Y   Dược

 

 

 

 

 

 

 

 

Y sỹ

 

 

 

 

 

Thuốc

 

 

 

 

 

 

 

Rượu thuốc

 

 

     Y   Dược

                   Bài sưu tầm của Phạm xuân Khuyến

 

   -  Hải Thượng Lăn Ông:   Nam Y sỹ  nổi danh

     Trước thế kỷ 20,  rất ít người làm thuốc, chữa bệnh . Họ thuộc thành phần nho sĩ.  Mỗi nho sĩ  có thể là một lương y.  Trong các nghề thực dụng, nghề làm thuốc,  là nghề  dễ làm nhất  cho các nho sĩ không đạt vận.  Họ chỉ bằng vào mấy quyển sách thuốc , bằng  vào âm dương và ngũ hành  vu vơ nói trong sách  để b́nh luận mà làm nghề .  Duy chỉ  có Lê  hữu Trác , biệt hiệu  là  Hải Thượng Lăn Ông , sinh vào  đời  Lê mạt, người tỉnh Hải Dương, là người giỏi về  môn Nam Y ( Việt Y), soạn ra nhiều sách về y học. Ông có một bài thơ tuyệt vời về dược học, mở đầu bằng hai câu:

Thuốc men sẵn ở khắp nơi.

Trong vườn ngoài ruộng  trên đồi  dưới sông

 

Tiện đây  xin nói về  tiểu sử  vị  nam y sĩ danh tiếng này (*bài tiểu sử này rút ra từ internet ):

                                                        Hải Thượng Lăn Ông
Đại danh y Lê Hữu Trác, c̣n có tên khác là Lê Hữu Huân, sau lấy hiệu là Hải Thượng Lăn Ông, sinh ngày 27/12/1720. Nguyên quán thôn Văn Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hưng Yên (nay thuộc xă Liêu Xá, Yên Mỹ, Hưng Yên). Ḍng họ Lê Hữu ở Liêu Xá đă đóng góp cho đất nước 7 tiến sĩ, 5 giải nguyên, 20 tú tài, 1 quận công, 1 tước hầu, 6 tước bá,... Gia đ́nh Lê Hữu Trác vốn là một danh gia vọng tộc, nổi tiếng cao khoa hiển hoạn. Ông nội, bác ruột, cha và các chú, anh em đều đỗ đạt cao, từng giữ nhiều trọng trách bản triều. Thân sinh của Lê Hữu Trác là Tiến sĩ Lê Hữu Mưu, làm quan đến chức Thượng thư Bộ Công, sau được truy phong chức Thượng thư. Anh trai là Lê Hữu Kiểm, đậu Tam Giáp Tiến sĩ. Mẹ là Bùi Thị Thường, quê xứ Bàu Thượng, xă Tịnh Diện (nay là xă Sơn Quang), huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh.
Sinh ra và lớn lên trong giai đoạn lịch sử đầy biến động v́ nạn tranh giành quyền lực dưới thời Vua Lê - Chúa Trịnh. Ông thấu hiểu nỗi cơ hàn của người dân lao động nghèo khổ trong cảnh loạn lạc, đói rét, bệnh tật. Với chí khí của “trai thời loạn”, ông muốn bứt ḿnh ra khỏi “chốn thư pḥng” để “giao du t́m bạn đồng tâm”. Ông đă từng học binh thư, luyện vơ, đăng lính. Thống soái của Chúa Trịnh nể tài ông, bao phen tiến cử nhưng v́ chán ghét cảnh binh đao, ông t́m mọi cách từ chối. Năm 1746 ông trở về quê ở Hương Sơn nuôi mẹ và học nghề thuốc. Lúc này ông đă gần 30 tuổi.
Vốn sẵn uyên thâm về thiên văn, địa lư, nhân sự và tài trong pháp thuật âm - dương nên ông học thuốc rất nhanh. Ông luôn tâm niệm: “Đạo làm thuốc là một nhân thuật chuyên lo tính mạng con người; phải lo cái lo của con người, vui cái vui của người, chỉ lấy việc chữa bệnh cứu người làm nhiệm vụ của ḿnh, không được mưu lợi, kể công”.. Và suốt quăng đời hơn 40 năm c̣n lại, ông phấn đấu không mệt mỏi để thực hiện điều tâm niệm cao cả của ḿnh “Tôi đă hiến thân cho nghề thuốc nên lúc nào cũng dồn hết khả năng trước thuật rộng răi để dựng nên ngọn cờ đỏ thắm giữa y trường”.
Là một người thầy thuốc, trước hết ông đề cao y đức. Ông nói: “Tôi thường thấm thía rằng: Thầy thuốc là người có nhiệm vụ bảo vệ sinh mạng người ta: Lẽ sống chết, điều phúc họa đều ở trong tay ḿnh xoay chuyển, lẽ nào người có trí tuệ không đầy đủ, hành động không chu đáo, tâm hồn không thoáng đạt, trí quả cảm không thận trọng mà dám theo đ̣i bắt chước học nghề y”.
Ông tự đặt ra cho người thầy thuốc chân chính tám chữ “Nhân - Minh - Đức - Trí - Lượng - Thành - Khiêm - Cần (tức là nhân ái, sáng suốt, đức độ, hiểu biết, rộng lượng, thành thực, khiêm tốn, cần cù), đồng thời tránh 8 tội: lười biếng, keo kiệt, tham lam, dối trá, dốt nát, bất nhân, hẹp ḥi, thất đức. Ông kịch liệt phê phán những người lợi dụng ngành y để mưu lợi: “hoặc bắt bí người ta trong đêm mưa gió khó khăn.... bệnh dễ th́ trộ là bệnh khó, bệnh khó th́ dọa là bệnh chết, dối ḿnh để mưu cầu cho ḿnh... Đối với kẻ giàu sang th́ sốt sắng để mong được lợi; đối với người nghèo khó th́ lạnh nhạt, thờ ơ...”.
Suốt đời Hải Thượng Lăn Ông tận tụy với người bệnh, không quản đêm hôm mưa gió, đường sá xa xôi cách trở hay khi bản thân đang mệt mỏi, ốm đau..., ông đều đến tận nơi, xem bệnh cụ thể rồi mới cho thuốc. Bệnh nặng cần mua thuốc tốt, ông sẵn sàng bỏ tiền để cứu bệnh nhân dù biết rằng sau này bệnh nhân không có khả năng hoàn trả. Ông luôn thận trọng và hy sinh cả những thú vui riêng tư “mang rượu trèo non, chơi bời ngắm cảnh” v́ “nhỡ khi vắng mặt, ở nhà có người đến cầu bệnh nguy cấp th́ phụ ḷng trông mong của họ, lỡ nguy hại đến tính mạng...”. Ông hết ḷng thương yêu người bệnh, đặc biệt đối với tầng lớp nghèo khổ, vợ góa con côi bởi v́ Hải Thượng Lăn Ông biết rằng “kẻ giàu sang không thiếu ǵ người chăm sóc, người nghèo hèn không đủ sức để mời danh y”. Ông tôn trọng nhân cách của người bệnh và luôn nghiêm khắc với bản thân ḿnh, giữ tâm hồn luôn trong sáng: “Khi thăm người bệnh phụ nữ hoặc ni cô, gái góa phải có người khác bên cạnh... để ngăn ngừa sự ngờ vực. Dù đến hạng người buôn son, bán phấn cũng phải giữ cho ḷng người ngay thẳng, coi họ như con nhà tử tế, chớ nên đùa cợt, chớt nhả mà mang tiếng bất chính và chuốc lấy tà dâm”.

 Hải Thượng Lăn Ông là hiện thân của một nhân cách lớn về tấm ḷng cương trực, chí khí thanh cao, không màng công danh, phú quư, không nịnh hót kẻ giàu sang “Ngay cả khi chữa cho ai khỏi bệnh rồi chớ có mưu cầu quà cáp, v́ nhận quà của người ta thường sinh ra nể nang huống hồ đối với kẻ giàu sang tính khí thất thường, ḿnh cầu cạnh dễ bị khinh thường”. “Nghề thuốc là thanh cao nên phải giữ phẩm chất cho trong sạch”.
Hải Thượng Lăn Ông luôn là người biết tự trọng, khiêm tốn học hỏi không tự cao tự đại, luôn tôn trọng giúp đỡ đồng nghiệp. Ông là một tấm gương mẫu mực cho thuật xử thế: “Khi gặp người cùng nghề cần khiêm tốn, ḥa nhă, cẩn thận, chớ nên coi rẻ khinh thường, đối với người cao tuổi th́ nên cung kính; đối với người có học th́ nên tôn thờ như bậc thầy; đối với người cao ngạo th́ nên nhún nhường; đối với người non nớt th́ nên d́u dắt; giữ ḷng như vậy là điều phúc lớn”.
Ngoài việc để cao y đức, Hải Thượng Lăn Ông c̣n là người đầu tiên trong lịch sử y học Việt Nam đặt nền móng xây dựng y thuật. Trong quá tŕnh làm thuốc, ông đă để rất nhiều thời gian viết cuốn Y Tông Tâm Lĩnh và dạy học. Ông không những chu đáo, thận trọng trong khám chữa bệnh, kê đơn bốc thuốc, mà c̣n quan tâm đặc biệt đến các trước tác.
Về y thuật: Hải Thượng Lăn Ông cho rằng muốn làm thầy thuốc giỏi phải học tập không ngừng. Ông tiếp thu kinh nghiệm của người xưa một cách có chọn lọc, linh hoạt, sáng tạo, không hề rập khuôn máy móc. Từ đó ông có quan điểm về nhận định bệnh tật và phương pháp điều trị sáng tạo phù hợp với đặc điểm phong thổ, khí hậu và đặc điểm của con người Việt Nam . Trong suốt cuộc đời làm thuốc của ḿnh, ông đúc kết tinh hoa của y học nhân loại và y dược cổ truyền Việt Nam, ông đă để lại cho đời sau một bộ sách đồ sộ quư giá là bộ “Hải Thượng Lăn Ông Y Tông Tâm Lĩnh” bao gồm 28 tập, 66 quyển. Trong đó, ông đă đề cập đến toàn bộ các vấn đề nội khoa, ngoại khoa, phụ khoa, nhi khoa, thương khoa, truyền nhiễm, cấp cứu, y đức, vệ sinh pḥng bệnh, phương pháp nuôi dưỡng, chế biến các món ăn kể cả việc nuôi tằm dệt vải... Ông đă đúc kết hàng ngàn bài thuốc hay và phát hiện bổ sung hơn 350 vị thuốc mới để đồng nghiệp đương thời và các thế hệ mai sau cùng nghiên cứu, sử dụng.
Cuộc đời của Hải Thượng Lăn Ông - Lê Hữu Trác là h́nh ảnh cao đẹp của người thầy thuốc với kiến thức uyên thâm, với tinh thần trách nhiệm cao cả trong nghề nghiệp, ḷng nhẫn nại, tận tâm, đức hy sinh và ḷng thương yêu người bệnh vô bờ bến. Ông thật xứng đáng là người đă dựng “ngọn cờ đỏ thắm” trong nền y học nước nhà, là tấm gương sáng chói về y đức, y đạo, y thuật cho đời sau noi theo.

                                     ( Nguồn: Sức khỏe & Đời sống)

 

   -   Thuốc

  Có  ba  loại thuốc : thuốc Bắc, thuốc Nam, và thuốc dân tộc

Người Việt thông dụng cả thuốc Bắc, thuốc Nam và thuốc dân tộc

Thuốc Bắc:   các loại thuốc dùng lá , cây, rễ, củ, hột… đă được biến chế do một Đông y sĩ  người Trung Quốc khám  bệnh và cho toa. cân lượng chính xác.

 Thuốc Nam:   các loại thuốc dùng lá , cây, rễ, củ, hột… đă được biến chế do một Nam y sĩ  người Việt khám  bệnh và cho toa. Các loại  cây lá được biến chế trong thuốc Nam tương đối đơn giản như phơi khô, hoặc sấy khô và cân lượng cũng không có yêu c ầu chính xác như một  nắm lá khô, một muỗm bột rễ cây, thay v́ một chỉ, ba ly  như ở thuốc Bắc. 

Người được chẩn bịnh sau khi nhận thuốc  xong  mang về nấu trong một cái nồi đất  thông thường với  ba chén nước và đun sôi.  Khi nước    "xắc" lại c̣n tám phân, bịnh nhân  "chắt"  nước ra, để nguội và uống. Một thang thuốc  có thể uống được nhiều lần,  thường là 2 lần

Thuốc dân tộc : không cần  có  Đông Y sĩ hay Nam Y sĩ  chẩn mạch. Thuốc đă được  bào chế sẵn, được nhà nước  công bố công dụng   của từng loại  rễ lá cây củ dùng để chữa trị một bệnh nào đó.

 

 

  -  Rượu thuốc

Rượu thuốc truyền thống, thường được quảng cáo là các loại rượu cường dương hay bổ âm. Rượu thường làm bằng rượu trắng nồng độ cao ngâm các nguyên liệu thảo dược hoặc động vật có dược tính theo các phương pháp cổ truyền, . Hầu như gia đ́nh nào ở Việt Nam cũng đều có một vài b́nh rượu thuốc trong nhà và có những b́nh được để rất lâu.

 Theo kinh nghiệm dưỡng sinh của người xưa, mùa nào cũng có thể uống rượu thuốc, có điều phải chế biến  và chọn rượu thuốc cho phù hợp để có lợi cho sức khoẻ.  Dùng  rượu trong mùa thu, phải tuân thủ  nguyên tắc dưỡng âm, bổ sung  đầy đủ chất dịch cho cơ thể.

 

Rượu ngâm thảo dược

Thảo dược (thuốc Nam, thuốc Bắc) được sơ chế và ngâm trong rượu. Có rất nhiều loại rượu ngâm với các loại thảo dược, thường theo hai phương thức: hoặc ngâm rượu riêng từng loại hoặc ngâm hỗn hợp theo các bài thuốc cổ truyền.Trong thực tế, tùy địa phương, vùng miền có nhiều bí quyết ngâm rượu riêng, tuy nhiên người ta thường thấy rượu được ngâm với dâm dương hoắc, sâm các loại, kỷ tử, táo tàu, cùi nhăn, cùi vải, củ và rễ đinh lăng, cây mật gấu, thục, ba kích, chuối hột, , tầm gửi (đặc biệt tầm gửi gỗ nghiến), quế chi, xuyên khung, nhục thung dung, hà thủ ô v.v.

Sau đây là một số loại rượu  mùa thu :

Rượu vừng đen

            Dùng cho người bị can, thận, phế âm hư ( hay đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, lưng đau gối mỏi, râu tóc bạc sớm, ho khan ít đờm, đại tiện táo)  tác dụng bổ gan thận, phổi, lợi tiêu hóa, nâng cao sức khoẻ và chống lăo hóa.

 Vừng đen 50g, rượu trắng 500ml.Vừng đăi sạch, để khô rồi đem ngâm với rượu trong b́nh kín, sau nửa tháng th́ dùng được.  Uống mỗi ngày 2 lần , mỗi lần 10-20ml

Ruợu hạt sen

Dùng cho người bị mất ngủ, hay hồi hộp đánh trống ngực, di tinh, đái dầm, xuất tinh sớm, phụ nữ bị khí hư, đi lỏng do tỳ vị hư yếu.

Hạt sen 50g, rượu trắng 500ml.  Hạt sen bỏ vỏ và tâm, đập vụn rồi đem ngâm với rượu trong b́nh kín, ,sau nửa tháng th́ dùng được. Uống mỗi ngày 2 lần , mỗi lần 10-20ml

Rượu dâu

Dùng cho người nói khô miệng khát,  có cảm giác hâm hấp sốt về chiều, ḷng  bàn tay, bàn chân nóng, ho khan, hay ra mồ hôi trộm, đại tiện táo, tiểu tiện  sẻn đỏ.

Quả dâu chín 200g,  rượu trắng 500ml .  Dâu  ngâm với rượu trong b́nh kín, sau nửa tháng th́ dùng được.   Uống mỗi ngày 2 lần , mỗi lần 10-20ml

Rượu  hà thủ ô

Giúp bổ thận, ích tinh, dưỡng huyết, chống lăo hóa. Dùng cho người đầu choáng tai ù, mất ngủ hay quên, râu tóc bạc sớm, di tinh liệt dương.

Hà thủ ô 150 g, rượu trắng  500ml. Hà thủ ô rửa sạch, thái vụn, ngâm với rượu trong b́nh kín, sau nửa tháng th́ dùng được.Uống mỗi ngày 2 lần , mỗi lần 10-20m

Rượu nhân sâm kỷ tử

Giúp đại bổ nguyên khí, dưỡng gan và làm sáng mắt. Dùng cho người khó thở, ngại nói, dễ đổ mồ hôi, chán ăn, chậm tiêu, da nhợt, tay chân  teo nhẽo, sa dạ dầy, sa trực tràng; hoặc lưng đau gối mỏi, tiểu tiện  nhiều lần về đêm, khả năng t́nh dục sút kém, hay hồi hộp đánh trống ngực, mất ngủ môi nhợt.

Nhân sâm 10g, kỷ tử 20 g, rượu trắng 500ml. Nhân sâm  thái phiến, kỷ tử rửa sạch cho vào  b́nh kín ngâm với rượu trong b́nh kín, sau nửa tháng th́ dùng được.Uống mỗi ngày 2 lần , mỗi lần 10-20m

Rượu cúc hoa

Thích hợp cho người hay bị cảm mạo phát sốt, đau đầu, hoa mắt chóng mặt và có cảm giác bốc nóng lên đầu, thị lực giảm sút

Cúc hoa 50 g, rượu trắng  500ml. Cúc hoa rửa sạch, để ráo, cho vào b́nh ngâm với rượu sau 10 ngày th́ dùng được.  Uống mỗi ngày 2 lần , mỗi lần 10-20m

Rượu tây dương sâm

Dùng  thích hợp cho người khí âm lưỡng hư, biểu hiện  bằng các triệu chứng mệt mỏi, khó thở, miệng khô, họng khô, ho khan, hay có cảm giác hơi sốt về chiều, đổ mồ hôi trộm.

Tây dương sâm 50g, rượu trắng 500ml. Tây  dương sâm  thái phiến ngâm với rượu trong b́nh kín, ,sau nửa tháng th́ dùng được. Uống mỗi ngày 2 lần , mỗi lần 10-20m

Rượu hoàng tinh

Dùng cho người chán ăn, mệt mỏi, ho khan lâu ngày, lưng đau gối mỏi, đầu choáng mắt hoa do tác dụng lợi tiêu hóa, bổ thận và phổi.

Hoàng tinh 20g, rượu .. Hoàng tinh rửa sạch thái phiến cho vào túi vải buộc kín rồi ngâm với rượu trong b́nh kín, ,sau nửa tháng th́ dùng được. Uống mỗi ngày 2 lần , mỗi lần 10-20m 

 

Rượu Tỏi

Chữa bệnh :

rượu tỏi có thể chữa được 5 nhóm bệnh sau:

1. Thấp khớp (sưng, vôi hoá, mỏi)

2. Tim mạch (huyết áp thấp hoặc cao, nở van tim, ngoại tâm thu)

3. Phế quản, họng (viêm, hen, xuyễn)

4. Tiêu hoá (khó tiêu, ợ chua, viêm tá tràng, loét bao tử)

5. Ngủ bất b́nh thường hay mất ngủ

World Health Organization đă chính thức thừa nhận như vậy

Cách bào chế rượu tỏi

Xin tŕnh bày một  số cách bào chế:

 Cách 1:

Tỏi khô (đă bóc bỏ vỏ) 40 g đem thái nhỏ, cho vào chai ngâm với 100 ml rượu trắng 40-45 độ, thỉnh thoảng lại lắc chai rượu, dần dần rượu chuyển từ màu trắng sang màu vàng, đến ngày thứ 10 th́ chuyển sang màu nghệ và uống được. Mỗi ngày dùng 2 lần, sáng uống 40 giọt (tương đương một th́a cà phê) trước khi ăn ; tối uống 40 giọt trước khi ngủ. Uống khoảng 20 ngày th́ hết, bởi vậy cứ sau 10 ngày lại ngâm tiếp, để ngày nào cũng có rượu tỏi dùng. Uống liên tục suốt đời với một lượng rượu rất nhỏ như thế, người kiêng rượu hoặc không uống được rượu vẫn dùng được.

 Cách 2:

 250 gam tỏi . Tỏi có tép nhỏ và có mùi thơm khi bấm vào, lột vỏ, cho vào cối giả hoặc máy sinh tố xay nhỏ hạt. Không cần nhuyễn nhừ như trái cây uống sinh tố. Cho vào 1/2 lít rượu trắng, loại rượu ngon chuyên dùng để ngâm thuốc.

Đậy kín nắp lọ (dùng lọ thuỷ tinh). Sau khi ngâm 10 ngày, múc bả tỏi cho vào compress (vải mùng) vắt ráo. Nhớ làm mỗi lần một tí, cho đến khi hết tỏi đă ngâm trong lọ.

Nước cốt tỏi có được và rượu c̣n trong lọ, cho tất cả vào chai thuỷ tinh. Đậy kín để 1 tuần, sau đó bắt đầu uống. Rượu tỏi hơi khó uống v́ hôi nồng và nóng, v́ thế lúc bắt đầu nên uống chừng 5, 10 giọt, khi quen dần th́ tăng lên, nhưng đừng quá 5 ml mỗi lần uống. Ngày có thể uống 1 hoặc 2 lần.

Cách 3:   (theo Việt Nam Thư Quán) 

Cách làm :

Thái tỏi thật nhỏ

2. Cho tỏi vào lọ đă rửa sạch

3. Cho rượu vào

4. Ngâm 10 ngày, thỉnh thoảng lắc chai để tỏi ngấm rượu cho đều

Quan sát :

Mới đầu rượu có màu trắng, sau chuyển dần sang màu vàng, đến ngày thứ 10 thành màu nghệ.

Cách dùng :

Mỗi lần dùng 40 giọt (compte gouttes) vào buổi sáng trước khi ăn và buổi tối trước khi ngủ. V́ lượng ít nên chế thêm nước sôi để nguội vào th́ mới uống thành một ngụm.

Uống liên tục cả đời.

Người phải kiêng rượu không uống được rượu vẫn có thể dùng được v́ mỗi lần chỉ uống 40 giọt, một số lượng không đáng kể.

Bí quyết :

40 gram tỏi như thế, dùng trong 20 ngày th́ hết, trong khi phải ngâm đến 10 ngày mới dùng được, cho nên cứ phải ngâm sẵn một lọ gối đầu để dùng liên tục.

Dân gian c̣n có 2 cách khác dùng tỏi :

cách làm1: tỏi trộn mật ong,  

dùng tỏi c̣n tươi có tép nhỏ, xay nát rồi đem trộn với mật ong, cho vào trong chai để dành dùng dần (mật ong có tác dụng bảo quản tỏi không hư). Dùng tỏi trộn mật ong, ngoài những tác dụng gần giống như rượu tỏi : hỗ trợ tiêu hoá, tiêu diệt các loại vi khuẩn, các nấm gây bệnh (nhờ tỏi có một số tinh dầu, chất kháng khuẩn, có tác dụng ức chế các loại vi khuẩn, các nấm gây bệnh), c̣n giúp kháng được một số gốc oxy hoá, các yếu tố thuận lợi dẫn đến ung thư ... Theo y học cổ truyền, tỏi có vị cay, tính ấm, có công dụng sát trùng, giải độc, hành khí. Mật ong khi trộn với tỏi, ngoài công dụng bảo quản tỏi không hư, mật ong c̣n là chất bổ dưỡng cung cấp các vitamin, giúp làm lành các vết loét bao tử. Người b́nh thường mỗi ngày dùng một muỗng mật ong cũng rất tốt, có thể dùng riêng một ḿnh mật ong, hoặc có thể pha với nước chanh để dùng.

cách làm 2: tỏi trộn mật ong với dấm                                              

Theo các bác sĩ  hàng đầu th́ liều thuốc kỳ diệu này chữa được mọi bệnh tật từ vài loại ung thư tới viêm khớp, Alzheimer, cao huyết áp, cholesterol cao, cảm lạnh, cúm, đầy hơi, chậm tiêu, nhức đầu, tim mạch, trĩ, vô sinh và bất lực, đau răng, mập ph́, loét .Thuốc kỳ diệu tỏi, dấm và mật ong có thể  kéo dài tuổi thọ nhờ khả năng bảo vệ cơ thể chống lại nhiều tác nhân giết người bởi lẽ  mật ong được miêu tả là một thực phẩm hoàn hảo, chứa ít nhất 31 chất dinh dưỡng, 13 khoáng chất, các thành phần cấu tạo của 9 vitamin, 6 acid và 4 enzym then chốt, Mật ong không những giúp cho liêu thuốc dễ uống hơn nhờ vị ngọt cũa nó mà c̣n giúo cơ thể có khả năng hấp thu các dược tính cũa những nguyên liệu trong thuốc. Tỏi là môt kho dư trữ vitamin và khoáng chất, trong tỏi có chất allicin, một enzyme (amino acid) có tácdụng kích thích hệ miễn dịch .  C̣n dấm có khả năng diệt  các chấ t béo .

 

Rượu ngâm động vật

Rượu ngâm động vật theo nguyên tắc y học cổ truyền "đồng tạng trị liệu"

(phương thức chữa bệnh dựa trên cơ sở dùng phần nào của cơ thể động vật làm thuốc hay thức ăn sẽ bổ cho phần cơ thể đó của con người). Theo đông y, th́ những loại động vật sau đây đă được kiểm nghiệm là có dược tính cao độ :rắn, tắc kè, b́m bịp, hổ cốt, cá ngựa...Dương vật hổ, tinh hoàn   được ngâm rượu dùng để bổ dương. Động vật hầu hết được ngâm sống, chỉ sơ chế qua và không nấu chín.

Một số loại động vật được ngâm nguyên con.

 Đó  là rắn hổ mang, rắn hổ chúa  (  thường ngâm một con vào rượu)  rắn ráo (thường ngâm  từ 3 cho đ ến 5 con vào rượu) tắc kè, b́m bịp,  chim sẻ, cá ngựa, ong đất, ong ḅ vẽ (thường ngâm  từ 3 cho đến 5 con hoặc nhiều hơn vào rượu ), ong và nhộng (có thể ngâm nguyên cả mảng sáp tổ ong với mật, phấn hoa, nhộng vào rượu) ); rồng biển, sao biển, hải sâm, tằm, sâu chít, ṣ huyết, v.v. (  thường ngâm vào rượu)  bao nhiêu tùy ư)

Một số loại động vật được ngâm  từng phần tạng phủ vào rượu

- bào thai (dê, bê, hổ, khỉ),

- tinh hoàn dương vật (dê, hải cẩu, hổ),

 tiết động vật (rắn, dê),

-mật (mật gấu, mật rắn, mật trăn),

-óc (khỉ), tay (gấu) v.v.

-cao động vật( thường thấy rượu cao hổ cốt, rượu cao khỉ, rượu cao trăn, rượu cao sơn dương v.v.

Rượu ngâm  hỗn hợp cả động vật và thực vật rượu ngâm.

Trong thực tế thường gặp là các loại rượu ngâm hỗn hợp cả động vật và thực vật.

Một số động vật (tắc kè, sao biển) và thực vật (tam thất, nấm linh chi), phơi, sơ chế bày bán trên phố Lăn Ông Hà Nội được dùng để ngâm rượu thuốc.

Một số loại rượu ngâm động vật rất tanh (như rượu rắn) tuy ngâm riêng nhưng khi uống vẫn thường được pha với các loại rượu thực vật có tinh dầu thơm (như quế chi) để át mùi tanh.

 

    Chẩn bệnh  &  Trị bệnh

     Cảm  lạnh  và  các hậu quả  biện chứng

                                      Bài viết của  LM Giuse Hoàng Minh Thắng

 

Cảm lạnh là một một bệnh rất thông thường. Nhưng ngoại trừ một số dấu chỉ quen thuộc như sổ mùi, tịt mũi, nhức đầu, người gai gai sốt, khó chịu ai cũng biết, cảm lạnh thường khiến cho nhiều cơ phận khác bị suy yếu và gây ra một số bệnh, mà các bác sĩ tây y và cả đông y cũng không khám ra, không biết lư do tại sao, v́ không có các vết nội thương ngoại thương, cũng không có vi khuẩn và không có cơ phận nào bị hư hỏng. Tuy không biết là bệnh ǵ nhưng các bác sĩ vẫn cho thuốc, thường là thuốc giảm đau, càng uống càng không khỏi, lâu ngày bị mất trí nhớ, loét bao tử, hư thận và khiến cho hệ thống thần kinh bị tê liệt. Cảm lạnh thường gây đau nhức tứ chi ḿnh mẩy đến tê bại không cử động được, nên có bác sĩ cho là hệ thần kinh bị hư và đề nghị giải phẫu...

 

I. Lư do

1. Trời mưa, trời gió hay trời lạnh mà mặc không đủ ấm, đầu không đội mũ, chân không đi giầy, không mang tất ấm, cổ không quấn khăn vv... v́ thế các cơ phận thuộc bộ máy hô hấp (mũi, miệng, cổ họng, phổi... ) và tuần hoàn (tim, dạ dầy, ruột, gan, thận, lá lách...) bị lạnh. Khí âm xâm nhập nhiều qúa làm mất thế quân b́nh trong cơ thể, gây bế tắc kinh mạch, và suy yếu các cơ phận.

2. Ngồi trúng chỗ có luồng gió (ở tư gia, trong nhà thờ, nhà hội có mở cửa trước cửa sau, hay cửa ngang hông, trong xe mở cửa kính hay máy lạnh qúa vv... ) có thể đưa đến chỗ bị cảm.

3. Đặc biệt tại những vùng sáng sớm và ban chiều trời lạnh, nhưng ban trưa trời nóng (điển h́nh như California, Texas... ), có rất nhiều người bị cảm lạnh, v́ không để ư, mặc không đủ ấm khi đi làm ban sáng và về nhà lúc chiều tối. Cứ thế, khí âm nhập vào người mỗi ngày một chút, và từ từ khiến cho cơ thể bị suy nhược và sinh ra nhiều triệu chứng mà không biết là bệnh ǵ.

 

II. Một số triệu chứng thông thường dễ nhận ra

1. Các triệu chứng b́nh thường dễ nhận ra:

1) Sổ mũi, tịt mũi

 2) Nhức đầu, nặng đầu

 3) Ho

 4) Cảm thấy người vừa nóng vừa lạnh: hơi sốt hay sốt nặng (khi có vi khuẩn gọi là bệnh cúm)

 5) Bần thần, mỏi mệt trong người

2. Nhưng chính v́ khí âm xâm nhập thân thể, khiến bế tắc kinh mạch, máu huyết và làm suy yếu các cơ phận hô hấp và tuần hoàn, nên cảm lạnh làm nảy sinh ra nhiều triệu chứng, mà cả các bác sĩ cũng không biết và không ngờ tới.

1) Trằn trọc, khó ngủ ban đêm

 2) Ngủ không thẳng giấc, đi tiểu lắp nhắp ban đêm, hay bị chuột rút

 3) Đổ mồ hôi ban đêm

 4) Đầy bụng, khó tiêu

 5) Nhất là đau và nhức mỏi trong người: đặc biệt là hai cánh tay, cổ, bả vai, sống lưng, đầu gối, hai chân và hai bắp chân.

6) Nhiều khi có cảm tưởng như bị đau nhức thần kinh hay từ trong xương, đến độ bị bại xuội, cổ      không quay được, không giơ hay co tay chân lên được, không cúi xuống được hay không thể mặc và cài cúc áo quần vv....

- Đi khám bác sĩ, chụp phim th́ không có cơ phận nào bị hư hại hay tật bệnh ǵ. Các bác sĩ chỉ biết cho thuốc giảm đau, bệnh nhân có cảm tưởng giảm đau nhức, nhưng càng uống càng tệ hại thêm, v́ người ngày càng bần thần, mỏi mệt và đau nhức hơn. Thuốc giảm đau, thuốc ngủ sinh ra bệnh mất trí nhớ, đau bao tử và đau thận...

 7) Tức ngực, nhói ngực, khó thở, hụt hơi

 8) Nghẹt tim, tim hồi hộp, ngộp thở, hay có cảm tưởng bị bệnh tim

 9) Khó tiêu, táo bón, nặng bụng, ở chua

 10) Đau bụng lâm râm

 11) Tiêu chảy

 12) Đau tức bên hông phải trên vùng gan,

 13) Đau tức bên hông trái trên vùng lá lách

 14) Teo tĩnh động mạch trên đầu (dẫn tới chỗ đau đầu và bị tai biến mạch máu năo v́ lượng hồng huyết cầu và dưỡng khí không lưu thông đủ để nuôi óc)

 15) Da mặt xanh xao, tái mét hay thâm, và người lúc nào cũng cảm thấy bần thần, mệt mỏi như mất hết sức lực, chán nản, buồn sầu, chỉ muốn đi nằm, không muốn làm ǵ, và không làm được ǵ, v́ người lúc nào cũng một mỏi.

- Đi khám bac sĩ, thử máu, thử phân, thử nước tiểu, chiếu điện, th́ không t́m ra bệnh ǵ, và ai cũng bảo là bệnh giả đ̣.

 16) Trẻ em bị cảm lạnh th́ khó ngủ, hay ói sữa, biếng ăn, táo bón (hai ba ngày mới đi một lần, mà phải dùng thuốc, phân hôi), tiêu chảy, hay khóc, quấy, da không trắng và hồng hào, nhưng tái mét, khi khóc th́ tím ngắt mặt mũi chân tay và không dỗ được.

- Tất cả các triệu chứng trên đây đều có thể do cảm lạnh mà ra, đặc biệt các trường hợp đau nhức số 5, trường hợp số 15 và số 16 là dấu chứng đă bị cảm lạnh từ rất lâu, chứ không phải các cơ phận bị hư hại.

- Khi bị cảm lạnh, phần nào trong cơ thể yếu th́ phần đó thường dễ bị ảnh hưởng.

- Có nhiều người bị cảm lạnh hàng chục năm mà không biết, đi khám hết mọi bác sĩ tại mọi nhà thương nổi tiếng và uống biết bao nhiêu thứ thuốc, mà vẫn không khỏi bệnh. Và các bác sĩ vẫn không biết chính xác là bệnh ǵ, kể cả các bác sĩ dông y và châm cứu. Đây là các trường hợp bị đau nhức (số 5) và người mất sắc, bần thần, kiệt sức (số 15) và trẻ em (số 16).

 

 
 

  

II. Cách chữa

Có nhiều cách chữa

 

 1. B́nh thường có thể cạo gió.

1) Cách cạo:

- Dùng đồng bạc hay tốt nhất là cái th́a lớn (nếu bằng bạc nguyên chất càng tốt) cạo gió bằng dầu nóng (bất cứ loại nào cũng được) nhưng tốt nhất là long năo pha với dầu ô liu,

- Tỳ mạnh đồng bạc sát xuống da,

- Cạo chậm răi và kéo đường càng dài càng tốt,

- Như thế sẽ ít đau và không trầy da.

2) Chỗ cạo: khắp nơi trên người

- Cạo: cổ, gáy, trán, trên đầu, hai thái dương, bả vai, bên trong bên ngoài hai cánh tay, mu bàn tay, ngón tay, lưng, ngực, bụng, bụng dưới, mông, bên trong bên ngoài đùi, chân, bắp vế và mu bàn chân, ngón chân.

3) Cạo gió rất khoa học nhưng ông bà cha mẹ chúng ta không giải thích nên ḿnh không hiểu. Thật ra:

- cạo gió là đả thông kinh mạch để cho khí huyết lưu thông đều đặn trở lại.

- tái lập thế quân b́nh cho cơ thể

- dầu nóng tăng khí dương,

- đồng bạc hay cái th́a, tức chất kim khí, rút khí âm trong người ra.

Cạo gió xong là tự nhiên hết các triệu chứng kể trên và khỏi bệnh, thường là ngay tức khắc.

- Chỉ khi bị cảm (cảm nắng cũng như cảm gió và cảm lạnh) cạo da mới đỏ hay có hột và bầm tím nếu bị cảm nặng từ lâu. Càng bị cảm lâu càng bầm. Nhưng chỉ vài hôm sau là các vết đỏ và bầm sẽ biến đi.

V́ thế nói cạo gió vỡ mạch máu da là không đúng. Ngày nay nhiều bác sĩ Mỹ cũng bắt đầu tin, v́ người ta đă cạo ngay trước mặt cho bác sĩ thấy.

- Tuy nhiên v́ sống tại Tây Âu có nhiều người không quen hay chưa cạo gió bao giờ, nên sợ đau hay sợ bị dị nghị, mà quên đi hay khinh thường cách chữa bệnh rất hữu hiệu này của ông bà cha mẹ.

4) Cách pha long năo với dầu ô liu:

 - 100 gr bột long năo nguyên chất đă tán sẵn mua ở tiệm thuốc bắc (không phải long năo bỏ quần áo hay giết gián)

- pha với 1 lít dầu ô liu (dầu trộn sà lát loại nào cũng đựợc)

- b́nh thường các tiệm thuốc bắc bán bịch 1 pound long năo (10 US$), th́ pha với 1 galon dầu ôliu, rồi chia nhau.

- Dầu ô liu pha với long năo c̣n có thể dùng để thoa bóp, chữa trặc hay sưng chân tay và thấp khớp rất công hiệu.

 

2. Xông với nước lá

- nấu một nồi nước lớn với lá sả, lá cây dầu huynh diệp, lá chanh, lá cam, lá quít, lá bưởi hay ngải cứu vv...

- trước khi trùm chăn xông trong pḥng kín gió, th́ bỏ thêm 10-20 gr bột long năo, nếu có (thường tiệm thuốc bắc có bán bịch lá xông có thêm gói bột long năo nhỏ)

- xông xong, lau mồ hôi khô, và mặc quần áo ấm ngay rồi uống vài viên thuốc cảm với nước trà gừng nóng, đắp chăn nằm nghỉ hay ngủ được một giấc, sẽ thấy người khỏe ngay.

V́ khi xông chảy mồ hôi nhiều nên cơ thể mất nhiều muối đạm, do đó cần phải cẩn thận, kiêng ra ngoài, để đừng bị lạnh trở lại.

 

3. Đánh cảm bằng cám rang

- lấy cám bỏ vào chảo rang nóng lên

- bỏ vào miếng vải túm lại

- rồi vuốt từ trên đỉnh đầu vuống xuống

- vuốt khắp nơi trong người: đầu tóc, mặt, ngực, bụng, cơ quan sinh dục, lưng, mông, đàng trước đàng sau tay chân, ḷng bàn tay bàn chân và ngón tay ngón chân...

Cảm nặng th́ phải rang 2, 3 mẻ và vuốt vài lần sẽ đỡ ngay, v́ mọi kinh mạch đều được đả thông và khí huyết di chuyển b́nh thường trở lại.

 

4. Đánh cảm bằng gừng

- 100 gr gừng giă dập

- túm vào một chiếc khăn hay vải mỏng

- nhúng vào một bát rượu mạnh (rượu đế, volka vv...)

- vuốt từ đỉnh đầu xuống cả người phía trước: mặt mũi, ngực, bả vai, cánh tay bên trong bên ngoài, ḷng và mu bàn tay, rồi các ngón tay, bụng, bắp vế xuống cho tới ḷng và mu bàn chân và các ngón chân, phía sau: đầu, ót, gáy, lưng, mông xuống cho tới ḷng bàn chân và các ngón chân.

 

5. Đánh cảm bằng trứng gà và đồng bạc nguyên chất (pure silver coin)

- luộc 5-7 trứng gà chín lên (18 phút th́ trứng chín), luôn để nước sôi

- bóc vỏ, bổ đôi, bỏ ḷng đỏ

- nhét đồng bạc nguyên chất vào giữa

- túm vào khăn hơi dầy một chút để khỏi bị xước da

- rồi cứ thế vuốt từ trên đỉnh đầu xuống y như đánh cảm bằng cám và gừng

- vuốt cho tới khi nào trứng hoàn toàn nguội mới thay trứng và thay đồng bạc khác.

Nếu bị cảm nắng, th́ đồng bạc mầu đồng.

Nếu bị cảm lạnh, th́ đồng bạc mầu đen, càng cảm lạnh nặng càng đen.

Nếu bị cảm gió nữa th́ đồng bạc mầu đen nhánh có sắc xanh. Nếu vừa cảm nắng vừa cảm lạnh, th́ đồng bạc có cả hai mầu.

1) Tùy trường hợp nặng nhẹ, có thể đánh từ 4 trứng trở lên. B́nh thường mỗi lần đánh khoảng 4-5 trái là được. Để tránh bị lạnh trở có thể đánh đầu, ngực và lưng trước, rồi mặc áo, che khăn hay đắp chăn, sau đó mới đánh tới phần dưới của cơ thể. Nếu muốn đánh một lần cho cả phía trước hay phía sau, th́ lấy chăn đắp phần thân thể đă đánh rồi hay chưa đánh.

2) Đặc biệt là trường hợp 5 và nhất là 15, có khi phải đánh tới 40-50 hay hàng trăm cái trứng. Nghĩa là đánh làm nhiều lần, cho tới khi nào cảm thấy người dễ chịu, khỏe khoắn, da dẻ hồng hào trở lại th́ thôi.

3) Trẻ em bị cảm (đặc biêt các em nhỏ) chỉ nên đánh cảm bằng trứng. Trường hợp các em được vài tháng, nếu sợ bỏng da, có thể đánh cảm bên ngoài áo cũng được. Nhưng nếu bọc trứng trong một khăn dầy vừa đủ sễ không sao.

4) Cũng có thể để nguyên vỏ trứng, để có nhiều sức nóng hơn, nhưng phải dùng loại khăn rửa mặt hơi dầy, để khỏi bị vỏ trứng làm xước da.

5) Đánh cảm bằng trứng hơi tanh. Nhưng sau đó không được tắm. Chỉ nên dùng lotion hay chút dầu thơm pha chút nước nóng, nhúng khăn lau sơ người thôi.

6) Đặc biệt trường hợp số 15 và khi bị thương hàn, tức cảm lạnh ngấm tới xương, th́ phải đánh cảm bằng trứng và đồng bạc (v́ cạo gió, bấm huyệt thoa bóp chỉ bớt chứ không khỏi).

7) Đồng bạc bị đen bỏ vào một cái chén bên dưới lót một miếng giấy bạc rồi đổ nước sôi lên, đồng bạc sẽ trắng trở lại ngay và dùng để đánh tiếp.

 

6. Giác, lẩy

Giác, lẩy  thường phức tạp hơn, v́ cần có bộ đồ nghề và không công hiệu bằng các cách kể trên, v́ chỉ hạn chế vào một số nơi có bắp thịt.

- Giác bằng alcool hay rượu mạnh, nếu không khéo có thể bị bỏng da.

- Giác bằng hơi tránh được ngy hiểm này, nhưng phải có bộ đồ nghề.

- Nếu biết lẩy có thể nặn máu bầm ra, nhưng phải cẩn thận để không bị nhiễm trùng.

 

IV. Pḥng bệnh hơn chữa bệnh

 

V́ cảm lạnh có thể gây ra các hệ lụy nguy hại tới các cơ phận trong người như thế nên chúng ta phải cẩn thận.

1. Luôn mặc ấm áp khi đi làm hay đi lễ ban sáng và về nhà lúc chiếu tối

2. Đầu đội mũ, trùm khăn

3. Giữ hai vai, vùng thận và chân ấm (đi vớ, cả khi ở trong nhà)

4. Khi có các triệu chứng kể trên, cứ áp dụng mấy cách chữa bệnh trên đây của ông bà cha mẹ, trước khi đi khám bác sĩ.

Xin lưu ư :

Cách mua hay đặt đồng bạc đánh cảm:

1) Ai có thân nhân nhân ở Việt Nam có thể nhờ họ đặt cho mươi đồng bạc đánh cảm tại các tiệm bán vàng bạc (mỗi đồng khoảng 4-5 US$ làm h́nh bầu dục theo h́nh trái trứng là tiện nhất, vừa dùng để đánh cảm vừa dùng để cạo gió rất tốt)

2) Dễ nhất là vào Internet để mua và trả qua credit card ngay tại Mỹ. Họ sẽ gửi tới tận nhà. Mấy gia đ́nh chung nhau, v́ mỗi sét có 20 đồng 1 dollar lớn và dầy. Đồng 1 dollar lớn này có thể đánh được 2-3 trứng mới đen hết đồng bạc.

Silver Rounds Medaillon ** 999 Pure Silver One Ounce 34.50 US$

 htttp://www.goldmastersusa.com/silver coins.asp

Trong các năm qua tôi đă từng chữa bệnh cho hằng trăm người và đoán bệnh ít khi sai. Thí dụ một người bị tiêu chảy suốt 3 năm đi khám bác sĩ tại nhiều nhà thương khác nhau và uống bao nhiêu thuốc nhưng không khỏi. Các bác sĩ không t́m ra lư do. Sau khi cạo gió bụng, lưng và ngực, bệnh tiêu chảy dứt ngay. Một người khác ăn lương tàn tật 2 năm v́ không thể giơ hai tay lên được và đau nhức không thể lái xe được. Đi khám tại nhiều nhà thương nhưng các bác sĩ không biết bệnh ǵ, chỉ cho uống thuốc giảm đau và đoán là thần kinh bị hư nên đề nghị mổ. Sau khi cạo gió hai cánh tay và lưng xong là hết đau nhức và hai tay cử động b́nh thường ngay lập tức. Một người khác nữa bị đau đầu gối 3 tháng, đi khám các bác sĩ, chiếu điện nhiều lần cũng như uống nhiều thứ thuốc, mà không hết đau nhức. Bác sĩ nói thần kinh bị hư, phải mổ. Cạo gió mấy phút là hết đau nhức ngay.

Thế mới biết rất nhiều trường hợp đau nhức là do cảm lạnh. V́ vậy trước khi đi bác sĩ hay vào nhà thương, chúng ta nên áp dụng cách chữa bênh của ông bà cha mẹ, vừa dễ dàng, vừa rẻ tiền lại rất khoa học và công hiệu tức khắc, giúp giữ ǵn sức khỏe và nhất là khỏi bị tàn tật oan.

LM Giuse Hoàng Minh Thắng

 

 
 

 

     Thuốc Bắc ( Norrhern Medecine)

                                                                                    

In Vietnam, traditional medications are divided into  Thuốc Bắc ( Northern medicine) which follows the ancient Chinese pharmacopeia and Thuốc Nam ( Southern Medicine) which  is derived from local Vietnamese remedies. To truly practice Northern Medicine, the doctor had to be able to read texts written in Chinese characters. Ancient Chinese medical concepts were based on  the individual of  Qi or Chi ( khí) corresponding somewhat to the Western concept of  " vital" energy, and on  interaction of Yin-Yang forces both within the body and  from the exterior world represented by the five elements

(Chinese concept of   metal, wood,  water, fire, and earth). Treatment consisted of    reestablishing  the balance  using  medicines concocted  from a variety of components and principles. As  a side note,

Tần  Thủy Hoàng, or Qin Shi  Huang probably died from mercury poisoning for having believed that the  mercuric red  elixir could confer immortality. Imagine  drinking mercurochrome! For  Vietnamese, certain Northern Medicine ingredients might have to come from China. Some were rare and costly, resulting in financial disaster for the family when the illness was  protracted

 
   

   

         Thuốc Nam (Southern  medecine)

                                                                       

 In contrast  to  Thuốc Bắc ,Thuốc Nam ( Southern Medicine )  was based  on tropical plants and animals native to Vietnam. It was  the common people's health care, inexpensive, readily available. Thuốc Nam  herbs, leaves or roots require minimum processing, and  do not need to be carefully weighted with  a scale like in Thuốc Bắc.  Some  of the  remedies were passed on  from one generation to the  next, based  on  anecdotal  reports.. A  lemon grass steam bath ( xông  sả) would  effectively relieve the nasal congestion of common colds.

Coin rubbing or cạo gió is  performed for all sorts of illnesses, but more frequently for colds and flu as they occur more commonly. Similar to the practice  in Middle- Age Europe, cupping was  frequently performed, using hot steamed, easily obtainable bamboo tubes or glass cups as suction devices. Not knowing underlying physics (vacuum is created when space-occuping  steam cools down and condenses into  tiny drops water) did not prevent  people from taking advantage of  the  effects. Sometimes a small skin  incision was made to allow the  bad  black blood to be  aspirated out of the body.  One treatment for asthma was  to swallow a live small house gecko ( con thằn lằn) or eating a new-born paddy mouse wrapped in paddy mud and roasted. It is  quite possible that  for  the protein-deficient patient, the supply of amino acids may boost natural resistance. Ginger was  believed to strengthen digestion and dried tangerine rinds to increase  the resistance  to colds. For  wounds, aloe vera ( cây lô hội hoặc Nha đam) was used  to hasten healing and turmeric or  Indian saffron ( nghệ) to reduce the formation of keloids. More successfully,astringent guava leaves (lá ổi) or young  bananas  (chuối  chát help stop diarrhea.

Nguyễn BáTĩnh  is credited  with popularizing Thuốc Nam( Southern Medicine )  in the  14th century. Known Tuệ Tĩnh or Huệ Tĩnh, he was a well educated monk who lived under King Trần Dụ Tông.  He was the first doctor to promote Thuốc Nam, saying  that " medicines from  South Viet ( nam) cure people from South" ( Thuốc Nam Việt  chữa người Nam Việt). He  encouraged common people to  plant medicinal plants in their garden so they could have immediate access to them.

Hải Thượng Lăn Ông ( 1724-1791) lived  during  the reign of King Lê Hiển Tông. Born Lê Hữu Trác, he came  from an educated noble family. He updated Tuệ Tĩnh's legacy and left many medicinal books, describing nearly 500 basic ingredients. His medical encyclopedia was  contained in 66  traditional books. Fifty five of them survived and were published by  Vũ Xuân Hiên in 1866

Tuệ Tĩnh andHải Thượng Lăn Ông  were  the most famous traditional Thuốc Nam  healers.  They  are venerated  at the  Y miếu Thăng Long  or Medicine Temple in Hanoi

 
 

 

     Thuốc Dân Tộc (people's  medecine)

 

After the fall of Saigon in April 1975, another pharmacopeia called Thuốc Dân Tộc ( People's Medicine) was introduced  to the  impoverished South Vietnamese by  the new  regime. It was  then that cháo giả cảm , " rice congee for  relief of colds" was promoted as a  panacea for everything. Consumers of Thuốc Dân Tộc  did not need  to consult any Northern, Southern, or  Western medicine doctors. Based on their symptoms and presumed diagnosis, they  would directly buy prepackaged powders or leaves with their indications labeled and  established by the  government

              

                                                      (extracted from  " Traditional Vietnamese Medecine"  by   

                                                                    Chat.V. Dang   in Book "The Men Of Vietnam")