Việc thờ cúng của dân tộc Việt Nam

                                               Biên soạn:  Dương văn Phối

 

           Common Vietnamese gesture of worship, the "lay" (pronounced "lie") is perfomed by woman at left with joss sticks in clasped hands.

 

A- Việc thờ  kính 

Dân tộc ta có tinh thần nhớ ơn: Trời Đất,Phật, Chúa, ông bà tổ tiên, tổ nghiệp, các bậc thánh nhân, Thần…. Thế nên nhà nào   cũng có bàn thờ, tủ thờ, kệ thờ… Ngoài sân  có bàn thiên

Bàn Thiện là bàn thờ Trời, là một tấm ván vuông, hoặc bằng xi măng mỗi cạnh độ 3 dm Có một chân cao hơn 1m hay một nhà nho nhỏ vuông cạnh 5 dm, để trước sân ngay cửa cái, trên có lư hương thường đốt nhang vào mỗi tối, ngày rằm có cúng trái cây.

Trong nhà có nơi thờ thổ địa, thường đặt dưới đất. Ông địa là vị thổ thần được h́nh dung ra là người bụng phệ, mặt trắng, ria quớt lên tới mép tai, bịt khăn đỏ, tay cầm quạt, tay cầm điếu thuốc.  Đây là ông thần đất. Vị thần thường được thờ trong một cái miếu nhỏ ở từng ấp từng làng, nhất là được thờ trong mỗi nhà theo đạo khổng  hay đạo Phật

Thần Tài là ông thần giữ của mỗi nhà, được thờ chung với thổ thần

Thần Táo, ông Táo, vị thần bếp được thờ bên cạnh cái bếp

Thờ Tổ Tiên.

Tổ Tiên là ông bà nhiều đời trước của một họ, được thờ ở giữa nhà.  Có họ người ta lập một  cuốn sổ để ghi tên họ ông bà, tổ tiên và công nghiệp từng người, cuốn sổ đó gọi là gia phả ( hay gia phả). Gia là nhà, theo nghĩa này gia là ḍng họ, phả ( phổ) là cuốn sổ ghi thứ tự.

 
   

Thông thường chỉ có mấy từ để gọi như ông nội, ông cố, ông sơ… Thế rồi cha của ông sơ, cha, cha, cha của những vị trước, trước nữa….. gọi ḿnh là cháu mấy đời, đời thứ mấy.

Thí dụ 

Cha      cha     cha      cha           cha         cha          cha           cha          con  

                                                   Ông sơ,   ông cố,    ông nội

  1           2         3          4               5              6               7               8               9

Theo  thí dụ này, người ta tính ông cha 1 là Nguyễn văn A,  , ḿnh là con đứng hàng thứ 9 tên là nguyễn văn Y. Vậy ḿnh là  cháu 9 đời của ông  Nguyễn văn A

Tổ tiên c̣n là tiếng gọi chung  lớp người khai sáng và xây dựng đất nước đầu tiên ờ nước ta là vua Hùng

Thờ Chúa, Phật hay các vị của nhiều tôn giáo khác  được thờ bên trên bàn thờ tổ tiên

Ngoài ra có một số gia đ́nh thờ tổ  nghiệp là ông bà tổ của nghề ḿnh đang làm như:

Tổ nghề đóng thuyền: Trần Ưng Long ..Trần Ưng Long  là  tướng của Đinh tiên Hoàng, thấy nhiều ngư phủ ngồi trên những chiếc thúng  bằng tre mà đi lại trên sông, ông bèn truyền quân đốn tre tạo ra nhiều chiếc thuyền nan qua sông Nhuệ Giang đuổi bắt được sứ quân Đỗ Cảnh Thac v́ ông này, khi bị binh Đinh Tiên Hoàng đuổi bắt, qua sông rồi nhận hết thuyền bè. Về sau người ta nhận  Ưng long là người đầu tiên chế tạo chiếc thuyền nan.

Tổ nghề đồ sành: Trương  trung Ái .   Trương trung Ái là   người làng Đầu Khê-Thanh Lâm-Hải Dương dược người Trung Hoa tên Hoàng Quang Hưng dạy nghề làm đồ sành (đồ gốm )

Tổ nghề  đúc đồng: Khổng Lồ.   Khổng Lộ  là tục danh nhà sư Nguyễn  Minh Không, hiệu Khổng lộ, một cao tăng đời Lư có tài biến nhỏ thành to. Ông lấy đất sét nặn thành khuông rồi rót đồng chảy vào, chế thành những món đồ dùng như mâm, hũ đến tượng Phật

Tổ nghề đúc tiền Lưu Xuân Tín.  Lưu Xuân Tín là  người ở vào thời vua lê Thánh Tôn, đă đăng biểu nêu ư kiến đúc tiền thay thế cho việc  trao đổi hiện vật rất bất tiện cho việc mua bán, được vua chuẩn tấu và giao cho việc  ấy, ông lấy vàng bạc đúc thành thỏi dùng làm tiền lưu hành trong nước  và rất được hữu dụng, vua thấy người có tài, phong ông làm thượng thư tài chánh. Khi mất được vua  cho lập đền thờ tại làng Châu Khê Đống An  Hải Dương BV là quê quán ông.

Tổ nghề Giấy Tiền Vàng bạc –Vương Du.    Vương Du  là quan Thượng Thư bộ Lễ đời Hậu Hán Trung Hoa, năm 105 bày cho dân đốt giấy tiền vàng bạc và đồ mă mỗi khi cúng người chết… và chính ông lập  nhà chế tạo các  món ấy bán cho dân. Ban đầu ít người hoan nghênh, cuộc làm ăn không phát đạt, ông mới dốt  gạt dân bằng một  cuộc hồi sinh giả tạo của một kẻ tâm phúc, khiến dân tin rằng kẻ ấy nhờ khi sống đă đốt nhiều giấy tiền vàng bạc nhất là khi chết được ngưởi nhà liệm theo rất nhiều giấy ấy, nên được Diêm Vương cho sống lại. Từ đó cuộc làm ăn của ông thịnh lại.

Tổ nghề hat bội :   Lê Nguyên Cát và Liên Thu Tâm                        

Lê Nguyên Cár  và Liên Thu Tâm là kép hát Tung Hoa,  được Lê Ngoạ Triều dùng giảng dạy cung nữ cách hát tuồng từ năm 1005

Tổ nghề Kim Hoàn:          Trần Ḥa và Trần Diện học được nghề chế vật trang sức bằng vàng  bạc ở Trung Hoa về phổ biến trong nước được thợ bạc tôn làm ông tổ.

Tổ nghề Măi Dâm:     Quản Trọng Tụ  Di Ngô tướng quốc nước Tề đời Đông Châu  đă đưa nước Tề từ một chư hầu yếu kém lên làm bá chủ, được nhà Thổ thờ làm tổ  tức thần Bạch Mi

 
 

 

Tổ nghề Nhựa Sơn: Trần tương Công .   Trần tương Công  là  người làng  B́nh Vọng, phủ Thường Tín, Hà Đông, làm quan dưới triều vua Lê Nhân Tôn ( 1443-1460) được vua sai sang Trung Hoa t́m nghề mới lạ, vài năm sau  ông trở về với nghề dùng nhựa sơn để tô họa và từ đó nghề dùng nhựa sơn rất được bành trướng trong xứ.

Tổ nghề thầy pháp:   Triệu công Minh.    Theo truyền thuyết Triệu công Minh  là vị tiên thuộc phái triệt giáo, công quả cao,  tu hành đắc đạo, xuống trần pḥ nhà Thương lập trận dữ , cản đường phạt Trụ của Châu Vũ Vương, chẳng may tử trận, sau được phong Kim Long Như Ỷ Chánh Nhất Long Hổ, Huyền Đàn Chơn Quân, quản suất bốn vị Kiết thần mà  cứu nhơn độ thế, về sau được thầy pháp tôn là tiên sư

Tổ nghề thầy thuốc Nam:   Tuệ Tĩnh.   Tuệ Tĩnh là người lảng Văn Thái, huyện Cẩm Giàng, phủ Ninh Giang,  Hải Dương.   Ông là một nhà sư làm nghề dạy học, được vua Đinh Tiên Hoàng mộ tài mời ra làm quan, nhưng cố tránh, bỏ quê nhà,    tới ở  phủ Đa Phúc Phúc Yên lập Chùa tu niệm, nhưng có người biết gốc tích, mách với triều đ́nh, ông phải trốn sang Trung Hoa, học nghề chữa răng với Vương Quang Thanh  và nghề thuốc   trong 10 năm. Khi nhà Tiền Lê thay nhà Đinh, ông về nước hành nghề, danh tiếng  lẫy lừng, ông có viết quyển Nam dược.

Tổ nghề thuốc bắc:    Kỳ Bá và Hiên Viên là  2 ông tổ  nghề thuốc Bắc.

Tổ nghề thêu:   Lê Công Thành.        Lê Công Thành   người quê ở Hà Đông Bắc Việt, làm Thượng Thơ triều vua Lê chiêu Tông ( 1516-1527) được vua bổ đi sứ sang Tầu và nhân dịp t́m nghề mới lạ đem về mở mang xứ sở.    Ở Tàu 10 năm, ông học được nghề thêu, đem về truyền bá, ban đầu ở các làng Hướng Dương, Vũ Lăng, Đào Xá rồi lần ra khắp xứ.

Tổ nghề dệt chiếu:   Phạm Đôn,       Phạm Đôn  là   người vùng Hoa Lư, Ninh B́nh, đỗ Trạng Nguyên đời vua Lê Thiên Phước ( 981-1006) làm quan đến chức Thượng Thư tại triều, có lần đi sứ Trung Hoa, ông học được nghề dệt chiếu, nên khi về đến nước nhà, ông xin vua được trồng lác dọc theo duyên hải Nam Định và lấy lác dạy dân dệt chiếu dùng. Sau khi ông mất, được dân làng Hải Thiện lập miếu thờ, tôn ông là ông tổ nghề dệt chiếu

 
 

 

Tổ nghề dệt:  Phủng Khắc Khoan.       Phủng Khắc Khoan ( 1528-1613) tự Hoằng Phu, hiệu Nghi Trai, người Làng Tịnh Xá, Sơn Tây Bắc Việt, chức Cam  bộ thị lang đời vua Lê trung Tôn(1533-1548) được người  đương  thời gọi là  Trạnh Bùng.    Vào năm Bính Thân ( 1596) ông vâng  lệnh vua  cùng đi với hai hoàng thân ra Nam Quan  đón khâm sai Nhà Minh để trần t́nh  việc nhà Lê phục nghiệp sau khi bị nhà Mạc thoán đoạt.  Năm Đinh Dậu (1597)ông làm chánh sứ  sang Trung Hoa để cầu phong cho vua Lê.  Ông là  tác giả Phùng Công Thi Tập, Ngư Phủ  Nhập Đào Nguyên, nhân lần đi sứ qua Trung Hoa ông có học được nghề dệt về truyền lại cho dân, nên thợ dệt  tôn ông  là Tổ nghề ấy

Tổ nghề làm ruộng:  Nhâm Diên người Trung Hoa quan Thái Thú quận Cửu Châu ( Giao chỉ Bộ) từ năm Kiến Vũ đời Đông Hán, có công dạy dân  khai khẩn đất hoang làm ruộng, đặt lễ cưới hỏi

Tích Quang :  người Hán, làm Thái Thú quận Giao Chỉ từ đời vua  Bính Đế (đầu thề kỷ 1)  khi Giao Chỉ bị bắc  thuộc lẩn thứ I , rất có công trong việc khai hóa người Nam

Thần Nông: một ông vua đời Thượng Cổ  Trung Hoa trước hai vua Nghiêu và Thuấn, người đă nếm hết các cây để trị bệnh t́m thuôc trị bịnh   và đă dạy dân trồng lúa

 
   

Tổ nghề Ấn Loát:   Lương Như Hộc   Lương Như Hộc là  người làng Lục Hồng, Hải Dương Bắc Việt, đỗ tiến sĩ năm 1442 và làm quan triều Lê Nhân Tông. Ông xin vua sang Trung Hoa học nghề Ấn Loát, nhưng đến bên ấy, bị từ chối, phải trở về tâu vua rồi giả thường dân, trở qua mở ngôi hàng cạnh xưởng Ấn loát, trà trộn qua lại nhận xét và học hỏi ṛng ră mấy năm mới rành nghề, về nước chiêu tập dân làng Liễu Trang, Gia Lộc Hải Dương để ông dạy lại và giữ độc quyền in sách vở cho nhà nước, chết được dân làng ấy thờ làm tổ sư.  Về thi văn Ông là tác giả Hồng Châu quốc ngữ thi tập và có dự việc hiệu đính tập cổ Kim Thi Gia Tinh Tuyển

Tổ nghề may:  Bà Nguyễn thị May cúng vào 12 tháng chạp

Tổ nghề thợ rèn=Ông Lữ Mông cúng vào 25 tháng chạp

Các quân binh chủng cũng có vị thánh tổ như:

Tâm lư chiến: Thánh Tổ là Ông nguyễn Trăi

Hải quân  Thánh Tổ là Ông  Trần Hưng Đạo

Công Binh: Thánh Tổ là Ông Đào Duy Từ

Truyền Tin : Thánh Tổ  là Ông Trần Nguyên Hăn

Pháo binh: Thánh Tổ  là Ông  Hồ Nguyên Trừng

 

Có một số gia đ́nh khác học chữ nho, xem  Đức Khổng Tử là Ông Tổ chữ nho, trong nhà  thờ Khổng Tử, và có ngưởi mến mộ tài đức trung nghĩa rất mục của Quan Công, cũng có thờ Ông này.

 

 Khổng Tử ( 551-479 trước TC):

 Khổng  Phu Tữ chính tên là Khổng Khâu hay khổng Khưu, tự  là Trọng Ni, người nước Lỗ ( nay là Sơn Đông Trung Hoa) chức vụ Đại Tư Khấu trông việc h́nh ở triều đ́nh nước Lỗ, sau được thăng là Nhiếp Tường Sư.   Ngài cho là  ḿnh   không được trọng dụng, nên châu du khắp các nước Vệ, Tống , Trần…. để đem  sở học ra phụng sự cho đời,   nhưng trải 14 năm trời,  tới đâu cũng bị xem thường. Ngài bèn trở về nước Lỗ, thâu nạp môn sinh để truyền sở học, dịch các kinh, làm sách Xuân Thu để truyền bá đạo học, được người đương thời và đời sau xem là tổ của đạo nho ( tức Khổng Giáo) v́ Ngài có công lập hệ thống và phát huy đạo ấy.

 

Quan Công.

Tiếng gọi tặng  Quan Vân Trường đời Tam Quốc.  Khi trấn thủ Kinh Châu, Quan Công bị tướng Đông Ngô là Lữ Mông lập mưu bắt giết.  Khi sống là người trung nghĩa rất mục, khi thác Quan Công có hiển thánh mấy lần được người đởi sùng bái và thờ phượng.

 

             Hầu hết các làng xă có đ́nh,  miếu, đền  thờ,  lăng  để thờ thần thánh.   Đ́nh:  là nhà thờ thần trong làng, cũng là nơi hội họp các bậc kỳ lăo để bàn việc công ích. Đ́nh  c̣n có nghĩa là nhà  mát, nhà trạm hồi xưa, quán xá,  chúng ta nghe cụm t ừ     ăn quán ngủ Đ́nh”.  C̣n

Đền:   là nhà to nguy nga của bậc vua chúa, nơi thờ thần thánh. Kiên Giang có Đền thờ Nguyễn Trung Tr ực      Miếu:   là đền thờ nhỏ, để thờ bà.    Lăng  là mồ mả vua chúa, bậc vương hầu.   Chẳng   hạt Lăng Ông Bà Chiểu.

 
 

 

B- Việc cúng kiếng

Cúng kiếng:  là đem lễ vật cúng    Về cúng kiếng, có mấy lễ như: Cúng cơm, Cúng giỗ (lễ giỗ hay đám giỗ), Cúng Tổ, Giỗ Tổ,  

 

 1-Cúng cơm:

       Người ta để trên bàn vọng người mới chết ba vắt cơm, với cái trứng vịt xẻ làm tư và đốt nhang luôn, cúng trước quan tài mỗi ngày 2 lần, có thầy tụng kinh, người con trưởng nam hoặc cháu đích tôn bưng chén cơm với đôi đũa vẽ đồ ăn dâng lên,  Như cha  mẹ quá cố chưa táng, được xem như c̣n sống. Thường là có kê một cái giường của cha mẹ nằm trong lúc c̣n sống bên quan tài.   Ban đêm, rủ mùng xuống, đặt cái “hồn bạch” vào trong, thay cho thân xác cha (mẹ), sáng rót nước đặt bên giường, khóc lên rồi cuốn mùng, đem cái “hồn bạch” thắt bằng lụa ra ngoài. Tối th́ đặt “hồn bạch” lên giường, bỏ mùng xuống.  Mỗi lần cúng cơm, dâng cơm phải xướng lên quỳ lạy. V́ vậy nên chúng ta nghe từ ngữ giường thờ.

 

Sau khi táng ( chôn) xong, ngưởi ta dẹp cái giường mà thế vào cái bàn đặt phía sau cái tủ thờ. Mỗi khi lễ  chẳng hạn cúng giỗ ,  ngưởi ta để thức ăn trên cái bàn, chưng trái cây, bông hoa và lư hương đèn trên  tủ thờ. V́ vậy mà chúng ta nghe nói” bàn thờ, tủ thờ” là vậy.

 Và  cũng sau khi táng, có lễ  cúng hằng kỳ.-trong 100 ngày đầu từ khi chết. Cứ 7  ngày cúng 1  lần, cúng 7 lần gọi là tuần thất,   như vậy sau 7 lần cúng là   tuần 49 ngày, và chờ đến 100 ngảy mới cúng một lần nữa.

                           

Thông thường người ta cúng 4 mâm:

1 mâm trên bàn thờ. Thí dụ: cúng ông ( bà) nội-

 2 mâm trên 1 bàn ở pḥng khách :1 mâm cúng họ hàng, 1 mâm cúng đất đai,

1 mâm ngoài sân cúng cô hồn. Cô hồn là hồn hoang, không người thờ cúng.

 Ngoài sân trên bàn thiên th́ cúng tráicây, cúng ông táo cũng vậy.

 

2- Cúng giỗ (lễ giỗ hay đám giỗ ) :

     Chính là lễ cúng ông bà sau 3 năm măn tang. Thí dụ : mất vào  ngày 1 – 1- 2014,    th́ măn tang  vào ngày  1-  1- 16.  Vậy tṛn 2 năm cúng măn tang.  Nghe ngưởi ta nói: “đám giỗ tính nhuần làm tuần tính đủ”  tháng âm lịch có năm nhuần là 13 tháng. Thí dụ:   lễ giỗ ông bà vào ngày 15 tháng  9, mà năm nay  nhuần 2 tháng 9  (có 2 tháng 9)  Vậy cúng giỗ năm nay vảo 15 tháng 9 sau. C̣n cúng tuần thỉ đúng ngày.  Thí dụ: Cúng 100 ngày th́ kể từ ngày táng  đến ngày cúng  đúng 100 ngày, hay cúng   tuần giáp năm th́ cúng đúng 12 tháng.

 

Cúng giỗ luôn có nhang đẻn và đốt giấy vàng bạc.

Trong một họ, lễ giỗ cũng như Tết là dịp gặp gỡ nhau để nhớ ơn tổ tiên ông bà mà c̣n là một dịp thể hiện: “một giọt máu đào hơn ao nước lă “.   Thật ra đây cũng là đầu dây mối  nhợ cho không biết bao vụ căi vă có khi xẩy ra ẩu đả nhau trong họ hàng cũng chỉ vỉ ganh ghét nhau. Sai khi có người uống rượu qúa chén, không c̣n biết phải trái ǵ hết. Đây là điều không mấy tốt đẹp trong tỉnh nghĩa họ hằng.!

 

 3-Cúng Tổ:  

      Cúng Tổl  là cúng tạ ơn ông tổ của nghề ḿnh làm, mỗi năm một lần vào ngày ông tổ chết. Nếu không biết ngày chết th́ cúng vào ngày  mùng 3 Tết. 

 4-Giỗ Tổ:  

 Giỗ Tổ là lễ giỗ tạ ơn tổ tiên có công khai sáng vả xây dựng đất nước nhu Giỗ tổ Hùng Vương            

              Dù ai mua bán gần xa

               Nhớ ngày giỗ tổ mùng 10 tháng 3 th́ về

Thời gian trôi qua, cuộc sống có phần khó khăn, người ta lược bớt đi những chi tiết lễ lộc, trong Quan Hôn Tang Tế mả dành nhiều th́ giờ cho cơm áo, gạo tiền,nhưng nhất định đến bao giờ và sống ở đâu cũng c̣n  giữ một nén hương ḷng cung kính dâng lên tổ tiên, ông bà ,cha mẹ, tổ nghiệp…. Đấy là nét đặc biệt của một sắc dân được mệnh danh là con rồng cháu tiên