Nguyễn Trường Tộ

          nhà cải cách xă hội Việt Nam ở thế kỷ 19

                      Người viết  : ẩn danh

 

 

Ông Nguyễn Trường Tộ sinh vào khoảng năm 1830  trong một gia đ́nh Công giáo tại làng Bùi Chu], huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Cha là Nguyễn Quốc Thư, một thầy thuốc  Đông y, nhưng mất sớm.

Người ta không biết chắc ông đă lập gia đ́nh lúc nào, chỉ biết ông sinh một trai, một gái. Người con gái lấy chồng ở một làng kế cận. Người con trai là Nguyễn Trường Cửu (ông mất khi Trường Cửu mới được 18 tháng), có tư chất thông minh, được học hành, thường được gọi là "Đồ Cửu". Ông Cửu mất vào khoảng năm 1942, và đă để lại tác phẩm Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ.

Ông Nguyễn Trường Tộ đột ngột từ trần ngày 22 tháng 11 năm 1871  chỉ mới 41 tuổi. Nhiều chứng cứ cho thấy ông mất v́ bệnh xuất huyết bao tử. Riêng Giám mục Gauthier cho rằng ông bị đầu độc. Sau khi qua đời, di hài của ông được an táng tại thôn Bùi Chu (nay ở xóm 1, làng Bùi Chu, xă Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An).. Ngày 21 tháng 1 năm 1992, Bộ Văn hóa đă xếp hạng di tích cấp quốc gia. Năm 1996 huyện Hưng Nguyên đă đầu tư kinh phí xây dựng, nâng cấp khu di tích với diện tích 1062m², gồm 2 phần: phần mộ và phần vườn mộ, xung quanh được xây hàng rào bảo vệ, bên trong trồng hoa và cây cảnh, trở thành một khu lăng mộ hoàn chỉnh.

 
   

Đời sống  tư

 Thuở thiếu thời, Ông Nguyễn Trường Tộ  học chữ Hán với cha và các thầy ở trong vùng, học giỏi nên được truyền tụng là "Trạng Tộ". Sau khi thôi học, ông mở trường dạy chữ Hán tại nhà, và  tại Nhà chung Xă Đoài (xă Nghi Diên, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An). Tại đây, ông được Giám mục người Pháp tên là Gauthier (tên Việt là Ngô Gia Hậu),dạytiếng Pháp và một số hiểu biết về các môn khoa học thường thức phương Tây.  Cuối năm 1858, ông theo Giám mục Gauthier vào Đà Nẵng tránh nạn "phân tháp" (sáp nhập hai ba gia đ́nh Công giáo vào trong một làng không Công giáo, và  theo  sang Hương Cảng (Hồng Kông) năm 1859

Đời sống  công khai

Đầu tháng 2 năm 1861, ông Nguyễn Trường Tộ về đất nước.  Đầu tiên, ông nhận phiên dịch các tài liệu chữ Hán cho thực dân Pháp. Ông viết bài "Trần t́nh" ngày 7 tháng 5 năm 1863 rằng: ông nhận làm phiên dịch cho Pháp để mong góp phần vào việc ḥa đàm. ..cho tới ngày 29 tháng 11 năm 1861 Đô đốc Louis-Adolphe Bonard lên thay Đô đốc Léonard Charner  xua quân mở rộng cuộc chiến. Thấy vậy, ông không trông mong ǵ ở cuộc "nghị ḥa" nên xin thôi việc.

 

Hết ḷng v́ đất nước

Sau khi thôi việc, ông Nguyễn Trường Tộ đă dồn hết tâm trí vào việc thảo kế hoạch giúp nước, nhờ sự hiểu biết sâu rộng về các phương diện chính trịkinh tếvăn hóakhoa học kỹ thuật. Đến đầu tháng 5 năm 1863, ông thảo xong ba bản điều trần gửi lên Triều đ́nh Huế là: "Tế cấp luận", "Giáo môn luận" và "Thiên hạ phân hợp đại thế luận", kèm theo  những nhận định như sau:

Ngày nay các nước phương Tây đă bao chiếm suốt từ Tây Nam cho đến Đông Bắc, toàn lănh thổ châu Phi cho tới Thiên Phương, Thiên Trúc, Miến Điện, Xiêm La, Tô Môn Đáp Lạp, Trảo Oa, Lữ Tống, Cao Ly, Nhật Bản, Trung Quốc và các đảo ở ngoài biển, kể cả Tây châu, không đâu là không bị chẹn họng bám lưng. Nước Nga th́ từ Tây Bắc đến Đông Nam gồm tất cả các nước Đại Uyển, Cốt Lợi Cán, Mông Cổ và các xứ ở Bắc Măn Châu, không đâu là không chiếm đất và nô dịch dân những nơi đó. Ở trên lục địa, tất cả những chỗ nào có xe thuyền đi đến, con người đi qua, mặt trời, mặt trăng soi chiếu, sương mù thấm đọng th́ người Âu đều đặt chân đến, như tằm ăn cá nuốt, ở đâu thuận với họ th́ phúc, chỗ nào trái với họ th́ họa; ai ḥa với họ th́ được yên, ai cự lại th́ dùng binh lực giao tranh; trong thiên hạ không ai dám kháng cự lại họ .

 Song tất cả  ba bản điều trần đều không được phúc đáp. Đầu năm 1864, ông lại gửi cho đại thần Trần Tiễn Thành một bản điều trần nữa (hiện thất lạc) để thuyết phục Triều đ́nh Huế nên tạm ḥa với Pháp và mở rộng bang giao.

Trong thời gian phái bộ Phan Thanh Giản ở Pháp về Sài G̣n chờ tàu để đi Huế (từ ngày 18 đến 24 tháng 3 năm 1864), ông đă đến tiếp xúc với các chánh phó sứ để thảo luận nhiều vấn đề liên quan đến việc xây dựng và bảo vệ đất nước. Sau đó, ông viết "Lục lợi từ" (c̣n có tên "Dụ tài tế cấp bẩm từ", tháng 6 năm 1864) rồi gửi lên Triều đ́nh, nhưng sau đó cũng không được phúc đáp. Ông đă viết bài tấu lên vua " Người da trắng nếu ta đối xử tốt với họ, họ cũng sẽ đối xử tốt với ḿnh. C̣n nếu không, họ sẽ chiếm nước ta thành thuộc địa, giống như người da đen ". Tuy nhiên, bài tấu của ông bị họ Phan  ngăn cản. Từ đó xảy ra chiến tranh Việt Nam.

Trong quăng thời gian năm 1862-1864, bằng sự hiểu biết của ḿnh, ông đă thiết kế và chỉ đạo việc xây cất tu viện Ḍng Thánh Phaolô Sài G̣n (nay ở số 4 đường Tôn Đức Thắng). Đây là một công tŕnh kiến trúc theo kiểu châu Âu có quy mô và có giá trị bền vững cho đến tận ngày nay.

Trong quăng thời gian cuối năm 1864 cho đến đầu năm 1865, ông đă viết ba văn bản gởi cho ông Trần Tiễn Thành,: "Góp ư về việc mua và đóng thuyền máy" "Góp ư về việc đào tạo người điều khiển và sửa chữa thuyền máy.  

Rồi ông viết từ Nghệ An gởi cho ông Trần Tiễn Thành văn bản: "Góp ư về việc Khai hoang từ" (tháng 2, 1866) bức thư đề ngày 15 tháng 6 năm 1866), nói ông nóng ḷng việc canh tân đất nước, vua và một số quan lại bảo thủ hăy c̣n nghi kỵ ḿnh.

Ở Nghệ An, năm Tự Đức 19, Bính Dần (1866) ông giúp Tổng đốc Nghệ An Hoàng Tá Viêm  đào kênh Sắt ở Hưng Nguyên, ông đi khám xem h́nh đất, thế đất, chỉ lối cho mà đào... Kênh hoàn thành, ông Tộ có làm bài thơ mừng Kênh Sắt .

 
 

 

Ngày 17 tháng 8 năm 1866, ông Nguyễn Trường Tộ cùng với Giám mục Gauthier và Linh mục Nguyễn Điều tới Huế được vua Tự Đức tiếp kiến ở nhà Tả Vu trong Tử Cấm thành (Huế), được hỏi han nhiều điều, và được nhà vua nghe theo.

Ngày 15 tháng 9 năm đó, phái đoàn Giám mục Gauthier và ông Nguyễn Trường Tộ đi tàu của nhà vua vào Sài G̣n, tiếp xúc với Đô đốc Lagrandière và Lănh sự Tây Ban Nha để nắm t́nh h́nh theo yêu cầu của Triều đ́nh.

Sau đó, ông Nguyễn Trường Tộ đă có sáu bản báo cáo gởi về Huế. Qua các văn bản này, ông tŕnh bày cho Triều đ́nh thấy là có một sự khác nhau giữa ư đồ của Pháp soái ở Sài G̣n và chính sách của chính phủ ở Pháp. Pháp soái th́ muốn bằng mọi cách thôn tính hoàn toàn sáu tỉnh Nam Kỳ và áp đặt trên phần đất c̣n lại của Việt Nam một hiệp ước bảo hộ; trong khi ấy ở chính quốc, th́ có nhiều dư luận chống đối các cuộc phiêu lưu quân sự ở các vùng đất xa xôi...

 
   

Ngày 10 tháng 1 năm 1867, phái đoàn Giám mục Gauthier và Nguyễn Trường Tộ đi Pháp mua sách vở, dụng cụ, máy móc...để lập trường học kỹ thuật ở Huế..

Ngày 29 tháng 2 năm 1868, phái đoàn Giám mục Gauthier và Nguyễn Trường Tộ về tới Huế. Sau khi xem xét các thứ mua về cho trường học và các thứ mà Bộ Hàng hải Pháp gửi tặng, vua Tự Đức cho phép xây trường học kỹ thuật trên mảnh đất nằm giữa nhà thờ Kim Long và Ṭa Giám mục Huế.... Theo tờ tấu của Viện Cơ mật đề ngày 4 tháng 3 năm 1868, th́ các thành viên trong đoàn đều được nhà vua ban thưởng tiền và lụa...

Trong thời gian từ cuối tháng 2 cho tới cuối tháng 4 năm 1868, Ông Nguyễn Trường Tộ đă gởi cho Triều đ́nh ít nhất là 9 văn bản. hầu hết nói về vấn đề sứ bộ đi Pháp. Triều đ́nh vua Tự Đức lúc bấy giờ chỉ quan tâm tới việc làm sao lấy lại được 6 tỉnh Nam Kỳ đă mất vào tay Pháp, vua Tự Đức nhất định cử một phái bộ sang Pháp để điều đ́nh với chính phủ Pháp. Đối với vấn đề quan trọng này, quan điểm trước sau như một của Nguyễn Trường Tộ là phải tự lực tự cường để lấy lại phần đất đă mất, chứ không thể van xin nài nỉ. Tuy nhiên, ông Nguyễn Trường Tộ kiến nghị với Triều đ́nh là không nên sai sứ bộ sang Pháp điều đ́nh mà chỉ nên gởi sứ bộ vào Sài G̣n thương thuyết.

 
   

Ngày 18 tháng 4 năm 1868Bộ Lễ lại cấp phép cho ông Nguyễn Trường Tộ trở về Nghệ An..Về lại Nghệ An, ông bắt tay vào việc vận động dân vùng Xuân Mỹ (Nghệ An) thường xuyên bị úng lụt đến nơi ở mới. Trong những năm này, ông vẫn đều đặn gửi lên triều đ́nh Huế các bản điều trần về thời sự.

Tháng 10 âm lịch năm Tự Đức thứ 23 (năm 1870), ông Nguyễn Trường Tộ gửi thư lên Triều đ́nh đề nghị lập lănh sự ở Sài G̣n và sứ quán ở Pháp để nắm t́nh h́nh. Đầu tháng 11 năm đó, ông lại xin được vào Nam tổ chức đánh úp quân Pháp để thu hồi 6 tỉnh Nam Kỳ, nhân lúc Pháp đang thua Phổ (Đức) và Cách mạng Pháp đang nổi dậy.

Ngày 28 tháng 12 năm 1870, trong bản tấu của Viện Cơ mật dâng lên vua Tự Đức có đoạn:

..."Bọn thần tuân phụng xét duyệt các khoản mật trần của Nguyễn Trường Tộ thấy y cũng có ḷng với ta và chính lúc này là lúc có thể thừa cơ hội được. Ư kiến của bọn thần cũng đồng với các lư lẽ của thần Trần Tiễn Thành tâu xin. Nhưng xét v́ đây là việc quân quốc trọng sự cần phải bàn thảo kín đáo kỹ lưỡng mới bảo đảm không nguy hiểm trở ngại sau này. Nay bọn thần chưa giáp mặt y bàn tính mà đă vội giao cho y thám sát những việc cần phải làm, lỡ ra có chỗ nào chưa được chu đáo, sợ sẽ sinh trở ngại. Vậy xin cho Bộ Lễ lấy lư do phái đem người qua Tây học tập, khẩn tư cho tỉnh thần Nghệ An lập tức cấp ngựa, sức y lên kinh ngay để bọn thần ở Viện Cơ mật và Ṭa Thương Bạc đối diện hỏi bọn y xem suy tính cơ nghi như thế nào cho được chu thỏa. Bọn thần sẽ suy nghĩ chín chắn đôi ba lần và phúc tâu đầy đủ. Vậy dám xin có lời tâu bày, đợi chỉ tuân hành."

Đầu năm 1871, ông Nguyễn Trường Tộ nhận được lệnh cấp tốc ra Huế với lư do "đưa học sinh đi Pháp", nhưng kỳ thực là để bàn bạc với vua Tự Đức về phương lược quân sự và ngoại giao mà ông đă tŕnh bày trong các văn bản gởi cho Triều đ́nh cuối năm 1870. Nhưng Triều đ́nh Huế bàn đi tính lại mà không đi đến được một quyết định nào:, kế hoạch đánh úp Pháp để thu hồi 6 tỉnh ở Nam Kỳ cũng không được thực hiện...

Các bản điều trần

Ta có thể chia các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ thành  bốn giai đoạn

 

A.    Khi Nguyễn Trường Tộ ở Gia Định từ năm 1861 đến đầu năm 1866 ông đă  đệ đạt 7 bản điều trần

     1-Thiên hạ đại  thế luận (5.6. 1862) bàn về  những t́nh thế lớn trong thiên hạ.

     2- Bàn về việc tự do tôn giáo  ( 26 tháng 3 năm 1863)

     3- Bài Trần t́nh   ( 13.5.  1863)

     4- Kế hoạch duy tŕ  hoà ước mới ( tháng 3 năm  1864)

     5-(Kế hoạch làm cho dân giàu  nước mạnh ( tháng 6 năm 1864)

     6-Về việc mua  và đóng thuyền máy ( cuối 1864 đầu  1865)

     7-Về việc đào tạo người sửa chữa thuyền máy ( tháng  3- 1865)

B-   Khi có  tín nhiệm với triều đ́nh, Nguyễn Trường Tộ  ra Huế và về Nghệ An từ đầu năm 1866 đến đầu năm 1867 rồi đi Pháp, ông đệ đạt 18 bản điều trần

    8-Kế hoạch khai thác tài nguyên đất nước (tháng 2 – 1866)

    9- Về việc mua tầu London  ( tháng 2 -1866)

   10- Thảo thư gửi   Tây Soái  (đầu năm 1866)

   11- Tâm sự với Trần Tiến Thành  ( 19.3.  1866)

   12-  Những việc Giám Mục  Gauthier có thể giúp  ( 17.5. 1866)

   13- Ngôi vua là quư, chức quan là trọng  ( cuối tháng 5. 1866)

   14- T́nh h́nh lương giáo ở Nghệ An  ( 4.6 . 1866)

15-     Lại tâm sự với Trần tiến Thành (15.6.  1866)

16-     Bài bạt mừng đào xong Thiết Càng  ( giữa năm 1866)

17-     Dùng Giám Mục và linh mục vào việc canh  tân  ( 18.8.  1866)

18-     Về viêc học thực dụng (1.9.  1866)

19-     Về phải tạm  thời  dựa vào Pháp  ( 3.9. 1866)

20-     Về khả năng lấy lại ba tỉnh miền Đông [Nam Kỳ] (1866)

21-     Về khả năng vận động ở Pháp để giữ ba tỉnh miền Tây [Nam Kỳ] (1866)

22-     Bá cáo về việc  gặp lănh sự   Tây Ban Nha (3. 11.  1866)

23-     Báo cáo về một số việc  cần làm ( 5. 11.  1866)

24-     Kế ly gián giữa Anh và Pháp ( 24. 12.  1866)

25-     Điều trần về hội nước ngoài (1866)

 
   

C- Trong thời gian Nguyễn Trường Tộ ở Pháp từ 10.5 năm 1866  đến 25.11.1867, ông đệ triều đ́nh Tự Đức  hai bản điều trần:

 

26- Tờ tŕnh về việc  kư hợp đồng với hội  nước ngoài  ( 12.5. 1867)

27-  Tế Cấp Bát điều:Tám việc cần làm gấp  ( 15. 11. 1867)

 

  D-  Thời gian từ khi đi Pháp về tới khi qua đời, tức từ  đầu năm 1868 đến ngày 22. 11. 1871 nghĩa à gần bốn năm, Nguyễn Trường Tộ đă dâng lên  triều đ́nh Huế 31 bản điều trần.  Đây là lúc tổ quốc lâm nguy tột bậc.   Pháp đă chiếm hết sáu tỉnh Nam Kỳ và c̣n mưu tính xâm lăng toàn cơi Đông Dương, mà Đông Dương đương  thời thuộc  quyền chi phối của Việt Nam.  Lúc này cũng là thời gian Nguyễn Trường Tộ có mức tin cậy nhất  đối với triều đ́nh và cả Tự Đức.  Cho nên  ông  đă dâng  được nhiều điều trần.  Tiêu đề của những  điều trần  ấy cũng  tạm đủ cho ta thấy ông  đă thổ lộ tâm can thiết tha cùng với những giải pháp cứu nguy và  canh tân đất nước  ,. Ba muơi  điều trần đó là :   

 
   

 28- Biểu tạ ơn vua  (  tháng 3 năm1868)

29- Tổ chức ngay việc khai mỏ đào tạo chuyên viên  ( 5.3.  1868)

30-Mục đích của sứ bộ đi Pháp( 9.3.1868)

31- Việc lập sứ quán, cử phái bộ  ( 12. 3. 1868)

32- Về việc tổ chức  cho sứ bộ đi Pháp  ( 12.3.  68)

33- Về việc  gởi người đi Pháp học   ( 13.3. 13.3 1868

34-Trả lời các câu hỏi của Triều đ́nh (15.3.1868)

35-  Nói thêm về  văn bản ngày 16.2  Tự Đức 21  ( 15.3.1868)

36- Băi bỏ việc cử sứ bộ đi Pháp ( 7.4.  1868)

37- Thương thuyết với Pháp tại Gia Định  ( 12.4.  1868)

 38- Việc tiễu trần giặc biển (tháng 8 năm 1868)

39- Kế hoạch thu hồi sáu tỉnh Nam Kỳ ( 1.2. 1871)

40- Kế hoạch đánh  úp  Gia Định ( 9.2.1871)

 
 

41- Bàn về việc  cho Pháp  thông thương để  đổi lại sáu tỉnh  ( 30.3.  1871)

42- Bàn về  quan hệ  với người nước ngoài ( 5.4. 1871)

43- Mở rộng  quan hệ với Pháp và các nước  ( 7.4.1871)

44- Kế hoạch vay tiền để dùng  vào việc binh ( 10.4.1871)

45- Về việc gởi học sinh  sang Singapore học sinh ngữ ( 14.4. 1871 )

46- Việc dịch các văn bản ngọại  giao  ( 29.4. 1871)

47-  Về việc cải cách phong tục  ( 29.4. 1871)

48-  thương lượng với Giám Mục Croc  ( 11.5. 1871)

49- T́nh h́nh chính trị nước Pháp với Công xă Paris  (tháng 5..1871 )

51- Cần nắm vững  t́nh h́nh chính trị ở Pháp ( tháng 5  1871)

52- Canh tân và mở  rộng  quan hệ  ngoại giao ( tháng 9. 1871)

53-- Về chính sách nông nghiệp  (  4.10. 1871)

54-Phải gấp rút tiến hành các kế hoạch   (tháng 10 và 11. 1871)

55-Nên mở chứ không nên đóng kín  (tháng 10 và 11 1871)

56 -Bàn về  phải quyên  tiền  sửa cầu

57- Phong vũ biểu

58-  Ta sách Đàm Thiên

 

Nội dung các bản điều trần

           đề cập đủ mọi lĩnh vực. Tóm tắt các mặt chủ yếu:

·                 Về chính trị:

Ông Nguyễn Trường Tộ tŕnh bày những chiến lược cơ bản, về những thế lớn phân và hợp trong thiên hạ ("Thiên hạ phân hợp đại thế luận", 1863) và đề xuất "Kế ly gián giữa Anh và Pháp" (1866). Không hề ảo tưởng về dă tâm của thực dân Pháp, nhưng ông rất sáng suốt chủ trương tạm ḥa hoăn với Pháp, gợi ư với nhà vua về lợi ích lớn của việc "Mở rộng quan hệ với Pháp và các nước khác"(1871)...

·                 Về nội chính:

Ông Nguyễn Trường Tộ đề nghị triều đ́nh tinh giản bộ máy chính quyền để đỡ hao tốn công quỹ, xác định rơ chức năng công việc của từng loại quan lại để khỏi phải có rất nhiều người ăn lương mà không biết làm ǵ. Mặt khác, nên có chính sách đối với những nho sinh để họ không thể dựa vào chút chữ nghĩa, trốn tránh nghĩa vụ đối với nước nhà. Ngoài ra, muốn cho đội ngũ viên chức giữ được thanh liêm th́ phải tạo điều kiện cho họ làm giàu chính đáng...

·                 Về tài chính:

Ông Nguyễn Trường Tộ đề nghị sắp đặt lại hệ thống thuế khóa cho thật công bằng hợp lư. Muốn thế phải đo đạc lại ruộng đất, kê khai nhân khẩu, tăng thuế người giàu và hàng xa xỉ ngoại nhập, đánh thuế thật nặng vào những tệ nạn như cờ bạc, rượu chè,...Ngoài ra, c̣n phải khuyến khích nhà giàu bỏ tiền ra cho vay, và vay tiền của nước ngoài...

·                 Về kinh tế:

Ông Nguyễn Trường Tộ đề nghị chấn hưng "nông, công, thương nghiệp" để làm cho dân giàu nước thịnh, bằng những hành động cụ thể như: tổ chức khai hoang, bảo vệ rừng, thành lập các đoàn tàu đem hàng nông sản đi bán, cử người thăm ḍ tài nguyên, khai thác mỏ, thành lập các cơ sở sản xuất công nghệ và đào tạo thợ kỹ thuật…Và để nền kinh tế cả nước có thể giao thông dễ dàng, th́ phải chú ư đến việc làm mới và tu bổ đường bộ và đường thủy....

 ·                 Về học thuật:

Ông Nguyễn Trường Tộ đề nghị cải cách "việc học, việc thi" để chọn được nhân tài hữu ích. Không nên tiếp tục lối học "máy móc, tín điều" kiểu Trung Hoa. Đáng chú ư là việc ông đề nghị đem các môn khoa học vào trong chương tŕnh học, nhất quyết phải dùng quốc văn (chữ Nôm) để dạy học và soạn sách, kể cả trong các giấy tờ hành chính...

·                 Về ngoại giao:

Ông Nguyễn Trường Tộ chủ trương quan hệ mềm mỏng với Pháp, và không chỉ có Pháp mà c̣n phải đặt ngoại giao với nhiều nước khác như AnhTây Ban Nha... Phải biết lợi dụng mâu thuẫn giữa các nước này để có lợi cho ḿnh. Phải đào tạo được các thông dịch viên giỏi công việc và tiếng nước ngoài..
 
   

·                 Về vơ bị:

Ông Nguyễn Trường Tộ đề nghị cải tu vơ bị nhằm tăng chất lượng của quân đội, như tổ chức lại đội ngũ, cho quân lính được học tập các binh pháp mới, mua sắm tàu thuyền và vũ khí, xây dựng pḥng tuyến cả ở thành thị lẫn nông thôn, đề pḥng quân Pháp xâm lược lan ra cả nước...

Bên cạnh đó, ông c̣n đề nghị cải cách về các mặt khác như văn hóa, tôn giáo, bảo tồn di tích lịch sử, v.v...Tuy nhiên, phần lớn những đề nghị của ông đă không được triều đ́nh nhà Nguyễn nghe theo do tầm nh́n hạn hẹp của họ và hạn chế của thời đại [.

 
   

Trích Dẫn Bản Điều Trần số :Thiên hạ Đại Thế Luận)

 Bàn về những t́nh thế lớn trongThiên hạ    Đọc kỹ nội dung bản điều trần này, chúng ta sẽ biết đây là văn kiện mà Nguyễn Trường Tộ  đă viết trước khi có ḥa ước Nhâm Tuất (5-6-1862)

Tôi là Nguyễn Trường Tộ, bề tôi nước Đại nam đă từng trốn ra nước ngoài xin dem những  diều mà tôi đă biết  và thấy một cách chính xác về  sự thể trong thiên hạ, mạo tội kính bẩm…

Ngày nay các nước phương Tây đă chiếm suốt từ Tây Nam cho đến Đông bắc, toàn lănh thổ Châu Phi cho tới Thiên Phương, Thiên Trúc, Miến Điện, Xiêm La, Tô Môn,  Đáp Lạp, Trào Oa, Lữ Tống, Cao Ly, Nhật Bản, Trung Quốc và các đảo ở ngoài biển, kể cả Tây Châu, không đâu là không bị họ chẹn họng  bám lưng.   Ở trên lục địa, tất cả những chỗ nào có xe thuyền đi đến, con người đi qua, mặt trời mặt trăng soi chiếu, sương mù thấm đọng,  th́ người Âu đều đặt chân tới, như tằm ăn cá nuốt..

 
   

Đến như địa thế Trung Hoa chiếm 1/3 Đông phương, nhân số đến 360 triệu, uy thế lẫy lừng, ai cũng phải thần phục họ cả,  thế mà từ thời Minh về sau, người Tây Phương vượt biển sang  Đông, hai bên đánh nhau, thây chất thành đống, sau phải giảng ḥa không biết bao nhiêu lần.  C̣n như ta là một xứ nóng, gần kề Quế  hải  ( Biển Đông) là trạm nghỉ chân của người Tây Phương trên đường sang Đông..

Mới đây, người Pháp thừa thế đánh xong tỉnh Quảng Đông,  đă đưa quân tinh nhuệ xuống phía Nam, làm Đà  Nẵng thất thủ.   Người Pháp đến đây, một là hỏi ta v́ sao giết hại gíao sĩ, hai là hỏi v́ sao không chịu giao thiệp, ba là xin ta cắt cho một vài chỗ để làm đường giao  thương như các nước thường làm.   Lúc đầu họ không có ư đi cướp nước ngoài.  Nếu những yêu sách của họ được thỏa măn , họ sẽ chấm dứt những hành động gây hấn.

Hiện nay quân Pháp đă chỉnh cư thành Gia Định  và các phủ huyện thuộc hạt, họ đào kinh, đắp lũy trừ kế lâu dài để tỏ ra không chịu đi, như hổ đă về rừng, rồng đă xuống biển.  Bây giờ như ta muốn cố  thủ thành tŕ đợi cho họ tê liệt th́ thật chẳng khác nào muốn quét sạch lá rừng, tát cạn nước biển.  Không ḥa mà chiến, khác nào như cứu lửa đổ thêm  dầu, không những không cứu được mà c̣n cháy nhanh hơn

Tôi thường nghiên cứu sự thay thế trong thiên hạ mà biết rằng ḥa với Pháp là thưọng sách.    Hơn nữa ở  châu Âu, việc vơ bị chỉ có nước Pháp là đứng hạng nhất, hung mạnh nhất không thua ai cả.   Thật đúng như sách Doanh Hoàn  Chí Lược  đă chép vậy..

Nếu như  ngày kia Pháp đưa quân đến th́ việc vượt biển cũng như đi trên đất bằng, trèo non  như đi trên đường bộ.  Nước ta tựa núi kề biển, địa thế như một con rắn  dài.   Nếu họ dùng  hỏa thuyền chia nhau đánh cắt các tỉnh dọc bờ biển, lại cho các tàu đậu ngoài cửa sông lớn để triệt  sự vận tải đường biển của ta, lại cho một đạo quân đóng  giữ ở Hoành Sơn để chặn đường tiếp tế bằng đường bộ  và cắt đường qua lại của đội quân Cần Vương, rồi lại đổ bộ tiến đánh các chỗ xung yếu…

Quân lính của ta lại chuyên  dùng gươm dao gậy gộc, không thạo súng ống, dù phục binh gài bẫy, nhưng trận đồ như vậy chỉ hợp cho những t́nh thế không cấp bách, chỉ đánh được gần, chứ không đánh được xa….

Hơn nữa, họ đă lăo luyện chiến trận, những phương pháp của Đông phương như dụ địch, kiêu binh, địa lôi, hỏa công, sập hầm, thuốc độc họ đều biết cả. Huống chi  việc thắng bại do ở nhuệ khí.Họ từ xa đến dấn thân vào chỗ chết với khí thế một ra đi là không trở về…

Theo binh pháp, muốn cố thủ phải có hai điều kiện, một là thành tŕ, hai là nhân tâm. Lúc địch mới đến, th́ phải gấp rút chặn những chỗ xung yếu mà đuổi nó đi.   Nếu kẻ địch đă thọc sâu vào cứ điểm, th́ phải có thành cao hào sâu để hăm kẻ địch mệt mỏi.  Đó là thượng sách. Ngày nay quân Pháp có hỏa thuyền để vận tải th́ việc vượt  muôn dặm cũng bằng chèo môt mái chèo mà thôi.Nếu cần lắm,  .th́ phải gửi giấy xin quân Anh đóng  ở  Ấn Độ, Hương Cảng, Thượng Hải…. th́ sớm chiều là có thể  đến nơi để giúp. Lại có quân của Y pha Nho ở Lữ Tống ( Phi luật Tân) đến dồn sức tấn công.,

Hiện nay t́nh h́nh trong nước rối loạn.Trời th́ sinh tai biến để cảnh cáo, đất th́ hạn hán tai ương, tiền của sức lực của dân  đă kiệt quệ… trong triều đ́nh quần thần chỉ làm tṛ hề cho vui ḷng vua, che đậy những việc hư hỏng trong nước, ngăn chặn những bậc hiền tài, chia đảng lập phái khuynh  loát nhau… ngoài ra các tỉnh th́ quan tham lại nhũng  xưng hùng xưng bá, ḅn rút mỡ dân, đục khoét  tủy nước.   Như thế loạn không phải  chỉ từ bên ngoài, mà ở ngay trong nước vậy.

Sự thế hiện nay chỉ có ḥa.

Dân sẽ yên, sau sẽ khiến kẻ hèn tài vượt biển sang  các nước học cách đánh trận giữ thành, học tập  trí xảo của thiên hạ, giao thiệp với họ lâu dài, mới biết lường  sức đo tài,  biết hết t́nh trạng của họ. Học cho tinh vi mới sinh kỹ sảo, rất mực kỹ xảo mới mạnh, bấy giờ sẽ dưỡng  uy sức nhuệ, đợi thời hành động , mất ở phía đông th́ lấy lại ở phía Tây”…

 
   

Nhận xét

Theo GS. Nguyễn Huệ Chi, th́:

Các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ đă nói lên rất rơ tấm ḷng yêu nước thiết tha của ông. Ông tin tưởng vào triển vọng canh tân của Nhật Bản, đặt hết hy vọng vào thế hệ trẻ được đào tạo bằng thực nghiệp có thể làm mạnh thế nước... Tuy chưa có ư thức thay thế thể chế phong kiến bằng một thể chế dân chủ, bởi t́nh thế đất nước chưa có phép làm điều đó, nhưng tư tưởng của ông đă tiến rất gần các nhà tư tưởng tiến hóa luận của phương Tây. Có thể nói, ông đă gợi ra cho người lănh đạo đất nước những cách nghĩ, cách nh́n cởi mở và táo bạo mà hàng thế kỷ về sau vẫn đáng để suy gẫm. Tóm lại, ông quả là một con người có trí thông minh, nh́n xa thấy rộng, có khả năng ứng dụng vào thực tế vốn liếng tri thức uyên bác cũng như những điều ḿnh sở đắc. Tiếc thay, ông lại "sinh không gặp thời", do đó ông đă không thực sự đóng một vai tṛ nào trong lịch sử, ngoài vai tṛ "làm chứng về tấm ḷng của một con người, về vận hội của một đất nước".

 
 

   Về đóng góp cho văn học Việt, ông đă để lại một lối văn mang phong cách

"chính luận - trữ t́nh": vừa phải đảm bảo sự chặt chẽ, sắt bén, khúc chiết trong phân tích (chịu ảnh hưởng khá rơ tư duy lôgic phương Tây); nhưng cũng vừa thấm đẫm cảm hứng trữ t́nh của tác giả (v́ ông phơi trải hết ḷng ḿnh), nên có sức thuyết rất mạnh. Ngoài ra, ông c̣n để lại một số di cảo thơ. Nh́n chung thơ ông mang phong cách trữ t́nh khoáng đạt, và có thể chia thành hai mảng: những bài "tức cảnh, sinh t́nh" và những bài "Ngôn chí, tự t́nh.

     Theo nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng: th́:

...Tôi không đi vào khía cạnh "đổi mới tư duy" mà ông kiên tŕ, tôi chỉ muốn nhấn mạnh những kiến nghị v́ lợi ích của đất nước, mà với tư cách một tín đồ đạo Công giáo đang bị Triều đ́nh ngược đăi, dân chúng nghi kỵ, ông không ngần ngại tŕnh bày, hy vọng nhà vua đảo ngược thế cờ, chuyển nguy thành an, chuyển yếu thành mạnh, chuyển lạc hậu thành tiên tiến cho cả quốc gia, bấy giờ, đứng trước khả năng sụp đổ không phải khó thấy.

Ông Nguyễn Trường Tộ là một trí thức - theo nghĩa gần với hiện đại. Phân tích kỹ các "điều trần", chúng ta dễ dàng phát hiện tính "không tưởng" ở một số chủ trương của Nguyễn Trường Tộ - Ông nóng vội và nhất là ông không biết cơ chế của triều Tự Đức không bao giờ cho phép suy nghĩ của ông trở thành hiện thực bởi chúng đụng đến bức tường lạc hậu kinh khủng về học vấn, về khoa học, sự mụ mẫm trong đầu các quan lại cao cấp, kể cả đấng chí tôn - nhưng ông vẫn không mệt mỏi. Tấm ḷng yêu nước thúc đẩy ông. Ta quư Ông Nguyễn Trường Tộ ở chỗ đó..

 
   

.. Theo GS.  Nguyễn Hữu Tá , th́:

:...Ở tuổi 30, Ông Nguyễn Trường Tộ đă có một vốn kiến thức rộng và sâu cả về phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật. Với tiềm lực chất xám rất quư như thế, nếu ông được tin dùng, được tạo điều kiện để hoạt động, t́nh thế có thể sẽ rất khác. Bi kịch của Ông Nguyễn Trường Tộ, ngẫm ra là một nghịch lư khó tin nhưng có thật. Yêu nước nhưng không được giúp nước vượt qua đại họa ngoại xâm; thực sự có tài năng xuất chúng nhưng vấp phải vật cản quá lớn – sự tŕ trệ bảo thủ, dị ứng với chủ trương duy tân, tự cường của triều đ́nh Tự Đức và sự nghi ngờ dai dẳng của họ với những người tin theo Công giáo.

    Bi kịch lớn lao ấy b́nh thường ra có thể nhấn sâu những con người nặng ḷng với đất nước vào t́nh trạng trầm cảm, u uất, bế tắc. Nhưng với Ông Nguyễn Trường Tộ th́ không. Ông đă bộc lộ một phẩm chất đáng tôn trọng: sự kiên tŕ nhẫn nại – nhẫn nại đến mức phi thường. Trong ṿng 10 năm (1861 – 1871), Ông Nguyễn Trường Tộ liên tục gửi đến vua Tự Đức và triều đ́nh Huế rất nhiều bản điều trần. Riêng Linh mục Trương Bá Cần đă tập hợp được 58 bản và công bố trong tập Nguyễn Trường Tộ – con người và di thảo. Gửi mà không có hồi âm, nhưng lại tiếp tục gửi nữa. Đề tài không lặp lại, nội dung hết sức phong phú đề cập đến hầu hết những vấn đề chiến lược ở tầm "quốc sách"

    Vinh danh ông Nguyễn Tường Tộ, tên ông được đặt cho nhiều trường học và đường phố tại Việt Nam.

 
   

Sách tham khảo

Trương Bá CầnNguyễn Trường Tộ – con người và di thảo. Nhà xuất bản TP. Hồ Chí Minh, 2002.

Nguyễn Huệ Chi, mục từ: "Nguyễn Trường Tộ" trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.

Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học xă hội, 1992.

Trịnh Vân Thanh, Thành ngữ-Điển tích-Danh nhân từ điển (quyển 2). Nhà xuất bản Hồng Thiêng, Sài G̣n, 1967.

Nhóm Nhân văn Trẻ, Hỏi đáp lịch sử Việt Nam (tập 4). Nhà xuất bản Trẻ, 2007.