Những người khốn khổ tại quê hương Việt

                 dưới thời Xă hội chủ nghĩa  1975- 2015

 

1-    Những người phong cùi  ở Kontum

Kontum có phong tục là hễ ai mắc bệnh phong cùi th́ làng sẽ cất riêng một mái nhà trong rừng cho người đó ở, người bệnh này không được ở chung trong làng. Mà v́ họ nghèo qúa, ngay cái nhà họ ở cũng không ra cái nhà th́ mái nhà họ cất trong rừng cho người cùi ở đâu có thể gọi là nhà, phải gọi là cái lều hay cái ổ mới đúng, chỉ một mùa mưa là nát. Gia đ́nh và dân làng coi như đă xong bổn phận. Những người phong cùi này sống trong đói khổ và chết dần ṃn

  T́nh trạng  sống của họ ra sao?

Lần kia  một  vị  linh mục   (Cha Nguyễn Văn Đông, Cha sở  Nhà Thờ Thăng Thiên Thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai)  kể chuyến đi thăm  những người cùi như sau : tôi tới thăm những mái lều này, tôi phải cúi rạp người xuống mới vào nhà họ được. Thấy tôi đến thăm, họ mừng qúa anh em à. Họ cứ nh́n tôi rồi họ cười. Họ nói Bab đến thăm th́ họ sung sướng lắm, qúy lắm. Họ cười mà tôi khóc, anh chị em ơi. Họ đă nghèo lại cùi. Tôi biếu họ món ǵ th́ họ ôm vào ngực như sợ bỏ ra là mất.    Lần khác tôi vừa vào lều th́ có ông già nói : Bab ơi, Bab có nylon không, nếu Bab có th́ Bab cho con một miếng đi, một miếng thôi, để con che cái chỗ con nằm. Bab ơi, đêm qua mưa lớn qúa, cả nhà con chỗ nào cũng ướt, cũng lạnh, con không ngủ được, Bab ơi.

Anh chị em đă thấy người cùi khổ đến mức nào chưa ?. Họ vừa nghèo, vừa bệnh, lại không được học hành ǵ cả. Họ chỉ biết đếm đến số 100 là hết. Các anh chị em có thể tưởng tượng nổi không, họ cầm tờ giấy 20 ngàn, mua chai nước mắm 7 ngàn, họ không biết nhận lại là bao nhiêu, người bán hàng đưa lại bao nhiêu họ cầm bấy nhiêu, vậy đó.

 
   

2- Vùng thôn quê và  vùng sơn cước  nghèo cùng cực

a/-  Người nghèo ở Kontum

Ở Kontum đồng bào khắp bốn phương đến sinh sống, Bắc có, Trung có, Nam có.  V́  đói  quá , mà họ tha phương đến tận Kontum.  Họ sống rải rắc khắp nơi, sống nghèo lắm, có thể nói họ nghèo nhất nước. Có lần   linh mục  Nguyễn Văn Đông, Cha sở họ đạo Sa Thầy Kontum   vào thăm một buôn làng, già làng nói : Ơ Bab ơi, Bab nói Bab nghèo ha, Bab mới thấy nghèo thôi, chứ chúng tôi nghèo qúa rồi, nghèo riết rồi nên không thấy ḿnh nghèo nữa, khổ quen rồi cho khổ luôn... Buôn làng dân tộc. đă nghèo lại không được học, sống chỉ bám vào đất mà sống, nên giàu sao được.   Theo lời linh mục , th́  họ đều nghèo như nhau, nhưng lại tốt bụng, nên xin họ giúp ǵ, dù nghèo họ cũng giúp ngay.   Linh mục kể  rằng:  Tôi đi mua nhiều thứ rẻ, gói thành từng gói nhỏ. Như cá khô th́ tôi gói theo kí. Tôi đem cho họ, họ mừng lắm. Lần đó đến một xă, khi tôi đă phát hết qùa, c̣n lại trong giỏ mấy kí cá khô, lại gói trong giấy bóng màu vui mắt, trẻ con cứ theo tôi mà nh́n, ánh mắt của chúng tỏ ra thèm lắm, nhưng chúng không dám nói. Tôi hỏi : các con có thích không ? Chúng gật đầu. Tôi xuống xe ngay và phát hết mấy kí cá khô c̣n lại, đây con một kí, con một kí. Chúng nh́n tôi chăm chăm, hai tay ôm gói cá khô miệng cứ hỏi tôi hoài : Bab ơi Bab cho con thiệt hả Bab ? Tôi nói : Ừ, Bab cho con thiệt mà. Chúng lại hỏi : Bab cho con thiệt hả Bab, Bab cho con thiệt hả Bab.

 

b/-  Người nghèo ở  miền  đồng bằng sông Cửu Long

Họ sống trong nhà lá, lợp bằng  lá dừa nước. Dừa nước là loại dừa mọc dưới bùn ngập nước- bụi to không thân,  tàu to và dài độ 5m, Lá dừa nước được  xẻ hai để lợp nhà dựng vách, hoặc rỡ ra chầm thành từng miếng gọi là  lá  cần đốp, bặp xé ra làm lạt buộc .Nhà lá này cột bằng các loại tre, tram mù u… dược chôn dưới đất độ 5 tấc.  Trong nhà  bàn  ghế không có. Để ngả lưng nghỉ sau khi làm lụng mệt nhọc, họ nằm trên cái chơng tre 4 chân được chôn dưới dất, trên là những thanh tre nhỏ cỡ hơn một lon tay bện lại trên lót một miếng bao bố, hay một miếng đệm đan bằng lác .  Nghỉ ngủ như vậy không có mùng mền mặc cho muỗi tha hồ được một đêm  no nê…. Quần áo với 1 vài bộ bà  đen bạc mầu v́ sương gió.  Trẻ con  3-4 tuổi thường chỉ có cái áo cũ rách che thân, và không có quần, suốt ngày quanh quẩn bên căn nhà lá, vách lá không đủ che mưa  ngăn gió.   Việc nấu nướng, chỉ có  1 vài nồi đất để nấu cơm kho cá…. Họ dùng rơm rạ , lá dừa nước , thân dừa nước, tàu dừa  mo nang.. cây cỏ khô để dun bếp nấu ăn

c/- Người nghèo ở ven đô thị

Họ đủ lứa tuổi, từ 9-10-- đến tuổi già yếu…. Sống với đủ nghề, từ việc bán  vé số.. đến việc mua đầu chợ bán cuối chợ. Họ chỉ có cái rổ cái thúng cái sàng….. 

Đứng trước chợ đón các nhà vườn đem ra chợ bán cây trái, hoặc một mớ cá tép mà số người sống ở vườn ruộng tát ao, mương… Họ mua và đem vào chợ bán kiếm ít lời, có người  khuân vác  hàng hóa hay bưng nước cơm cháo ǵ đó đến cho các vị khách đặt mua.

d/- Người nghèo ở  trong thành phố lớn

    Nhiều người không nhà không cửa , chỉ nằm đầu đường xó chợ cho qua ngày.   Nhưng cũng có người nghèo cố dựng lên một căn lều. Căn lều này được coi như một căn nhà , nhưng căn nhà  chỉ có thể nằm hoặc ngồi.  Đây căn nhà của Gia đ́nh anh  Hoàng Văn Xuân  mà  từ 14 năm nay, hai vợ chồng anh cùng cậu con trai (học lớp 9) .

Căn nhà của Gia đ́nh anh  Xuân  tại số 44, Hàng Buồm, Hà Nội cao  vỏn vẹn 1,10m, rộng chưa đầy 6m. Anh Xuân than thở, khổ nhất là lúc ngủ, muốn  xoay người cũng khó. Chuyện riêng tư của hai vợ chồng phụ thuộc hoàn toàn vào  giờ giấc của cậu con trai.

Muốn lên được nhà, anh Xuân phải trèo  một đoạn tường cao gần 2m. Trong nhà, ngoài một số vật dụng thiết yếu như  tivi, quạt, nồi cơm điện, gia đ́nh anh không dám sắm thêm bất cứ thứ ǵ v́  không có chỗ để.

Muốn lên nhà... phải trèo tường và chui qua lỗ này

Chiều cao của anh Xuân là 1,60m và cậu  con trai 1,40m, trong khi căn nhà chỉ có 1,10m. Trông cậu bé 14 tuổi ngồi mà  đầu đă gần chạm trần nhà.

Trong nhà, anh Xuân sắm 2 chiếc nồi  cơm điện để tiện việc nấu nướng. Một chiếc dùng nấu cơm, chiếc c̣n lại th́  nấu rau, xào thức ăn…. Tất cả chỉ có thế!

Chỉ cần so sánh một  cái biệt thự của “đại gia, đại quan” với căn nhà “lỗ chó chui” cũng đủ thấy  nỗi khổ của người dân như thế nào.

 
   

3-  Thương phế binh chế độ Việt Nam Cộng Ḥa

Image result for thuong phe binh vnch

   Sau năm 1975, các thương phế binh Việt Nam Cộng Ḥa bị liệt vào thành phần ‘ngụy quân, ngụy quyền’ và bị gạt ra bên lề xă hội Việt Nam. Họ bị phân biệt đối xử, không được hưởng một chế độ nào dành cho người thương tật từ chính quyền mới.

Suốt 40 năm qua,  họ  sinh sống ra sao?

  Dù  bị ngược đăi, nhưng họ  tự bươn cải kiếm sống như bao người làn lặn khác, đa số đều rơi vào cảnh túng thiếu. Họ phải kiếm sống bằng những nghề mà người khuyết tật ở Việt Nam thường theo bao đời nay như đi hát dạo, bán vé số

Một thương phế binh hiện sinh sống tại Sài G̣n tŕnh bày hoàn cảnh của bản thân:

Tôi thuộc Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù, tôi bị thương ở Đồi Charlie ngày 9 tháng 4 năm 1972. Chân tôi bị găy ba khúc, bây giờ một hai ngón trên tay phải tôi bị co rút, trên đầu và dưới bụng c̣n mấy miếng miểng nữa. Lúc vào quân đội tôi là con mồ côi, không có cha mẹ, anh em, ḍng họ. Tôi t́nh nguyện vào nhảy dù năm 1970. Đến năm 72 bị thương, tôi về (Viện) Mồ côi tôi sống. Về tôi cũng cưới một người vợ trong mồ côi ra. Bà Phước và ông Cha đồng ư cho tôi cưới, rồi tôi được Bộ Tổng Tham mưu cấp cho một căn nhà ở làng phế binh Thủ Đức, Phước B́nh.

Sau năm 75, Sài G̣n bị sụp đổ, ‘họ’ vào đuổi chúng tôi ra- không phải riêng ḿnh tôi mà rất nhiều người như tôi bị ra khỏi nhà. Hiện nay cuộc sống của tôi rất khổ. Tôi phải bươn chải đi bán vé số mà sống, một ngày tôi bán được 100 tờ vè số chỉ có được 100 ngàn đồng; nhưng phải đóng tiền nhà 50 ngàn, c̣n 50 ngàn cho gia đ́nh sinh sống. Không đủ nhưng phải gói ghém.  Con cháu tôi không có tờ giấy nào lận lưng.    Hiện tôi cũng không có tờ giấy chứng minh nhân dân lận lưng v́ tôi không có nhà, không có hộ khẩu làm sao có chứng minh. Tôi không có nơi nương tựa, nhà thuê- cửa mướn. Đôi lúc không đủ tiền họ đuổi ra khỏi nhà. Đó là sự thật.

Một thương binh khác hiện đang sống tại Quảng Ngăi cũng cho biết t́nh cảnh của bản thân trong suốt mấy chục năm qua như sau:

Tôi bị thương ngày 20 tháng 10 năm 1974 tại Nghĩa Hành. Tôi ở Trinh Sát 6 ở Chu Lai. Chuẩn tướng Nhật điều vào đánh ở Định Cương, Nghĩa Hành. Trong lúc hai bên đánh nhau, tôi bị trúng claymore găy hai chân.

Từ 75 đến giờ đâu có ǵ đâu, cũng sống khổ cực. Tôi bị găy hai chân và một tay th́ đâu làm ǵ được. Tôi cũng ‘lần quần’ rồi có vợ, có con và giờ cũng ‘cơm nhà, áo vợ’ chứ có làm ǵ được đâu

Sau 40 năm,  các  thương phế binh VNCH nay đều bước sang lớp lăo niên. Thời gian nhuộm bạc tóc họ một phần, nhưng phần lớn nét khắc khổ, sự chai sạn hằn sâu trên khuôn mặt và thân thể của họ là chứng tích của bao nỗi gian truân đè nặng lên cuộc sống phế nhân mà suốt bao năm qua bị nhà cầm quyền ruồng rẫy.

 
 

 

 

4-    Các me già VN

Xúc thương những cụ bà lặn lội gánh
hàng rong        Xúc thương những cụ bà lặn lội gánh hàng rong

Gánh nặng thứ lặt vặt và rẻ tiền            món hàng chỉ là mớ  rau muống, bó dọc

                                                               khoai

  Các   mẹ già đôi chân trần bước trong mưa gió,    gánh bó rau lúc trời tờ mờ sáng   rồi    bán  hàng tới 1 giờ đêm dưới trời mưa .  Dù cả ngày chỉ kiếm thêm được vài ba đồng vẫn c̣n hơn không có....Tuổi già đè nặng trên vai nhưng không có ai chia sẻ nên dù tuổi cao, dù lưng mỏi, các cụ vẫn phải lặn lội sớm khuya để kiếm thêm miếng cơm ăn, kiếm manh áo mặc...

Nguyện-cầu trên khắp Quê-Hương  cho tất cả các Mẹ  già  có cuộc sống an lành, ấm no trong tuổi già ...!

 
   

5-  Các em bé Việt 

                     

H́nh ảnh thứ nhất cậu bé chưa cao bằng cây  lúa  vừa bước đi vừa khóc thét v́ gánh lúa nặng trên vai .   C̣n  h́nh ảnh thứ   hai  cô  bé với bộ quần áo lấm lem, đang  bê đá để mưu sinh . Cả hai h́nh ảnh này   đă khiến nhiều người xem rơi lệ.   C̣n rất nhiều em bé  vận quần áo  đen bẩn và sờn rách đi kiếm miếng cơm ăn , hoặc  kiếm   tiền đi học bằng các phương tiện như đi   lục lọi băi rác, cơng gạch thuê sau mỗi giờ lên lớp.. ... 

Thật tội nghiệp cho các em bé  quê hương Việt  mặc dầu c̣n quá thơ ngây,  đă phải cực khỗ  v́  những  công việc nặng nhọc bất đắc dĩ.?    Không biết các bậc  lạnh đạo đất nước  Xă hội Chủ Nghĩa  có để ư đến số phận của các em bé  không nhỉ  ?. Theo lẽ thường,  ai cũng biết trẻ em là tương lai của đất nước: "Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai, xin được nhắc ngàn lần hơn thế..."    Vậy mà ở nhiều nơi trên quê hương Việt , các em vẫn đang phải sống một cuộc đời đầy cơ cực và nguy hiểm. 

6-  Phụ nữ  b  buôn bán t́nh dục

      

Chuẩn bị khám trinh tiết    lấy chồng xa xứ bị xem như món hàng    

C̣n cái nào buồn hơn cái cảnh nầy ...c̣n cái nhục nào hơn cái nhục nầy...!!!!!       Con gái Việt Nam như những món hàng rao bán !

Quảng cáo tại Trung Cộng:

Mua 1 cô vợ Việt Nam giá 6,000 USD

1. Bảo đảm c̣n trinh

2. Bảo đảm giao hàng trong ṿng 90 ngày

3. Không phụ phí

4. Nếu cô ta trốn đi trong ṿng 1 năm, được 1 cô khác miễn phí