CA  DAO  LỊCH  SỬ

                từ  thời lập quốc cho tới ngày nay

 

Ca dao là thơ của quần chúng dưới h́nh thức câu hát nhưng không theo nhịp điệu nhất định, không biết tác giả là ai, và được phổ biến qua sự truyền miệng.

Nếu là ca dao lịch sử,   th́  thường sự kiện lịch sử có trước,  rồi  ca dao phản ánh thái độ của quần chúng đối với sự kiện đó. Ca dao c̣n là tiếng nói của quần chúng ghi lại giai đoạn lịch sử xa xưa, trong thời gian chưa có ca dao. V́ vậy, khi ca dao xuất hiện th́ ca dao đóng vai tṛ chép sử kiểu dân gian. Qua nẻo ca dao, mỗi sự kiện chỉ vài nét chấm phá đơn sơ nhưng rất cô đọng bức tranh ấn tượng lịch sử

Các sách  lịch sử Việt  chưa chắc  đă diễn tả  chính xác  tâm trạng  quần chúng   Việt  qua các thời đại   bở́ v́ các sử gia bị áp lực do các  người cầm quyền quốc gia thời bấy giờ, nhưng các câu  ca dao lịch sử xuất phát  từ  chính quần chúng  Việt  sống trong   từng giai đoạn  lịch sử  mới phản ảnh  đúng tâm trạng  của họ.
 
   

I-Ca dao liên h thời h́nh thành lănh th        

     trải dài 2768 năm, qua ba triều đại: Hồng Bàng,Thục, Triệu

 

 1-Quốc Mẫu Âu Cơ 

 

   Dân gian lưu truyền câu Ca dao vngày giỗ Quốc Mẫu Âu Cơ

Ngày giỗ  đúng vào ngày mồng 5 tháng 5 là Tết Đoan Ngọ một lễ Tết cổ truyền của Việt Nam

 

Tháng Năm ngày Tết Đoan Dương,

Là ngày giỗ Mẹ Việt Thường Văn Lang.

 

  2- Tổ  tiên Việt: Lạc Long Quân  - Âu Cơ 

 

Theo truyền thuyết, Lạc Long Quân và  Âu Cơ là tổ tiên dân Việt. Âu Cơ  thuộc ḍng Tiên, Lạc Long Quân  thuộc ḍng Rồng.  Do đó dân Việt thuộc ḍng dơi Con Rồng Cháu Tiên  nên   dân gian lưu truyền câu ca dao phản ánh niềm tự hào dân tộc:

 

Trứng rồng lại nở ra rồng,

Liu điu lại nở ra ḍng liu điu

 

  3-  Triều đại  vua Hùng

 

Triều đại  vua Hùng  đóng đô tại Phú Thọ. Dân gian có  những câu ca dao tưởng nhớ  ghi công lao các vua Hùng  

Ai về Phú Thọ cùng ta

Vui ngày giỗ tổ tháng ba mồng mười.

hoặc:

Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mồng mười tháng ba
Khắp miền truyền măi câu ca
Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm

 

   4- Vua An Dương Vương Thục Phán   

 

 Vua An Dương Vương Thục Phán  có công   thống nhất  hai tộc  Âu Việt  và Lạc Việt  thành lập nước Âu Lạc đóng đô tại Cổ Loa.     Dân gian  có  những câu ca dao tưởng nhớ :

Cổ Loa là đất đế kinh
Trông ra lại thấy ṭa thành tiên xây.

hoặc

Ai về qua huyện Đông Anh
Ghé xem phong cảnh Loa Thành Thục Vương
Cổ Loa thành ốc khác thường
Trải bao mưa nắng dăi dầu c̣n đây
.

 

  5-  Triều Đại  Triệu Đà

Triệu Đà chiếm nước Âu Lạc, rồi sáp nhập vào quận Nam Hải (Trung Hoa) lập ra một nước tự chủ, đặt quốc hiệu Nam Việt , xưng là Triệu Vũ Vương, đóng đô ở Phiên Ngung thuộc Quảng Châu. Đến đời thứ tư, Triệu Ai Vương nối ngôi, Thái hậu Cù Thị là người của nhà Hán, mưu với vua toan đem Nam Việt sáp nhập vào đất Hán. Tể tướng Lữ Gia can ngăn không được bèn hội các đại thần giết Ai Vương cùng Thái hậu và sứ giả nhà Hán; rồi tôn Kiến Đức, con trưởng của Triệu Minh Vương, mẹ là người Việt Nam, lên làm vua.

Dân gian mượn lời ca dao, chê trách Cù Thị mưu đồ dâng đất nhà chồng cho ngoại bang:

Có chồng phải khổ v́ con

Lấy chồng phải gánh giang san nhà chồng.

 
 

 

II-   Ca dao liên h thời Bắc thuộc (111 TCN-939 CN)

 1- Bà Triệu Ẩu  tức Triệu Thị Trinh ( 258 )

Nhớ người phụ nữ Triệu Thị Trinh can trường, lẫm liệt đă lănh đạo cuộc kháng chiến chống quân Ngô đô hộ ở thế kỷ III, dân gian có thơ ca dao rằng:

Ru con con ngủ cho lành
Để mẹ múc nước rửa bành con voi
Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà Triệu tướng cưỡi voi, đánh cồng.

    hay

Ai qua Nông Cống tỉnh Thanh
Dừng chân nhớ Triệu Thị Trinh anh hùng.


Ai về Hậu Lộc, Phú Điền,
Nơi đây Bà Triệu trận tiền xung phong.

 
 

 

  2- Vị anh hùng  Mai Thúc Loan tức Mai Hắc Đế,       

Nhân dân Việt thống khổ v́ nạn cống vải triều đại Nhà Đường. Để giải thoát  dân , Ông  Mai Thúc Loan tức Mai Hắc Đế khởi nghĩa chống nội thuộc Tầu, dân gian có thơ ca dao phản ảnh:

Nhớ khi nội thuộc Đường triều
Giang sơn cố quốc nhiều điều ghê gai.
Sâu quả vải v́ ai vạch lá
Ngựa hồng trần kể đă héo hon.
…..
Đường đi cống vải từ đây dứt
Dân nước đời đời hưởng lộc chung.

hay câu ca dao:

Sa nam trên chợ dưới đ̣
Nơi đây Hắc Đế kéo cờ dựng binh
.

 
   

 III-   Ca dao liên h thời  Độc Lập (939 – 1884)

 

    1-  Vua    Ngô Quyền

 

 Ngô Quyền diệt  quân Nam Hán tại Bạch Đằng giang ( cũng gọi là  sông Rừng) bằng  mưu cắm chông  dưới ḷng sông.  Dựa vào sự  kiện đó, dân gian có thơ ca dao   dặn ḍ  con cháu:

Con ơi nhớ lấy lời cha
Gió to, sóng cả chớ qua sông Rừng
Đánh giặc th́ đánh giữa sông
Đừng đánh chỗ cạn mắc chông mà ch́m

   2-  Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh, tức  vua  Đinh Tiên Hoàng,

Cuối đời nhà Ngô, v́ thế lực suy yếu, nên đă có 12 sứ quân nổi dậy xưng hùng xưng bá, đánh lẫn nhau, làm cho dân t́nh khổ sở, suốt 20 năm,. Kết cuộc, họ bị khuất phục dưới tay Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh, tức  vua  Đinh Tiên Hoàng.

 Phán xét sự tranh giành quyền lực của các sứ quân và cuộc chiến thắng của Đinh Bộ Lĩnh, dân gian đă tóm gọn trong câu ca dao:

 

đời muôn sự của chung

Hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi

  3-  Trần Thủ Độ

Trần Thủ Độ chuyển vương quyền nhà Lư qua nhà Trần chủ hôn cho cháu là Trần Cảnh lấy Lư Chiêu Hoàng   con vua Lư Huệ Tôn, mới lên 7 tuổi. Quần chúng có ḷng lưu luyến nhà Lư đă tỏ ḷng công phẫn và mỉa mai Trần Thủ Độ trong câu ca dao: 

Trống chùa ai đánh th́ thùng

Của chung ai khéo vẫy vùng thành riêng

 

4-   Huyền Trân công chúa

Vua Trần Anh Tông, gả em gái là Huyền Trân công chúa cho vua Chiêm là Chế Mân để đổi lấy 2 châu Ô, Lư (tức Địa Lư và Bố Chính), sau đổi tên là Thuận Châu và Hóa Châu. Người Việt vẫn có tinh thần kỳ thị chủng tộc, cho người Chiêm là giống man di, lên tiếng phản đối việc làm này:

Tiếc thay cây quế giữa rừng

Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo

 Về sau, Chế Mân chết, vua Trần sai Trần Khắc Chung sang Chiêm t́m cách đưa Huyền Trân về nước để khỏi bị hỏa thiêu theo chồng (theo tục lệ Chiêm). Dư luận quần chúng có vẻ khắc nghiệt khi nghi ngờ về t́nh cảm của Trần Khắc Chung đối với công chúa Huyền Trân trên chặng đường thủy dài ngày đưa công chúa về nước. Người ta xót xa thân phận Huyền Trân, một lần nữa, qua tay Trần Khắc Chung.

Tiếc thay hột gạo trắng ngần

Đem ṿ nước đục lại vần lửa rơm   

5-Triều đại Hậu Lê 

 

  Khi Lê Lợi dấy binh chống Minh, khởi đầu ở vùng Thanh Hóa, sau chiếm lĩnh Nghệ An để mở rộng khu vực chiến đấu, nhân dân đă phấn khởi ca ngợi vùng đất tự do ấy và cổ vơ cuộc di dân vào vùng này:

Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

Non xanh nước biếc như tranh họa đồ

                                                   Ai vô xứ Nghệ th́ vô

 Thời  Lê sơ thế kỷ XV, chính trị ổn định, kinh tế văn hóa  rực rỡ. Dân gian  có thơ ca dao  khen ngợi cảnh thái b́nh thịnh trị như sau:

Đời Lê Thái Tổ, Thái Tông
Thóc lúa đầy đồng gà chẳng thèm ăn
Ḅ đen húc lẫn ḅ vàng
Hai con húc chắc đâm quàng xuống sông.

 Thời  Lê sơ cũng là thời phồn hoa đô hội, thời các nghề thủ công phát triển thịnh đạt dẫn đến sự h́nh thành các phường nghề ở Thăng Long xưa, dân gian có những  câu ca dao:

Rủ nhau chơi khắp Long Thành
Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai.
Hàng Bồ, Hàng Bạc, Hàng Gai
Hàng Buồm, Hàng Thiếc, Hàng Hài, Hàng Khay
Mă Vĩ, Hàng Điếu, Hàng Giày
Hàng Lờ, Hàng Cót, Hàng Mây, Hàng Đàn
………………….
Phồn hoa thứ nhất Long Thành
Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ
Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ
Bút hoa xin chép vần thơ lưu truyền.

 
 

 

 6-     Nhà  Mạc tiếm ngôi, nhà Lê lấy lại quyền vua.

 

    Nhà Mạc chạy lên Cao Bằng, xây dựng thành lũy cát cứ ở đấy măi đến năm 1677 mới bị tiêu diệt hoàn toàn. Kư ức dân gian về thời kỳ này được thể hiện trong câu ca dao:

Cái c̣ lặn lội bờ sông
Gánh gạo, đưa chồng tiếng khóc nỉ non
Nàng về nuôi cái cùng con
Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng.
Ở nhà có nhớ anh chăng?
Để anh kể chuyện Cao Bằng cho nghe
  

7-   Trịnh – Nguyễn phân tranh thế kỷ  XVII.

     Thời kỳ này cũng gọi là  thời kỳ nội chiến Nam Bắc triều  vào  thế kỷ  XVII.  Tỉnh Quảng B́nh lúc ấy là chiến địa. Nỗi ḷng người dân nơi này được thể hiện qua câu ca   dao:

 

Sông Gianh nước chảy đôi ḍng
Đèn chong đôi ngọn biết trông ngọn nào?

Chúa Nguyễn Phúc Khoát theo mưu kế của Đào Duy Từ xây dựng Lũy Trường Dục  từ núi Đâu Mâu về đến cửa biển Nhật Lệ. Quân Trịnh không thể thắng được quân chúa Nguyễn. Về điều này, dân gian có câu ca dao:

Lũy Thầy ai đắp mà cao
Sông Gianh ai bới ai đào mà sâu.

Có tài th́ vượt sông Gianh
Dẫu mọc thêm cánh Trường thành khó qua

   Dù nội chiến  Lê- Mạc,  dù  nội chiến Trịnh Nguyễn, thủ công dân Việt thế kỷ XVII, XVIII  vẫn   phát triển mạnh mẽ 

 
   

 Dân gian có  những câu ca dao:

    a/      Về làng nghề Bát Tràng

      

Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây trắng xung quanh mây vàng
Ước ǵ anh lấy được nàng
Để anh mua gạch Bát Tràng về xây
Xây dọc rồi lại xây ngang
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.

      b/       Về nghề dệt tơ, lụa ở các  làng Vạn Phúc, Phương La và Phú Bông

Hỡi cô thắt lưng bao xanh
Có về Vạn Phúc quê anh th́ về.
Vạn Phúc có một cây đề
Có ao tắm mát có nghề quay tơ.

   hay:

Lụa là nhất ở Phương La
Kinh kỳ xưa vẫn thường qua nơi này.

Quảng Nam có lụa Phú Bông
Có khoai Trà Đảo, có sông Thu Bồn.

 
   

c/       Về nghề thợ mộc, làm giấy, in tranh

Về nghề làm giấy, in tranh:
Hỡi cô thắt lưng bao xanh
Có về làng Mái quê anh th́ về
Làng Mái có lịch có lề
Có ao tắm mát, có nghề in tranh.

Làng Mái là tên Nôm chỉ làng Đông Hồ (Bắc Ninh) - nơi có nghề in tranh nổi tiếng. Về các làng nghề ở Thăng Long có câu ca dao:

Lĩnh hoa Yên Thái, đồ gốm Bát Tràng
Thợ vàng Định công, thợ đồng
Ngũ Xă.

Nghề làm đường ở Quảng Ngăi cũng đă đi vào ca dao với câu:

Mặn mà muối biển Sa Huỳnh
Ngọt đường Quảng Ngăi thắm t́nh quê ta
Đường phổi, chim mía, mạch nha
Ai về Quảng Ngăi thử qua một lần
 

Dù nội chiến  Lê- Mạc,  dù  nội chiến Trịnh Nguyễn, Đạo Phật phát triển, ăn sâu, bám rễ vào đời sống nhân dân,   nên  đời sống  dân chúng  hướng về đạo đức, hiếu  thảo  và từ bi, hỉ xả.    Về điều này, dân gian có  những  câu ca dao:

Ai ơi ăn ở cho lành,
Tu nhân tích đức để dành kiếp sau.

Đời cha tích đức làm giàu,
Đời mẹ tích đức mai sau con nhờ.

Tu đâu cho chí tu nhà,
Thờ cha kính mẹ ấy là chân tu.

Dù xây chín bậc phù đồ,
Chẳng bằng làm phúc cứu cho một người.

 
 

 

8 Nhà Nguyễn Tây Sơn cuối thế kỉ XVIII

K ư ức về sự kiện lịch sử nhà Nguyễn Tây Sơn c̣n được dân gian ghi lại qua câu ca dao:

An Khê nổi tiếng Ḥn B́nh,
Khi xưa Nguyễn Huệ ẩn danh nơi này.

An Khê, Ḥn B́nh là những địa danh gắn với ngày đầu dựng cờ khởi nghĩa của ba anh em Tây Sơn ở vùng Tây Sơn thượng đạo (Gia Lai ngày nay).

Về việc Nguyễn Huệ ra Bắc Hà lần thứ nhất, lật đổ chúa Trịnh, trao quyền lại cho nhà Lê được ghi nhớ trong kư ức dân gian qua câu ca dao:

Nguyễn ra th́ Nguyễn lại về
Chúa Trịnh mất đất, vua Lê hăy c̣n

Về cuộc Nguyễn Huệ kháng chiến chống quân nhà Thanh mùa xuân Kỷ Dậu: được ghi nhớ trong kư ức dân gian qua câu ca dao:

Xuân xưa vang tiếng Hà Hồi
Oai danh Nguyễn Huệ muôn đời c̣n ghi
Một trời khí phách uy nghi
Đón xuân không thẹn tu mi Lạc Hồng

Thắng lợi của phong trào nông dân Tây Sơn đă lập nên vương triều Tây Sơn trong lịch sử. Tuy nhiên, vương triều này không tồn tại lâu dài. v́ không đáp ứng được nguyn vọng của nhân dân mong có thái bỉnh, lập nghiệp.

 
 

 

9 Nhà Nguyễn Gia Long

     Vua Gia Long

Những hoạt động  của Chúa  Nguyễn Phúc Ánh được  sự ủng hộ của  dân Việt,  nên  năm 1802, Chúa  Nguyễn Ánh đă tiêu diệt hoàn toàn vương triều Tây Sơn, lập ra triều Nguyễn,, xưng đế hiệu Gia Long. dân gian ghi lại  t́nh cảm của  họ qua câu ca dao:

 

Lạy trời cho chóng gió nồm

Để cho Chúa Nguyễn giong buồm thẳng ra

  - Vua Minh Mạng

     Về nội trị, vua Minh Mạng chấn chỉnh luật pháp, chế độ, làm thành một nước có kỷ cương, văn hiến. Tuy nhiên việc bảo vệ phong tục, vua đă chạm đến tinh thần bảo thủ của người dân miền Bắc, tức là cấm đàn bà mặc váy :

 Dân gian ghi lại  t́nh cảm của  họ qua câu ca dao:

 

Tháng sáu có chiếu vua ra

Cấm quần không đáy người ta hăi hùng

Không đi th́ chợ không đông

Đi th́ phải lột quần chồng sao đang?

 
   

Mặc dù nhà Nguyễn cố gắng phục hồi nền quân chủ và trật tự xă hội phong kiến nhưng không khắc phục được sự suy thoái của chất lượng đội ngũ quan lại. Nạn quan liêu, hà hiếp, nhũng nhiễu nhân dân,  Dân gian  bộc lộ tâm trạng  qua câu ca dao:

Con ơi nhớ lấy câu này
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan.
Bộ Binh, bộ Hộ, bộ H́nh
Ba bộ đồng t́nh cướp gạo con tôi.

- Vua Tự Đức,

 

Đời sống nhân dân khốn khó nhưng vua vẫn cho xây lăng Vạn Niên rất tốn kém nên dân gian  có câu ca dao :

Vạn Niên là Vạn Niên nào
Thành xây xương lính, hào đào máu dân.

Thậm chí cái đạo trung quân cũng bị lật tẩy khi nhà vua không c̣n là một bậc minh quân:

Từ ngày  Tự Đức lên ngôi
Cơm chẳng đầy nồi trẻ khóc như ri.
Bao giờ Tự Đức chết đi,
Thiên hạ thái b́nh mới dễ làm ăn.
 

IV-   Ca dao liên hệ thời  Pháp thuộc (1884- 1945)

 

Thời Pháp thuộc bắt đầu sau khi vua Tự Đức băng hà từ lúc triều đ́nh Huế thuộc về hai ông Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường.

 Hai ông khởi xướng công cuộc chống Pháp với các đại thần và các tướng lănh. Dù  họ có tâm huyết nhưng thiếu kinh nghiệm lănh đạo chiến tranh, nên dân chúng b́nh phẩm có phần khắc nghiệt qua câu ca dao:

Nước Nam có bốn anh hùng

Tường gian Viêm dối Khiêm khùng Thuyết ngu

Tường là Nguyễn Văn Tường, trước sát cánh với Tôn Thất Thuyết chống Pháp, sau ra hàng. Viêm là Hoàng Kế Viêm, trước cũng chống Pháp, sau được vua Đồng Khánh phục chức và sai đi dụ hàng vua Hàm Nghi. Khiêm là Ông Ích Khiêm, mang tiếng khùng   v́ tính khẳng khái, không luồn cúi cấp trên, làm phật ư hai ông Tường, Thuyết nên bị giam vào ngục. Và 'Thuyết ngu  ', ngụ ư cho rằng ông Thuyết là một kẻ 'hữu dũng vô mưu'. Dù sao, dư luận quần chúng cũng chê hai kẻ gian dối và khen hai người trung can, nghĩa khí.

  Triều đại   nhà Nguyễn   suy tàn   qua  câu ca dao :

Một nhà sinh đặng ba vua

Vua c̣n vua mất vua thua chạy dài

Vua c̣n (Đồng Khánh) vua mất (Kiến Phúc) vua thua chạy dài (Hàm Nghi)

 

Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân

 Ba vị vua  này không khuất phục ngoại bang, chống lại thực dân Pháp và bị đi đày ở Reunion và Algerie.

Vua Thành Thái vẫn âm thầm âm mưu chống Pháp , vua đă từng giả điên giả cuồng để tránh mắt ḍ xét của người Pháp.   Dân gian phát hiện một hành động của vị vua yêu nước này, mà người ta tưởng lầm là hành vi bất chính, khi vua vốn mang tiếng điên khùng:

Kim Long có gái mỹ miều

Trẫm thương trẫm nhớ trẫm liều trẫm đi

 

Vua Duy Tân đă được tổ chức Việt Nam Quang Phục hội do Trần Cao Vân và Thái Phiên thuyết phục cùng tham gia kế hoạch khởi nghĩa đánh Pháp.  Họ hẹn gặp nhau trên bờ sông Ngự Hà, giả làm người đi câu để tránh tai mắt địch.

 

Chiều chiều ông Ngự ra câu

Cái ve cái chén cái bầu sau lưng

 

Rồi mưu đồ phục quốc của họ cũng bị thất bại và vua phải đi đày. Người dân Huế thương tiếc vua cùng các nghĩa sĩ Trần Cao Vân và Thái Phiên đă hiến thân v́ nước.

 
   

Trên ḍng Hương Giang, nhiều năm sau, trên các chuyến đ̣ dọc, người ta c̣n nghe mấy câu ḥ trầm thống, bi đát, đầy tâm sự của kẻ mang hoài băo cứu nước không thành:

 

Chiều chiều trước bến Vân Lâu.

Ai ngồi ai câu,

Ai sầu ai thảm,

Ai thương ai cảm.

Ai nhớ ai trông.

Thuyền ai thấp thoáng bên sông,

Đưa câu mái đẩy chạnh ḷng nước non.

 

Phong trào Cần Vương chống Pháp

 

  Đinh Công Tráng  là một  trong những lănh tụ của phong trào  được  dân gian  có thơ ca dao  khen ngợi

Chiều chiều én liệng truông Mây

Cảm thương chú Lía bị vây trong thành.

Trên trời có ông sao Tua.

Ba làng Trà Lũ có vua Ba vành.

Có chàng Công Tráng họ Đinh,

Dựng lũy Ba Đ́nh chống đánh giặc Tây.

Cơ mưu dũng lược ai tày,

Chẳng quản đêm ngày v́ nước lo toan.

Dù cho vận nước chẳng c̣n.

Danh nghĩa vẹn toàn, muôn thuở không phaii.

Tóm lại:  Thời Pháp xâm lược nước ta, người dân không khỏi buồn ḷng nh́n thế sự rối ren qua câu ca dao:

Đêm đêm chớp bể mưa nguồn

Hỏi người quân tử có buồn chăng ai ?

 
   

IV-   Ca dao liên hệ thời Cộng Sản

            và Xă hội Chủ Nghiă (1945 - ngày nay)

Trong suốt hơn 70 năm từ năm 1945,    cộng sản Việt Nam đă gieo rắc muôn vàn tang thương cho dân tộc. Biết bao tiếng kêu đau đớn và phẫn uất của nhân dân đă vang lên trong suốt chiều dài lịch sử này. Những tiếng kêu đó cô đọng thành những câu ca dao thật độc đáo trong dân gian.   Những câu ca dao này  minh họa bức tranh xă hội và tâm trạng người dân trong thời kỳ  chế  độ xă hội chủ nghĩa dưới sự lạnh đạo của đảng Công Săn.

Những câu ca dao ta thán đầy thê lương ảo năo :

Dân bị đảng CS bóc lột

Dân đói mà đảng th́ no

Sức đâu ủng hộ, hoan hô suốt ngày

Đảng béo mà dân th́ gầy

Độn bắp, độn sắn biết ngày nào thôi?

 

Thi đua làm việc bằng hai

Để cho cán bộ mua đài mua xe

Thi đua làm việc bằng ba

Để cho cán bộ xây nhà lát sân

 
   

Đây là những câu ca dao châm biếm :

Dân mất tự do đi lại

Mang danh Dân Chủ Cộng Ḥa

Đi ra khỏi tỉnh phải qua cửa quyền

Xuất tŕnh giấy phép liên miên

Chứng từ thị thực ở miền nào qua

                                                                                ---------

Trăm năm trong cơi người ta

Ở đâu cũng được đi ra đi vào

Xa xôi như xứ Bồ Đào

Người ta cũng được đi vào đi ra

Đen đủi như Ăng Gô La

Người ta cũng được đi ra đi vào

Chậm tiến như ở nước Lào

Người ta cũng được đi vào đi ra

Chỉ riêng có ở nước ta

Người ta không được đi ra đi vào

Bản chất dối trá của đảng:

Mất mùa là bởi thiên tai

Được mùa là bởi thiên tài đảng ta

Đảng là đầy tớ dân là chủ

Ai về qua tỉnh Nam Hà

Xem lũ đầy tớ xây nhà bê tông.

Tớ ơi, mày có biết không?

Chúng ông làm chủ mà không bằng mày

Nhà giáo bị hất hủi

Thày giáo lănh lương ba đồng

Làm sao sống nổi mà không đi thồ

Nhiều thày phải đạp xích lô

Làm sao xây dựng tiền đồ học sinh

 

Cô giáo phải bán bia ôm

Ôm phải học tṛ, ăn nói sao đây?

Đây là những câu ca dao châm biếm và chỉ trích lănh tụ Đảng CS

Hồ Chí Minh

Trách ai sinh thứ họ Hồ

Để cho cả nước như đồ vất đi

 
   

Trường Chinh, Lê Duẩn, Văn Đồng

 

Ông Đồng, ông Duẩn, ông Chinh

V́ ba ông ấy, dân ḿnh lầm than

***

Trường Chinh, Lê Duẩn, Văn Đồng

Ba thằng cùng béo, vặt lông thằng nào?

- Vặt lông cả đám cho tao!

Đảng CS  bán nước  cho Trung Quốc

Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa

Cúi đầu dâng đảo Trường Sa cho Tầu

và:

Tiên sư cộng sản Việt Nam

Cuối đời bán cả giang san nước nhà

 

 

Sưu tầm và biên khảo

 

Phạm xuân Khuyến