Dân Tộc Tính trong Văn Học

 

 

 

      Bàn về  dân tộc tinh trong văn học, nhiều học giả  Việt  đă có công  sưu tầm  và nghiên cứu.   Sau đây là những  nhận định của các vị học giả  này

 

      I-   Nhận định  của học giả Xuân Bích trong  Tập San  

                    Việt Học Journal (Viethocjournal.com)

 

        Nếu trong một khoảnh khắc nào đó, ta trầm tư, tự hỏi “dân tộc tính là ǵ, quan trọng ra sao và ảnh hưởng thế nào trong cuộc sống,” có lẽ cuối cùng trong tâm thức ta cũng chỉ thấy thoáng hiện ư niệm đó là đặc trưng nổi bật của một cộng đồng dân tộc chung một quê hương, nói khác đi là chung một lănh thổ, một ngôn ngữ, một nền văn hóa đă trải nghiệm qua quá tŕnh lịch sử.

Nét đặc thù của “dân tộc tính” thường là không hoặc ít khi bộc lộ một cách cụ thể như một biểu hiện hữu h́nh mà là một sự thấm sâu trong tâm hồn qua những cảm xúc, những ǵ thu nhận được qua các giác quan, tạo nên “nhân sinh quan để rồi thể hiện qua những câu “truyền khẩu” và qua những tác phẩm của các văn gia, thi sĩ, ví như Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du. Người đọc thấy trong đó nhiều địa danh, nhân vật, kể cả nội dung câu chuyện đều có nguồn gốc từ Trung Hoa, nhưng với tài năng sáng tạo và Việt hóa của nhà thơ, ta vẫn cảm nhận được hồn dân tộc thấm đậm trong từng trang Truyện Kiều.

 

Nhân vật Thúy Kiều chính là mẫu người phụ nữ Việt với tinh thần trọng hiếu nghĩa, chịu đựng tất cả v́ gia đ́nh. Nàng đă hy sinh mối t́nh riêng thơ mộng với Kim Trọng để cứu cha khỏi ṿng lao lư. Kiều cam chịu mọi tai tiếng, mọi sự phê phán, lên án gắt gao của người đời trong xă hội. Khi tác phẩm Truyện Kiều ra đời có kẻ khen cũng có người chê, trong số những người lên án Kiều đều nhắm vào quan điểm đạo đức, cho Kiều là hạng “gái lầu xanh”:

 

        Bạc mệnh chẳng lầm người tiết nghĩa

        Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm

        Bán ḿnh trong bấy nhiêu năm

        Đố đem chữ hiếu mà lầm được ai

                                        (Nguyễn Công Trứ)

 
 

 

Dân tộc tính (DTT) là những nét mang tính lập đi lập lại thành nếp tinh thần của một dân tộc. Trên một khía cạnh khác nêu lên những đức tính của phụ nữ Việt, từ xa xưa cho tới ngày nay, hầu như có một điểm ǵ chung chịu khó, chung thủy, nặng t́nh cảm, giầu ḷng hy sinh. Những t́nh tự ấy quả đă bàng bạc trong những áng ca dao, trong những khúc hát ru con, trong những tiếng dân ca, và cụ thể là qua những công việc thường nhật.

Đó là trong thi ca nói chung, c̣n riêng với thơ hẳn nhiều người trong chúng ta cũng đă từng đọc hoặc từng nghe những tâm t́nh của các thi gia như Tú Xương với những câu t́nh nghĩa viết về bạn đời:

 

          Quanh năm buôn bán ở mom sông

          Nuôi đủ năm con với một chồng

         Lặn lội thân có khi quăng vắng

           Eo xèo mặt nước buổi đ̣ đông

 

Hoặc ta c̣n nghe nhà thơ Hồ Dzếnh ca tụng người con gái Việt Nam:

 

        Cô gái Việt Nam ơi

        Từ thuở sơ sinh lận đận rồi

        Tôi biết t́nh cô u uất lắm

       Cô chẳng bao giờ biết bướm hoa

        Má hồng mỗi tiết mỗi phôi pha

         Khi cô vui thú là khi đă

         Bồng bế con thơ đón tuổi già

 

Đó là chuyện những cô gái thời xưa, c̣n ngày nay chắc cuộc sống ít nhiều ǵ cũng đă có phần khác xưa. DTT c̣n thể hiện qua cái nh́n đối với thế giới bên ngoài, trước không gian và qua thời gian, qua mối quan hệ xă hội. Người quân tử sống an nhiên tự tại với thiên nhiên, và cảnh vật như ta nghe Nguyễn Trăi trong bài “Côn Sơn Ca”:

 

        Côn Sơn có khe

        Tiếng nước chẩy ŕ rầm

         Ta lấy làm đàn cầm

        Côn Sơn có đá

        Mưa xối rêu xanh đậm

         Ta lấy làm chiếu thảm

 

Và rồi một Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bài “Nhàn” lại có những câu:

 

        Ta dại ta t́m nơi vắng vẻ

Người khôn người đến chốn lao xao.

 

Tác giả có thật là người dại không? Hẳn là không, cái dại ở đây, trên một khía cạnh nào đó, chính là cái khôn của người từng trải. Kinh nghiệm trần thế vốn đă cho ta thấy muốn được thư thái, an b́nh trong tâm hồn thường chỉ có ở những nơi vắng vẻ, yên tĩnh với không khí thiền, ngược lại chỗ ồn ào, xôn xao tâm hồn dễ bị giao động.

Có thể nói DTT là thuộc tính tất yếu của văn học mà một khi đă được ghi nhận là thuộc tính,  th́ hẳn nhiên không nên có sự đánh giá.Từ đó đă có quan niệm cho rằng nếu không có DTT, không thể là con người thực sự. Chế độ cộng sản chủ trương “tam vô” (gia đ́nh, tổ quốc, tôn giáo) tức đă chối bỏ DTT, khiến cho con người bị chế độ này áp bức dễ trở thành tàn bạo, vô lương tâm.

Với quê hương Việt Nam, ngay từ thời dựng và giữ nước, trong những tác phẩm giá trị của tiền nhân để lại đă đậm nét hồn Việt trong những ngôn từ dân tộc.

Điển h́nh như trong bài “Nam Quốc Sơn Hà”của Lư Thường Kiệt, hoặc như Truyện Kiều, một trường thi sâu sắc nhất từ h́nh thức (thơ lục/bát – một thể thơ mang bản sắc dân tộc, bắt nguồn từ ca dao, tiếng nói tâm thức của người dân) đến nội dung đậm đà t́nh và nghĩa.

Trở lại với văn học dân gian, mỗi khi trên bước đường lưu lạc, ḷng nhớ cố hương, niềm nhớ gắn liền với đất nước, với những kỷ niệm ngọt bùi cay đắng trong những ngày nắng mưa, gió mùa, khuya sớm, như trong câu ca dao:

 

          Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương

         Nhớ ai dăi nắng dầm sương

         Nhớ ai gánh nước bên đường hôm nao

 
   

    Ca dao chính là nguồn sữa mẹ nuôi dưỡng hồn dân tộc. Những h́nh ảnh miền quê sau lũy tre xanh khó phai mờ một khi hồn Việt c̣n canh cánh bên ḷng hun đúc t́nh quê. Nhà thơ Hàn Mặc Tử đă có lần gợi lại qua những vần t́nh tự:

 

          Chị ấy năm nay c̣n gánh thóc

         Dọc bờ sông trắng nắng chang chang.

 

DTT c̣n là một khái niệm thuộc phạm trù tư tưởng-thẩm mỹ, có mối liên hệ giữa văn học và dân tộc. DTT không hẳn là một yếu tố định vị, bất biến, bởi với cộng đồng nhân loại ta c̣n có những liên hệ, ảnh hưởng lẫn nhau qua giao tiếp, từ đó ít nhiều ǵ cũng có sự pha trộn đem lại những nét mới, hoàn thiện và thăng hoa phẩm chất dân tộc

. V́ vậy có thể nói “nhân loại tính” là thước đo DTT. Sự giao thoa văn hóa và văn học nghệ thuật có thể phong phú hóa, hiện đại hóa DTT cho nhau.

Văn học và văn hóa lên tiếng bằng ngôn từ nghệ thuật. Qua các thể loại của văn chương truyền miệng, và độc đáo trong thơ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, người ta thấy được vẻ đẹp của văn hóa truyền thống, những bức tranh dân gian linh hoạt, ư nhị. Ngoài ra c̣n qua những kịch tác phẩm.

 
   

Văn học không chỉ ở đề tài mà c̣n ở tinh thần sáng tác của tác giả đồng thời ở tinh thần tiếp nhận nơi độc giả. Do đó văn học là thước đo vừa ước lượng vừa kiểm nghiệm phẩm chất cũng như tŕnh độ văn hóa xă hội trong từng giai đoạn. Thơ Tản Đà được coi như là xen kẽ giữa cũ và mới, giữa văn hóa truyền thống Đông phương và văn hóa hiện đại Tây phương trong bước đầu hội nhập.

Có thể nói mất bản sắc dân tộc trong văn học th́ văn học của dân tộc đó cũng không c̣n, các tác phẩm của cá nhân đó cũng không c̣n giá trị văn học thuần túy nghệ thuật nữa và đương nhiên không được chấp nhận là văn học dân   tộc. Một thí dụ là trường hợp thơ của Tố Hữu:

 

       Thương cha thương mẹ thương chồng

      Thương ḿnh thương một thương ‘ông’ thương mười

 

hoặc:

 

       Yêu biết mấy nghe con tập nói

       Tiếng đầu ḷng con gọi Stalin

 
   

Trước hết với góc nh́n của con mắt nghệ thuật, hai câu trên đúng ra là những khẩu hiệu tuyên truyền cho một chủ nghĩa qua h́nh thức tôn sùng cá nhân hơn là thơ v́ đă tước bỏ yếu tố nghệ thuật của thơ là tiếng nói tâm thức của hồn Việt, đă pha mầu chính trị làm mất đi bản sắc văn hóa dân gian. Văn hóa dân tộc nào cũng thế, không chấp nhận thứ t́nh cảm yêu thương một ngoại nhân gấp mười lần t́nh cảm dành cho người thân, cho cha mẹ, chồng con.

Trở lại với loại thơ phi bản sắc dân tộc, cố thi hào Vũ Hoàng Chương đă có lần sau biến cố “Quốc Hận” tháng Tư 1975, nhân khi được mời (với tính cách ép buộc) tham dự “Đêm Họp Mặt Văn Nghệ’ chủ yếu là để nhà thơ họ Vũ đề cao thơ Tố Hữu, dơng dạc lên tiếng:

 

Thi nhân từ cảm xúc mỗi lúc tác động vào tâm cảnh để hồn trí phản ứng theo thất t́nh con người mà vận dụng thi tứ phô diễn nên lời một t́nh tự nào đó rồi đăi lọc thành thơ. Sự vận dụng càng xuất thần, việc phô diễn càng khẩu chiếm, thơ càng có giá trị cao […] Thơ vốn là mộng, là tưởng tượng, là tách rời thực tế, nhưng mộng trên những t́nh tự thực, không chấp nhận loại t́nh tự hư hoang […] Nói thơ là nói đến thế giới huyễn tượng trên sự thực để thăng hoa sự thực. Tiếng khóc, tiếng nói của bà mẹ trong thơ Tố Hữu là tiếng tuyên truyền không có sức truyền cảm, nó trở nên gian dối, hoang tưởng, vô giá trị cả về phương diện văn học lẫn dân tộc tính. Điều khẳng định ở đây  không có một bà mẹ Việt Nam chân chính nào có thể lên tiếng nói, tiếng khóc như bà mẹ giả tưởng của Tố Hữu.”

 

Có thể nói DTT thể hiện rơ nét nhất ở ngôn ngữ v́ ngôn từ là yếu tố cần thiết của văn chương. Đặc tính giầu h́nh ảnh và nhạc tính của ngôn ngữ Việt quả đă là điều kiện thuận lợi cho việc sáng tác và tŕnh diễn. Từ xưa ta đă có câu “Thi trung hữu nhạc/họa.” Ngoài những áng ca dao, Truyện Kiều là một tuyệt tác phẩm với những h́nh ảnh và từ ngữ gợi thanh đầy thi tính.

         Nao nao ḍng nước uốn quanh

          Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bác ngang

hoặc:

         Dưới cầu nước chẩy trong veo

          Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha

 

Mầu sắc dân tộc trong văn học là ǵ nếu không là những t́nh tự phát xuất từ nếp sống đơn sơ, hồn nhiên nơi miền thôn dă. Trong thơ Nguyễn Bính người ta cũng đă cảm nhận điều này qua những câu:

 

        Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông

         Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào

 

H́nh ảnh biểu trưng làng quê mộc mạc, nên thơ, không là nơi xa hoa tráng lệ, phồn hoa. Như nỗi nhớ qua sự ví von:

 

         Gió mưa là bệnh của trời

         Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

 

Nhà thơ dùng các danh xưng c̣n vương ư e dè, ư nhị, khác với một Xuân Diệu sôi nổi, cuồng nhiệt theo cường độ lăng mạn Tây phương, âu cũng là dấu hiệu chuyển ḿnh phần nào của DTT vậy:

                     Trời ơi!… ôm lấy say sưa

                     Mặt khao khát mặt ḷng mơ ước ḷng

hoặc:

                     Áo em để lại dáng h́nh

                    Treo trên mắc áo cho ḿnh thấy thương

 

Văn học và giáo dục đồng hành trong việc xây dựng nền văn hóa mang DTT sâu sắc, đầy đặn ư t́nh. Tại Việt Nam trước đây những nhà văn tên tuổi với những tác phẩm giá trị của họ ta có thể kể như:

“Việc Làng, Lều Chơng” của Ngô Tất Tố

“Con Trâu, Chồng Con” của Trần Tiêu

“Làm Lẽ, Sống Nhờ” của Mạnh Phú Tứ

“Quê Người” của Tô Hoài

Con đường mà nhân loại đă đang đi chính là hành tŕnh tiến tới các giá trị nhân văn với mọi nền văn hóa. Tuy nhiên với Việt Nam trong tinh thần Việt hóa tài t́nh nên vẫn duy tŕ và thể hiện được bản sắc riêng của ḿnh.  Éo le thay, một đất nước với tinh thần hiếu ḥa lại phải đối đầu với giặc ngoại xâm, phải chịu đựng hai phần ba lịch sử chiến tranh.

 
   

  II-    Nhận định của Khoa Tiếng Việt Trường Đại Học

               Hà Tĩnh  năm 2012               

          Khoa Tiếng Việt    khảo cứu rồi   đưa ra  những nhận định sau đây:   mỗi tác phẩm văn học ít nhinhiều đều mang dấu ấn riêng về văn hóa, phong tục tập quán hay tâm lí, tính cách đặc trưng của dân tộc ḿnh.   Sau đây là những tính cách đặc trưng:

Tính dân tộc có thể được hiểu là những đặc điểm nổi bật của cộng đồng người  có chung lănh thổ, ngôn ngữ, phương thức và chế độ chính trị trải qua một thời ḱ lịch sử lâu dài. Tính dân tộc không bộc lộ một cách rơ ràng, cụ thể thành yếu tố hữu h́nh mà nó thấm vào trong cảm xúc, trong cách nh́n và phương thức thể hiện của tác phẩm. Nhà văn không phải cứ chăm chú miêu tả về cảnh sắc thiên  nhiên hay kể về những tên đất, tên làng gắn liền với dân tộc ḿnh đang sinh sống th́ tác phẩm mới có tính dân tộc.  Đọc tác phẩm “Truyện Kiều” của Nguyễn Du,    chúng ta thấy trong tác phẩm xuất hiện nhiều địa danh, nhân vật, kể cả cốt truyện đều có nguồn gốc từ đất nước Trung Hoa, nhưng người đọc vẫn cảm nhận được tâm hồn dân tộc thấm đẫm trong những trang Kiều.

 Rơ ràng một tác phẩm có tính dân tộc là tác phẩm thể hiện được “tính cách dân tộc và cái nh́n dân tộc đối với cuộc đời”.   Tính cách dân tộc là “những nét phẩm chất lặp đi lặp lại tạo thành bộ mặt tinh thần của dân tộc”. Chẳng hạn,  người phụ nữ Việt Nam từ xưa đến nay đều có chung một nét tính cách phổ biếnchịu thương, chịu khó, giàu đức hi sinh, giàu ḷng  yêu thương và  thủy chung, son sắt. Tính cách đó đă h́nh thành từ thời xa xưa, được  lưu giữ qua truyền thuyết, truyền tụng trong nhiều bài ca dao và truyện kể khác

 
 

 

 Đến thời ḱ văn học trung đại ta bắt gặp tính cách ấy trong h́nh tượng nàng Kiều – một người con gái rất mực xinh đẹp, tài hoa. Mặc dù đang sống trong cảnh “ êm đềm trướng rũ màn che” nhưng khi gia đ́nh gặp cơn nguy biến, Kiều sẵn ḷng hi sinh mối t́nh đầu đẹp đẽ của ḿnh với Kim Trọng, hi sinh cả bản thân ḿnh để bán ḿnh cứu cha “Làm con trước phải đền ơn sinh thành”. Mười lăm năm lưu lạc với biết bao đau đớn, ê chề, tủi nhục cũng không làm phai nhạt đi những nét tính cách, phẩm chất đáng quí của nàng mà ngược lại chính hoàn cảnh éo le càng làm nổi bật thêm vẻ đẹp tâm hồn đó . Tác giả  khắc hoạ một nàng Kiều đầy đủ nhất với tấm ḷng trong trắng, thủy chung, giàu đức hi sinh và luôn dành hết nỗi lo lắng, nhớ thương cho những người mà Kiều thương yêu:

               Nhớ ơn chín chữ cao sâu

               Một ngày một ngả bóng dâu tà tà.

               Dặm ngàn nước thẳm non xa,

              Nghĩ đâu thân phận con ra thế này!

               Sân hoè đôi chút thơ ngây.

              Trân cam, ai kẻ đỡ thay việc ḿnh?

              Nhớ lời nguyện ước ba sinh,

              Xa xôi ai có thấu t́nh chăng ai ?

              Khi về hỏi liễu Chương Đài,

              Cành xuân đă bẻ cho người chuyên tay?

              T́nh sâu mong trả nghĩa dày,

              Hoa kia đă chắp cành này cho chưa?

 
   

 Ở đây, ta thấy một nàng Kiều có ư thức thật sự về thân phận, đó là con người dịu dàng mà cương quyết, sẵn sàng hi sinh phẩm giá, mạng sống của ḿnh cho những người thương, cho lẽ phải và ḷng tự trọng.

            Phải chăng những tính cách, phẩm chất đó là điển h́nh cho vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tổng ḥa những tính cách tiêu biểu mang đậm cốt cách,  truyền thống của con người Việt, dân tộc Việt ?

            Tính dân tộc c̣n thể hiện ở cái nh́n dân tộc đối với thế giới xung quanh, là biểu hiện đầy đủ nhất những cảm nhận của nhà văn, nhà thơ trước không gian, thời gian và các mối quan hệ giữa con người với con người. Đọc thơ Nguyễn Trăi, Nguyễn Bỉnh Khiêm hay Nguyễn Khuyến ta nhận ra điệu hồn dân tộc thể hiện qua những trăn trở, nghĩ suy về nhân t́nh thế thái hay đơn giản chỉ là  những  rung động, xúc  cảm của các nhà thơ trước cảnh sắc thiên nhiên. Nguyễn Trăi –một quan đại thần thời nhà Lê đă có lúc từ bỏ chốn quan trường với những bon chen, đố kỵ, để t́m  về núi Côn Sơn  ở ẩn, sống chan hoà với thiên nhiên cảnh vật: 

               Côn Sơn có khe, 
              Tiếng nước chảy ŕ rầm. 
              Ta lấy làm đàn cầm. 
              Côn Sơn có đá, 
              Mưa xối rêu xanh đậm, 
              Ta lấy làm chiếu thảm. 
              Trên núi có thông, 
              Muôn dặm rờn rơn biếc một vùng, 
              Ta tha hồ ngơi nghỉ ở trong.

                                              (Côn Sơn ca, Nguyễn Trăi)

 

Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng mang tâm trạng thoải mái, thanh thản khi được sống một cuộc đời b́nh dị, thanh nhàn  trong thế giới tự nhiên:

             " Một mai, một cuốc, một cần câu

               Thơ thẩn  dầu ai vui thú nào

                Ta dại ta  t́m nơi vắng vẻ

               Người  khôn người đến  chốn lao xao

               Thu ăn măng trúc, đông ăn  giá

               Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

                                                              ( Nhàn- Nguyễn Bỉnh Khiêm)

C̣n với Nguyễn Khuyến, người  được mệnh danh là “ nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam” th́ bước vào thơ ông ta có cảm tưởng như bước vào một thế giới riêng biệt, thế giới bên trong luỹ tre làng, tách hẳn với thế giới bên ngoài. Trong cái thế giới đó là khung cảnh làng quê với bờ tre bụi trúc, cảnh nước lụt đồng chiêm, bầu trời thu xanh ngắt, ao thu lạnh lẽo, lưng dậu phất phơ màu khói ….. tất cả đều thân thương và nhuốm màu sắc thôn quê Việt Nam.

           Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

           Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

           Sóng nước theo làn hơi sợi tí

           Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo

          Tẩng mây lơ lửng trời xanh ngắt

           Ngơ trúc quanh co khách vắng teo

 
   

Rơ ràng sự cảm nhận, cái nh́n  đối với thế giới xung quanh  của các nhà thơ trung đại là biểu hiện đặc trưng cho  tính dân tộc  của những con người sinh sống ở một nước nông nghiệp trong một chế độ phong kiến kéo dài hàng thế kỉ. Các nhà thơ trung đại suy nghĩ, cảm nhận và chiêm nghiệm về cuộc đời, con người qua cảnh sắc thiên nhiên xung quanh và thiên nhiên là nơi gửi gắm tâm t́nh, t́nh cảm, thậm chí  thiên nhiên c̣n trở thành thước đo cho vẻ đẹp của con người.

             Bàn về tính dân tộc trong văn học nghệ thuật, nhà nghiên cứu người  Nga A.Tôn xtoi đă từng nhận định "Nghệ thuật dân tộc là nghệ thuật mang mùi hương đất đai, trong tiếng mẹ đẻ mỗi từ dường như có hai lần ư nghĩa nghệ thuật… " Quan điểm đó rất đúng bởi v́ tác phẩm văn học nghệ thuật  là sản phẩm riêng của cá nhân nghệ sĩ, nhưng  đằng sau mỗi người nghệ sĩ bao giờ cũng mang bóng dáng của dân tộc, giai cấp mà họ đang sống. Vậy nên tinh thần dân tộc luôn thấm đẫm trong từng câu chữ, trong cách cảm cách nghĩ của mỗi nhà văn, nhà thơ. Và cũng chính đặc thù của đời sống dân tộc đă mang lại cho văn học của dân tộc ấy một bản sắc riêng độc đáo được bảo tồn lưu giữ qua nhiều thế hệ.

Tài liệu tham khảo

1.    Phương Lựu ( chủ biên)- Lí luận văn học, NXB Giáo dục, 2006

2.    Tuyển tập một số tác gia văn học Việt Nam