việt Nam khiến một số người xem cho đó là một việc làm "lạc đề", "lên gân" hay "tuyên truyền" không cần thiết, không đúng chỗ trong một không gian trưng bày rộng 150 m2. Sự bất b́nh này đă được thể hiện khi xem, rồi trong cuốn Sổ Vàng góp ư của cuộc triển lăm. 
Nhạy bén trước phản ứng của những người xem chỉ muốn tiếp xúc với "nghệ thuật và các nền văn hóa của Việt Nam" ấy, ban tổ chức cuộc triển lăm "Sự mê hoặc của Việt Nam, Thần linh, Anh hùng, Tồ tiên" ở Áo đă rút kinh nghiệm và thực hiện những điều chỉnh cần thiết để phù hợp với nội dung một cuộc triển lăm về văn hóa và nghệ thuật đúng nghĩa. 
Về địa điểm, lúc đầu cuộc triển lăm được dự định tổ chức tại thủ đô Vienne, nhưng nhân dịp thành phố cỏ kính nhất của Áo là Leoben vừa tṛn 1.100 tuổi (904-2004), ban tổ chức đă quyết định đưa về Lâu Đài Mới (Neue Hofburg) của thành phố cổ Leoben, nơi tọa lạc Thư viện quốc gia và Viện bảo tàng mỹ thuật của thành phố. Từ đó cuộc triển lăm hoành tráng về văn hóa nghệ thuật của Việt Nam đă được đưa lên hàng đầu danh mục 100 sự kiện tiêu biểu nhất trong năm 2004, năm sinh nhật thứ 1.100 của thành phố Leoben, với hội chợ, dạ hội, diễn hành, sinh hoạt văn hóa và lễ hội đa dạng. 
Cuốn Catalô "Sự mê hoặc của Việt Nam...", lần này được in bằng tiếng Đức và Anh, tŕnh bày rất mỹ thuật, trong đó có ba bài viết mới của tiến sĩ thị trưởng Leoben, giáo sư tổng giám đốc Các viện bảo tàng dân tộc học Vienne, và bài dẫn nhập của tiến sĩ C. Schicklgrüber vinh danh đất nước và văn hóa Việt Nam đồng thời đề cao giá trị những bài viết của các nhà bác học và chuyên gia Bỉ, Áo, Anh, Pháp, Việt khác viết trong Catalô. 
Cuộc triển lăm tại Áo đă qui tụ hàng chục vạn người xem. Người Áo đă thực sự quan tâm đến văn hóa Việt Nam và cuộc gặp gỡ "Thần linh, Anh hùng và Tổ tiên" của Việt Nam trên đất Áo, với 416 tác phẩm đến từ Việt Nam cộng với 386 hiện vật của 8 Viện bảo tàng nổi tiếng của châu Âu (6), là một vinh dự hiếm có và cũng là niềm tự hào chính đáng dành cho Việt Nam văn hiến ngàn năm.

Lê Văn Hảo (Paris)

 
   

Chú thích 

(1) ) - Catherine Talon-Noppe và Françoise Fauconnier (biên soạn), La Voix des Tambours, Vietnam-Indonésie-Pacifique, Musée Royal de Mariemont, 1983, 99 tr. 
- Nhiều tác giả, Bertrand de Hartingh chủ biên, Vietnam 20e siècle, Arts Plastiques et Visuels de 1925 à nos jours, La Lettre Volée, Bruxelles, 1998, 216 tr. 
- Catherine Noppe và Jean-François Hubert (chủ biên), Arts du Vietnam, la Fleur de pêcher et l’Oiseau d’azur, nhà xuất bản La Renaissance du Livre và Musée royal de Mariemont, 2002, 196 tr. 
- Miriam Lambrecht và Christian Schicklgrüber (chủ biên), Vietnam - Art et Cultures de la préhistoire à nos jours, Bruxelles, nhà xuất bản Snoeck, 2003, 272 tr. 
- Miriam Lambrecht và Christian Schicklgrüber (chủ biên), Faszination Vietnam, Gưtter, Helden, Ahnen, Leoben, nhà xuất bản Snoeck, 2004, 277 tr. 
(2)  Văn Ngọc, "Triển lăm Việt Nam thế kỷ 20, 1925-1998", tạp chí Diễn Đàn, Paris, số 80, tháng 12-1998. 
(3) Catherine Noppe và Jean-François Hubert, Arts du Vietnam, Parkstone Press, New York, 2003, 271 tr. 
(4) Nguyễn Hữu Thái, "Đưa phố cổ Hà Nội sang châu Âu", Tuổi Trẻ Chủ Nhật, số 4, 2004. 
(5)  Trần Đức Anh Sơn, "10 năm cho một triển lăm Việt Nam tại Áo", Tuổi Trẻ Chủ Nhật, số 14, 2004. 
(6)  Tại Bruxelles, số lượng tác phẩm và hiện vật trưng bày là 442, tại Leoben ban tổ chức đă nâng con số này thành 802 nhờ sự đóng góp của Viện bảo tàng dân tộc học Vienne (Áo), nơi tàng trữ hàng trăm hiện vật Việt Nam.

 

                         

                         Sứ đời Lê, tk XV, Chu Đậu    Hải Dương

Viện BT Lịch sử Việt Nam, Hà Nội, đă cho Áo mượn để trưng bày tại Triển lăm " Thần thánh, Anh hùng và Tổ tiên " tại T.P. Léoben, Áo, 2004

 

                

                                Sứ đời Lê, tk XV, Chu Đậu, Hải Dương,

 Viện Bảo táng Topkapi Saray (Istanbul Thổ Nhĩ Kỳ) đă cho Bỉ và Áp mượn để trưng bày tại Triển lăm Nghệ thuật và văn hóa Việt Nam (2003/2004)

                                                 Tượng Chàm tk IX-X 
Triển lăm Việt Nam, Mỹ thuật và những nền văn hóa từ thời tiền sử đến ngày nay (2003/2004