Bản sắc về Cơ ThểTinh Thần

                 của người Việt

                                Bài của Phạm Xuân

    Từ câu nói Địa linh nhân kiệt, cha ông chúng ta muốn nói  rằng mỗi vùng có một bản sắc  riêng. Vậy th́   bắt chước cha ông,  chúng ta thử  t́m hiểu dân tộc Việt sống trong   bán đảo   Đông Dương ( Indochina) miền Đông Nam  Châu Á có những bản sắc ǵ  về Cơ Thể và tính chất  Tinh Thần.

 
   

I--Về Cơ  Thể

 a/   Có  nhiều thuyết  bàn về nguồn gốc  người Việt :

 Thuyết 1 :     Người Việt  phát tích từ xứ Tây Tạng, rồi theo chiều sông Nhị Hà   (sông Hồng) mà tràn xuống miền trung châu xứ Bắc Kỳ và phía Bắc Trung Kỳ. Sau đó họ tiến dần măi xuống mỏm cực  nam bán đảo.

  Thuyết 2 :    Người Việt vốn là thổ dân thuộc nhóm Bách Việt   ngụ cư miền hạ lưu sông Dương Tử, sau bị người nước Sở  đời Xuân Thu đến đánh phá họ . Họ bị xua đuổi xuống miền Nam Quảng Tây và Quảng Đông. Rồi từ hai nơi đó, họ tràn xuống xứ Bắc Kỳ và phía Bắc Trung Kỳ

  Thuyết 3:     Người Việt Nam thuộc giống  Indonésiens.  Giống này bị giống Aryens đánh đuổi khỏi xứ Ấn Độ mà lan tràn bán đảo Indochina (Đông Dương). Trong cuộc di cư ấy, một ngành thẳng xuống Nam dương quần đảo, một ngành ở lại bán đảo.   Ngành này tiêu  diệt đám thổ dân đầu tiên Melanésiens.   Nhóm Indonesiens ở phía nam  bán đảo  hợp  với dân địa phương  thành dân tộc  Cao Miên và dân tộc  Chàm chịu văn hóa Ấn Độ.  C̣n nhóm Indonesiens ở phía Bắc bán đảo  hợp với giống Mông Cổ làm thành dân tộc Việt theo văn minh Trung Quốc..  

Dân tộc Việt này  ngay từ buổi đầu v́ hoàn cảnh  sinh hoạt  và v́ địa thế tách ra làm 2: ngành ở  trung châu sông Nhị Hà ( sông Hồng), ngành kia  ở  miền đồi núi.  Ngành ở sông Nhị Hà: đất đai ph́ nhiêu, sống về nông nghiệp, hấp thụ  văn minh Trung Quốc  nên tiến  bộ.  Ngành đồi núi theo chế độ phong kiến, chịu ảnh hưởng người Thái   (  Đó  là dân  Mường ở Ḥa B́nh, Thanh Hóa, Nghệ An.)

 

b/  Bản sắc  cơ  thể  của người Việt

  Những  thuyết trên đây  không thuyết phục  được  chúng ta  một cách chính xác về  cội gốc người Việt, nhưng  chúng  giúp chúng ta  đi đến kết luận  rằng người Việt  là một kết hợp tất nhiên  của  bao cuộc pha máu liên tiếp  của nhiều giống người.

Khi khảo cứu lănh vực sinh lư của người Việt, th́ các nhà  nhân chủng học  nhận thấy hai sự kiện:

  Sự  kiện 1:    cái tầm vóc người  Việt thấp nhỏ  dưới  1 m58, chân tay khẳng khiu, cái sọ  tṛn chỉ xuất 82,8 cặp môi hơi dày và cái miệng  hơi vẩu.

Sự  kiện 2:    cái khổ mặt người  Việt dẹt và hơi tṛn,  cặp mắt  chấp và hơi xếch, lưỡng quyền gồ cao, với cái sống mũi đỡ gẫy, bộ râu thưa và to cứng, nước da  ngăm ngăm  đen chớm vàng, 

  Sự  kiện 1 chứng tỏ cái đặc tính sinh lư người  Việt sánh  khít  với đặc tính sinh lư  của  giống người Indonesiens

Sự  kiện 2  chứng tỏ cái đặc tính sinh lư người  Việt sánh  khít  với đặc tính sinh lư  của  giống người Mông Cổ

Sự ḥa hợp  2 ḍng máu chính này trong mỗi người Việt là một thực tế.   Sống lẻ loi trong biên giới quốc gia   đầy núi non ngăn cách, thời tiết nóng ẩm nhất định, trải qua nhiều thế kỷ, người Việt với hai ḍng máu  nêu trên  đă h́nh thành được một tính chất đơn thuần về chủng tộc.    Mặc dầu đơn thuần về chủng tộc, nhưng Tầm vóc người Việt phía Bắc cao hơn Tầm vóc người Việt phía Nam v́ sai  biệt địa thế và khí hậu địa phương,

 

II--Về Tinh Thần

 

Xă  hội là hoàn cảnh của con người, mà  thiên nhiên   lại  là  hoàn cảnh của Xă  hội,  nên con người bị 2 yếu tố  Xă  hội và thiên nhiên  chi phối.  Yếu tố Xă  hội Việt được hiểu là  cuộc sinh hoạt của dân tộc Việt. C̣n Yếu tố Thiên Nhiên  được hiểu là  Địa thế và Khí hậu nướcViệt

.Những yếu tố này tác động đến con người và nhào nặn Tinh Thần người Việt

 Địa thế

Từ Bắc vô Nam, những rặng núi chạy ngang phân cách.    Từ khu này sang khu khác, nhiều đèo chắn ngang : Đèo Hoành Sơn, Đèo Hải Vân, Đèo Cả  làm gián đoạn sự liên lạc và  làm trở ngại sinh hoạt của người trong nước.   Những đèo, và những núi này làm nẩy nở óc địa phương .

Núi  th́ dầy đặc  nhưng  không cao, duy chỉ dẫy núi Fansipan cao  tới  3141 thước  mà  thôi , c̣n những sông bắt nguồn từ dẫy núi Trường Sơn chảy xuống cũng  không rộng . Núi sông vừa tầm đo lường vào năo tưởng tương  khiến người Việt không ưa ǵ vĩ đại và thái quá

 
 

 

Khí hậu 

  Nước Việt  ở  vào khu vực có gió mùa  nên có một mùa mưa và  một mùa nắng rơ rệt. Khí hậu này ảnh hưởng tới nông nghiệp và các loài thảo mộc.   V́ vậy, rừng nhiệt đới phồn thịnh, ngũ cốc cần nhiều nước và nắng.  Mùa nắng sông ngồi & ruộng khô cạn.  Mùa mưa   th́  lụt.  Sông Cửu long nhờ lụt đất thêm màu mỡ,.   Trái lại ở Bắc Việt  lụt là  một họa lớn.   Nên từ đời Lư,  dân Việt   đă đắp đê khỏi  hại mùa màng và thôn xóm.  Chiến đấu với lụt  lội  vào mùa mưa và chống với nạn đại hạn  hán  vào mùa khô  khiến cho  người Việt  ma luyện được chí bền vững, ḷng nhẫn nại , sức chịu đựng đau khổ

 

Yếu tố  Xă Hội

Chẳng những  yếu tố thiên nhiên (địa thế và khí hậu) ảnh hưởng đến Tinh Thần  người Việt mà  yếu tố  Xă Hội rất có ảnh hưởng  tạo nên Tinh Thần  người Việt nữa.  Nói đến yếu tố  Xă hội tức là nói đến cuộc sinh hoạt của dân tộc Việt về phương diện chính trị, kinh tế và Xă hội.    Ba  yếu tố  căn bản này, ba động cơ lịch  sử này họp lại thành một kết lực nhào nặn   Tinh Thần (t ư  tưởng và tính t́nh) người Việt theo một khuôn mẫu nhất định

 
   

Về tính chất tinh thần,    người Việt phần nhiều là thông minh.    Trí thông minh này  đôi khi biến ra năo tinh vặt nếu nó không có chỗ đứng thuận tiện để hoạt động. Hiện tượng này thường có ở Xă hội Việt v́ những người cầm quyền cai trị thường  thiên vị,  dành những chức vụ cao cho con ông cháu cha, lại có óc địa phương,  chứ không trọng  dụng nhân tài.

 

Trí nhớ của người Việt rất nảy nở nhờ ở phương pháp giáo dục và nhờ ở di truyền. Lối học từ chương từ thời xa xưa của chế độ thi cử, và cách dạy của các thầy cô ngày nay ở  xă hội Việt  thúc đẩy các trẻ em thuộc ḷng  bài vở.  Phương pháp học và dạy  này đă  tru luyện trí  nhớ  của giới trẻ  qua các thế  hệ.

 
   

 Đến năo tưởng tượng của người Việt th́ hoàn toàn bị năo thực tiễn làm tê liệt .  Sống giữa xă hội đông người mà đất hiếm, lụt lội hạn hán, mất mùa, lại luôn luôn bị áp bức về chính trị, người Việt phải nghĩ đến cách sống c̣n, làm sao cho ḿnh được sống. Chính v́ vậy  óc thực tiễn nảy nở trong mỗi người Việt.

Từ  năo thực tiễn, người Việt hiếu học không phải v́   khát khao hiểu biết mà chỉ v́ mong đạt một địa vị ưu thắng trong xă hội.. Đối với người Việt, học   là để làm kế mưu sinh .

Từ  năo thực tiễn, người Việt theo đạo, để rút phần lợi ích thiển cận của tôn giáo, tại ngay kiếp này nhiều hơn là mong linh hồn được giải thoát măi tận kiếp sau.

Từ  năo thực tiễn, người Việt thường nông nổi chỉ nghĩ đến những ǵ thiết thực nhất thời mà không đủ bền chí để theo đuổi những công cuộc có kết quả xa xôi.

Từ  năo thực tiễn, người Việt  không quan niệm cái ǵ thái quá.  Từ cung điện, lăng tâm của vua chúa đến đền đài, nhà cửa của dân gian, mọi thứ đều khuôn theo sở năng kinh tế và xă hội của dân tộc.  Cũng v́ vậy mà về học thuật  cùng tư tưởng người Việt  không có chủ nghĩa  siêu h́nh nào .

  Vật lộn với  cuộc sống quá eo hẹp hàng ngày nơi đồng ruộng, hoặc miệt mài vào sách thánh hiền, người Việt   ít  rảnh th́ giờ theo cuộc suy tưởng triền miên.    Lại  suốt qua lịch sử, dân tộc Việt  phải bảo vệ biên cương   chống  đế quốc xâm lược  Trung Quốc,    chiếm thêm đất  để  giải quyết vấn đề nhân măn Cho nên người Việt  ít năo sáng tác.

 Từ  năo thực tiễn, v́ phải nhẫn nại sống, hợp với hoàn cảnh, phải khuôn thể xác và tinh thần  theo điều kiện sinh hoạt, nên ngườii Việt tự tạo ra  tài mô phỏng, không thua kém một dân tộc nào

Về mặt chính trị,  v́ sống một ngàn năm dưới chế độ đế quốc xâm lược Trung Quốc, sống một trăm năm dưới chế độ thực dân Pháp rồi sống bảy mươi năm dưới chế độ Cộng Sản  bạo tàn, người dân Việt  bị dồn vào thế yếu, nên  ma luyện được tính chỉ trích châm biếm và chửi thề  để quật lại những kẻ cậy thế mạnh đè nén người thấp cổ bé họng.

Các đức tính và tật xấu nêu trên  đây của mỗi người Việt đều dồn tụ lại thành một  cái kết lực mạnh mẽ để gây thành một  tâm lư xă hội chung.  Cái tâm lư xă hội chung này phản ứng lại ḥan cảnh  mà gây ra một áp lực  xă hội mạnh mẽ.  Cho nên từ học thuật đến tư tưởng, từ pháp  luật đến nghệ thuật, từ phong tục đến tín ngưỡng mỗi thứ đều nhuốm một mầu vị Việt Nam, cho dù Việt Nam có chung phần căn bản phỏng theo  Pháp Quốc hay Trung Quốc   Chẳng hạn cùng theo Đạo Khổng , đạo Lăo, đạo Phật, nhưng  dân  trong Xă  hội  Việt   c ó  quan niệm khác  với dân trong Xă hội Trung  Quốc về  Đạo Khổng , đạo Lăo, đạo Phật.

 Cùng theo một phương pháp chính trị, chẳng hạn chế  độ quân chủ hay dân chủ  nhưng     chính trị của Việt Nam  hơi khác chính trị của  Pháp Quốc, hay củaTrung Quốc.

 
 

 

 

  III  Nhận định về Bản sắc

                 của Cơ Thể và Tinh Thần người Việt

.Cơ Thể Tinh Thần (Tính t́nh  & tư tưởng) c ủa người Việt  có cảm tưởng bất biến chỉ là phản ảnh của nền kinh tế nông nghiệp chưa biến chuyển sang h́nh thức kinh tế mới

Chúng xem ra cố hữu chỉ là phản ảnh của điều kiện lịch sử cùng luật  di truyền về sinh lư và tâm lư chưa biến đổi

Thật sự Chúng  không vĩnh cửu, nếu điều kiện sinh hoạt Xă hội thay đổi

Mong rằng với thời gian, điều kiện  sinh hoạt Xă hội thay đổi  khi  nền kinh tế  nông nghiệp chuyển sang nền kinh tế  kỹ nghệ và cơ khí, th́ cơ thể và tinh thần người Việt sẽ thay đổi.

Ban biên tập  soạn  

  (theo  tài liệu trrong cuốn   Xă Hội Việt Nam của tác giả Lương Đức Thiệp)