Ư nghĩa của hai từ ngữ

 

                           Văn Hóa và Văn Minh  

 

 

 

Khi  đánh giá  một  dân tộc  người ta thường đề cập tới tŕnh đ Văn Hóa và  Văn Minh  c ủa dân tộc đó.Thc s  ư nghĩa của hai từ ngữ Văn Hóa và  Văn Minh  như thế nào ?

Văn Hóa  và Văn Minh là nhng  t ng  gi trong trí óc  ta nhng khái-niệm trừu-tượng và mông lung.   Đ nm đưc ư nghĩa của nhng t ng này, xin mi đc giả   đoc bài mạn đàm  của  Bác Sỷ   Nguyn Lê Hiếu:

 

     Mạn-đàm về  t ng  Văn-hóa và cụm t Văn-học, Văn-vật và Văn-hiến  liên h ti  Văn-hóa   và Mạn-đàm về  t ng  Văn  Minh  

 

 I-Trước hết mạn đàm về Văn-hóa và cụm Văn-học, Văn-vật và Văn-hiến

Xin bàn qua tiếng văn  trước rồi bàn tới mấy từ văn-hóa, văn-vật, văn-học và văn-hiến.  

Văn

Người xưa nh́n lên Trời thấy các tinh-tú sắp-xếp gọn-gàng quy-củ nên gọi là hoa-văn. Lại nh́n xuống Đất cũng thấy trật-tự quy-củ trong thiên-nhiên, địa-h́nh và loài vật. Con người bèn tạo ra chữ viết—hay văn-tự—mà gọi là văn để hài-ḥa với cái “hoa-văn” của Trời Đất. Muốn được như vậy, phải dùng văn-tự để ghi lại, chỉ bảo cách con người sử-thế sao cho có trật-tự, gọn-gàng quy-củ. Vậy lúc đầu, văn dĩ tải đạo. Văn đó sau này hiểu khác đi thành văn-chương (Writings hay Belles Lettres) mà môt khía cạnh nghệ-thuật h́nh-thức chính nằm ở câu-văn-cú-pháp. Nhiều người muốn bảo-vệ và chú-trọng vào vẻ đẹp tinh-thần, đề cao quan-niệm văn dĩ tải đạo, nghệ-thuật vị nhân-sinh; lại càng để ư vào việc chỉ-dẫn lễ-nghĩa phong-tục của con người.

 
   

Văn-hóa

Cuốn sách khai-phá của Đào-Duy-Anh nhan-đề Việt-Nam văn-hóa sử-cương (1) được nhiều người coi là kinh-điển, đặc-biệt khi tác-giả cho rằng văn-hóa chú-ư đến mọi sinh-hoạt của con người, bỏ qua quan-niệm chất-hẹp hạn-chế thường cho rằng văn-hóa là chỉ những học-thuật tư-tưởng; trong ba thiên chính của cuốn sách, ông đă tŕnh-bày chi-tiết tỉ-mỉ Thiên thứ hai: Kinh-tế sinh-hoạt; Thiên thứ ba: xă-hội và chính-trị sinh-hoạt Thiên thứ tư: Tri-thức sinh-hoạt. Ông dẫn các phát-biểu của nhà tư-tưởng Pháp Felix Sartiaux và dựa vào những ư đó khi thảo cuốn sách về văn-hoá Việt.

a-     Hai điều đáng chú-ư là tác-phẩm của Felix Sartiaux (2) thực sự có nhan-đề là La Civilisation mà tiếng Quốc-ngữ chuyển ư được coi là văn-minh chứ không phải văn-hóa. Điểm thứ hai là định-nghĩa về văn-minh của Felix Sartiaux gồm hai phần, phương-diện động phương-diện tĩnh …

Theo giới thuyết của Félix Sartiaux th́ ‘Văn hoá về phương diện động, là cuộc phát triển tiến bộ mà không ngừng của những tác dụng xă hội về kỹ thuật, kinh tế, tư tưởng, nghệ thuăt, xă hội tổ chức, những tác dụng ấy tuy liên lạc mà vẫn riêng nhau. Về phương diện tĩnh th́ văn hoá là trạng thái tiến bộ của những tác dụng ấy ở một thời gian nhất định, và tất cả các tính chất mà những tác dụng ấy bày ra ở các xă hội loài người. (1a)

Ba thiên chính kể trên gồm 85% cuốn sách mô-tả các sinh-hoạt mọi mặt của xă-hội ở thể tĩnh. Có vẻ như là Đào-Duy-Anh đi qua lại tới lui một cách rất tự-nhiên giữa hai khái-niệm “văn-minh” và “văn-hóa”; nhưng rút cuộc trong tác-phẩm văn-hóa của ḿnh, ông ngả vào cái thể-tĩnh của cái mà Felix Sartiaux gọi là văn-minh. Dù sao đi nữa th́ cho tới nay, Đào-Duy-Anh vẫn được coi như là người đă nhấn mạnh vào ư-kiến văn-hóa bao gồm tất-cả các sinh-hoạt của con người với một định-nghĩa ngắn gọn.

Hai tiếng văn hoá chẳng qua là chỉ chung tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng: Văn hoá là sinh hoạt. (1b)

a-     Những nhà Hán-học hay viện vào nghĩa từ gốc Hán nên gán cho văn-hóa một ư phụ khác, ư giáo-hóa. Học-giả Thái-Văn-Kiểm dẫn trong Kinh Dịch hai câu:

Quan thiên VĂN dĩ sát thời biến

Quan nhân văn HÓA thành thiên hạ

 

Có nghiă là

 

Nh́n hiện tượng trên trời để xét lại sự biến đổi của thời tiết.

          Nh́n hiện tượng của người ta trong xă hội để sửa đổi thiên hạ. (3)

 

HÓA cũng ở trong ư văn-chương giáo-hóa là giảng-dạy; là biến đổi sang t́nh-trạng ưa-chuộng hơn (more preferable). Ư-niệm giáo-dục giáo-hóa này chuyên-chở hai ư phụ khác. Một là văn-hóa chẳng phải là tự-nhiên mà do được dạy-dỗ; vậy gốc là nhân-tạo. Thứ hai, v́ dạy-dỗ để biến-hóa sang một t́nh-trạng khá hơn hay ưa-chuộng hơn, ư-niệm này mang một ư-năng lựa-chọn sau khi lấy phán-đoán so-sánh. Trong khi, theo Đào-Duy-Anh, văn-hóa nhắm mô-tả các sinh-hoạt chứ không so-sánh phê-phán. Mà đă là sinh-hoạt con người th́ từ xă-hội sơ-khai hay xă-hội tân-tiến, chỗ nào, nhóm người nào cũng có văn-hóa của nhóm họ. Nói đến văn-hóa việc chính là mô-tả các sinh-hoạt mà không thể và không lư tới việc phê-phán so-sánh hơn thua.

Trần-Văn-Cảnh (4) dẫn một định-nghĩa mới của Trần-Ngọc-Thêm với lời văn khoa-học hàn-lâm có phần khúc-mắc:

 
   

Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá tŕnh hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xă hội’

Trong hiện-tại, hăy chấp-thuận để bàn-thảo, định-nghĩa nôm-na mô-tả như sau đây:  Văn-hóa bao gồm tất-cả các sinh-hoạt: ăn-uống, ăn-chơi, ăn-ở, ăn-nói, ăn-mặc, ăn giỗ, ăn Tết, lễ-hội, nghề-nghiệp, tín-ngưỡng, thói-quen, lề-luật, suy-tư v.v. của con người.   

Văn-học                               

Có quan-niệm chật-hẹp hạn-chế cho rằng văn-hóa chỉ những học-thuật tư-tưởng được ghi lại trong những bài viết cao-xa, các pho sách kinh-điển. Đó thực ra chỉ là một phần hay một khía-cạnh của văn-hóa được tŕnh-bày qua ng̣i bút mà người ta gọi là văn-chương chữ-nghĩa hay nghệ-thuật ngôn-từ.

Như dẫn ở trên, Liam Kelley kể rằng người xưa nh́n lên Trời thấy hoa-văn. Lại nh́n xuống Đất cũng thấy hoa-văn. Duy có con người th́ chưa thấy quy-củ sắp-xếp rơ-rệt; bèn tạo ra chữ viết—hay văn-tự—mà gọi là văn để hài-ḥa với cái “hoa-văn” của Trời Đất. (5) văn-tự để dạy-dỗ, chỉ bảo con người xử-thế sao cho hài-ḥa trong nhân-loại. Liam Kelley muốn chú-trọng vào việc chỉ-dẫn phong-tục và cách xử-thế trong xă-hội, hay là lễ-nghĩa của quốc-gia. Liam Kelley gọi cái văn đó là những điển-tịch hay institutional records.

 

Những sản-vật ngôn-từ để biểu-dương văn-hóa, dù là văn-chương hay điển-tích thường là cao-phẩm, lời văn óng-ả lóng-lánh, ư-tưởng cao-siêu, lư-luận găy-gọn, văn-phong nghiêm-chỉnh. Lại c̣n có cái đẹp của nét chữ trên giấy hoa-tiên và nét viết rồng bay phượng múa, hay vẻ đẹp của bức họa. Trong hiện-tại, hăy chấp-thuận để bàn-thảo, định-nghĩa nôm-na mô-tả như sau đây: Văn-họcmột khía-cạnh của văn-hóa biểu-lộ qua ngôn-từ, chữ viết và nét bút. 

 
 

 

Văn-vật

Việt-nam tự-điển của Hội Khai-trí và Tự-điển tiếng Việt của nxb Khoa-học Xă-hội cách nhau gần nửa thế-kỷ cùng ư-kiến văn-vật cùng nghĩa như văn-hiến. (6) Trong khi Hán-Việt tự-điển của Nguyễn-Văn-Khôn (1959) giảng văn-vật là sản-vật tinh-thần của văn-hóa, nghĩa là phần nào gần với lănh-vực văn-học. Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh ghi là những sản vật của văn hóa như lễ nhạc, chế độ (7) mà lễ-nhạc chế-độ th́ cũng nằm trong khuôn-khổ tinh-thần. Vậy th́ văn-vật cũng là một khái-niệm hơi mông-lung.

Ngược lại, cũng có nơi khác chủ-trưởng văn-vật là những dấu ấn về vật chất thể hiện văn hiến của một triều đại. Trần Ngọc Thêm viết văn vật là truyền thống văn hóa biểu hiện ở nhiều nhân tài và nhiều di tích lịch sử”, “công tŕnh, hiện vật có giá trị nghệ thuật và lịch sử”.(8)  Vậy th́ dấu-ấn vật-chất, di-tích lịch-sử, tỷ-dụ như đền Ngọc-sơn, tháp Rùa, Chùa Trấn-quốc, trống đồng Đồng-sơn, những chứng-tích văn-hóa đó có thể gọi chung là văn-vật. (Hăy tạm bỏ ra yếu-tố nhân-tài sẽ bàn sau)

Theo thiển-ư, bởi v́ đă xếp những sản-vật tinh-thần vào trong khối văn-học rồi, vậy nên dành những dấu ấn về vật chất thể hiện văn hiến của một triều đại., những công-tŕnh xây-dựng, những đồ vật nhân tạo; các hiện-vật sản-xuất từ nhỏ như dụng-cụ gia-dụng cho tới lớn như lâu-đài, chùa-chiền, thành-quách, h́nh-tượng v.v. Có khi những chứng-tích đă bị phần nào hư-hỏng, bỏ-bê, chỉ c̣n là di-tích những vẫn mang giá-trị dấu-ấn văn-hóa. Thí-dụ như những nền cũ lâu-đài hay những dấu xưa xe ngựa. Trong hiện-tại, hăy chấp-thuận để bàn-thảo, định-nghĩa nôm-na mô-tả như sau đây: Văn-vật là một khía-cạnh văn-hóa biểu-lộ qua các hiện-vật nhân-tạo (artefact)

Việc phân-biệt văn-học chữ-nghĩa tinh-thần để nghe, để ngâm và để đọc đối với văn-vật vật-chất đề nh́n, để sờ, để chiêm-ngưỡng có tính-cách tương-đối; bởi v́ có những sản-phẩm văn-hóa gói-ghém cả hai diện. Chùa Một-cột khói hương nghi-ngút là một công-tŕnh kiến-trúc lớn, kèm theo lịch-sử tôn-giáo và lịch-sử quốc-gia, tiêu-biểu cho sự vĩnh-cửu của quốc-gia, tục-truyền nằm trúng vào cái mạch sinh-tồn của nhà nước. Một dăy bia dựng trên lưng rùa trong Văn-miếu ghi chép danh-tánh các tiến-sỹ, kèm theo các bài văn tán-ngợi người hiền-tài của cả nước. Có thể xếp vào phần văn-học hay văn-vật hay vào khoảng giao-tiếp giữa hai miền cũng được.   

 
 

 

Văn-hiến

Cũng như các từ văn-hóa, văn-học, văn-vật, thuật-ngữ văn-hiến cũng được dùng một cách rất thoáng v́ định-nghĩa không đồng-nhất trong nhiều từ-điển. Khá đông coi văn-hiến khi là văn-hoá khi là văn-minh. Một số giảng-giải rằng Văn-hiến chính làTruyền-thống văn-hóa hoặc có lâu đời, hoặc là tốt đẹp hay đáng làm gương-mẫu. Đó là các Từ điển Việt Nam phổ thông  (1951) của Đào Văn Tập; Từ điển tiếng Việt (2000) của Viện Ngôn ngữ; Từ điển bách khoa Việt Nam (2003); Từ điển từ Hán Việt (2007) của Lại Cao Nguyện;  Phan Văn Các và Từ điển tiếng Việt (2007) của Trung tâm từ điển.

Một quan-niệm khác cho rằng Văn-hiến là biết Yêu chuộng văn học, văn hóa; cũng như Văn vật: Từ điển tiếng Việt (tb lần 2, 1977) của Văn Tân và Nguyễn Văn Đạm

Lại có ư-kiến rằng văn-hiến cũng như văn minh: Tự điển Việt Nam của Ban Thu thư Khai trí (1971); Việt Nam tân từ điển (1951) của Thanh Nghị; Tự điển Việt- Hoa- Pháp (1937) của Gustave Hue. (9)

Một nhóm khác lại chú-trọng đến khía-cạnh nhân-bản: coi văn-hiến là có người hiền-tài. Người hiền tài văn hiến là một thuật ngữ của Nho gia. (10) Tả về nước ta, sách nhà Thanh có đoạn ghi là “từ đời lưỡng Hán về sau, phong khí Lĩnh Nam dần đổi; cho nên sừng tê, ngà voi, đồi mồi, ngọc bích, vàng, đồng, hoa trái tích tụ đă nhiều; mà những bậc khôi kỳ, trung tín, tài đức xuất hiện cũng lắm, có thể coi [Lĩnh Nam] vừa là đất màu mỡ, vừa là nước văn hiến .Nhiều sản-vật thành đất mầu-mỡ; nhiều bậc hiền-tài trung tín, tài đức là nơi văn-hiến. (11)

 

Một số khác ôm-đồm cả hai yếu-tố: vừa có văn-học văn-hóa vừa có nhân-tài hiền-đức. Chu Hy viết: Văn, điển tịch dă; hiến, hiền dă nghĩa là văn điển tịch; hiếnngười hiền.

Vậy th́ Văn hiến  = điển tịch (ghi chép về lễ) cộng với người hiền (người  chế lễ, hành lễ).

Ở trên, cũng hai ư song-song điển-tịch và hiền-tài th́ Liam Kelley chọn yếu-tố điển-tích (5) trong khi ở dưới đây, Nguyễn-Trăi coi trọng yếu-tố hiền-tài.

Trong bài B́nh Ngô đại-cáo, Nguyễn-Trăi viết

Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đă lâu.
Núi sông bờ cơi đă chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác.
Từ Triệu, Đinh, Lư, Trần bao đời gây nền độc lập,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương.
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,
Song hào kiệt đời nào cũng có. (12)

Trong khái-niệm văn-hiến, Nguyễn-Trăi coi trọng hiền-tài nên mới nói đến cảnh hào kiệt đời nào cũng có coi như là điều-kiện quan-trọng, tiên-quyết; không nhấn vào điển-tịch có lẽ coi là nhẹ. Hồ-Quư-Ly viết Minh-đạo-lục và xây thành nhà Hồ, Đào-Duy-Từ viết Ngọa long cương văn,  xây lũy Thày, làm mâm hai đáy, đó chẳng phải là những hào-kiệt vừa làm văn-học, vừa tạo văn-vật vừa chứng-minh cảnh văn-hiến hay sao.

Chúng tôi dùng một lư-luận tương-tự như đă áp-dụng cho văn-học (biểu-hiệu văn-hóa qua ngôn-từ) và văn-vật (chứng-tích hữu-thể) nên đề-nghị coi văn-hiến bày-tỏ khía-cạnh nhân-bản của văn-hóa, chú-trọng đến con người (kỳ-tài hào-kiệt…) Từ đó, trong hiện-tại, hăy chấp-thuận để bàn-thảo, định-nghĩa nôm-na mô-tả như sau đây: Văn-hiến là một khía-cạnh của văn-hóa biểu-lộ qua con người hiền-tài.

Tóm lại, văn-hóa chỉ chung tất-cả các sinh-hoạt mọi mặt của con người. Khi biểu-lộ qua ngôn-từ th́ gọi là văn-học. Khi nói đến các chứng-tích hay di-tích hữu-thể th́ gọi là văn-vật. Khi nhắc đến con người kỳ-tài hiền-đức th́ gọi là văn-hiến. Thế c̣n văn-minh là ǵ ?

 
   

      

        II-Mạn đàm về Văn-Minh

 

   a/   Khái-niệm

Hăy thử xem-xét vài hoàn-cảnh văn-minh. Hăy thử xét về mặt ăn-mặc. So-sánh một người thuở ăn-lông-ở-lỗ, nói một cách khác, c̣n chưa có quần-áo che thân, chịu rét lạnh, cùng lắm là một mảnh da vật khoác ngang vai, tay cầm cái gậy; rồi một phụ-nữ thượng-lưu như trong tranh do Corregio vẽ th́ mường-tượng, người phụ-nữ sống vào thời văn-minh hơn người sống trong hang.(13) Giờ nếu thêm người mặc cái quần cụt hay đóng khố th́ người này sống trong cảnh văn-minh giữa hai người trên. Nếu lại so-sánh với buổi tŕnh-diễn trang-phục mùa thu 2013 có 5, 6 phụ-nữ mặc những bộ quần-áo mầu-sắc khác nhau, kiểu khác nhau nhưng rất thoải-mái th́ lại thấy họ sống một thời văn-minh hơn tất cả các thí-dụ trước.(14)     

 
 

 

Nhưng đừng tưởng rằng có thể dùng thời-gian hay số-lượng quần áo mà đánh giá được nền văn-minh. Cùng thời với Corregio, Bocticelli vẽ thần Vệ-nữ bước ra khỏi vỏ ṣ lớn; không có quần-áo lớp-lang như người phụ-nữ quư-phái mà lại khỏa-thân như người trong hang; nhưng không thể nói là thời Bocticelli văn-minh (15) bằng thời con người ở trong hang-hố! Mà thần Vệ-nữ c̣n cố che đậy vậy chúng ta nên hiểu rằng thời đó, sự kín-đáo được quư-chuộng. Quần-áo không phải chỉ để cho ấm-áp mà c̣n để che-đậy nữa. Thế nhưng năm ngoái, có cô nghệ-sỹ vẽ lại bức tranh của Bocticelli nhưng cho Vệ-nữ dơ hai tay như chào đón: thời buổi văn-minh hiện-đại này lại khác nữa: không c̣n thẹn-tḥ che-dấu: tiêu-chuẩn văn-minh ở đây là nghệ-thuật tả chân. (16) Một Marylin Monroe áo quần cũng lớp-lang, đứng trên lỗ thông hơi thổi từ dưới thốc lên, xiêm bay tốc mà tay người tài-tử th́ cố che đậy tưởng như giống thần Vệ-nữ Bocticelli. Nhưng không phải; tiêu-chuẩn văn-minh ở đây không phải là mặc cho ấm, cho đẹp hay cho kín-đáo mà chính là nửa-úp-nửa-mở để gây cảm-xúc khêu gợi. (17) Thành ra văn-minh có thể mường-tượng xếp hạng nhưng không dễ v́ có nhiều tiêu-chuẩn, có nhiều cách, nhiều kiểu khác nhau.

Bây giờ lại so-sánh cảnh cầy-cấy nhổ mạ cấy mạ hay cầy do ḅ kéo th́ hiển-nhiên những máy cấy máy cấy cơ-khí ở thời văn-minh hơn trước nhiều. Lại so sánh cảnh qua sông: nghĩ rằng có cầu th́ văn-minh hơn là phải chờ cô lái đ̣. Như cầu gỗ đóng đinh, cầu tre lắc-lẻo. Cái cầu bằng hai cây tre buộc lại, đi chân cũng khó c̣n mang giầy dép hiển-nhiên khó hơn, giầy gót cao như không thể được! Cầu tre bắc ngang dễ đi hơn. So với các cầu bê-tông hay cầu treo mở lên cho thuyền-bè đi, xếp xuống cho xe-cộ đi lại th́ hiển-nhiên các cầu này văn-minh hơn cầu tre lắc-lẻo! Nhưng ngay trong một hoàn-cảnh, cũng có những diện khác nhau: một đám cưới cô dâu mặc áo đầm trắng có khăn voan trùm đầu và kéo sau lưng cái đuôi th́ rất văn-minh về mặt thời-trang và trang-phục; nhưng đi trên cầu tre th́ về phương-diện giao-thông thấy c̣n là chậm-tiến!

 
   

Qua những thí-dụ như vậy, th́ mường-tượng, văn-minh gồm những tiến-bộ đưa đời sống bấp-bênh thuở hồng-hoang hỗn-loạn sang một trạnh-thái tương-đối ổn-định ngăn-nắp an-b́nh hơn. Bill Gates gọi những tiến-bộ đó là innovation. (18

Nhưng thí-dụ cũng cho thấy là văn-minh có thể đi theo nhiều hướng khác nhau ở nhiều vùng khác nhau với mục-tiêu khác nhau, rất đa-diện. Do đó, không ngạc-nhiên khi thấy có nhiều văn-minh khác nhau, vùng sa-mạc Ai-cập khác vùng đồng-bằng Lưỡng-hà khác vùng bở biển đa-đảo Hy-lạp. Mà chính trong một nền văn-minh lớn lại có những tiểu văn-minh nội-bộ như trong Hy-lạp, có Athène, Sparta v.v.

 

 

Ở nước ta, từ xưa vẫn nói là văn-minh Đồng-sơn tiêu-biểu cho dân Việt. Nếu vào mạng VanhoaViet.info (19) sẽ thấy những chứng-tích của nền văn-hóa đó ở vùng Thanh-hóa. Nhưng dân Việt ngày nay sống ngoài vùng Thanh-hóa và trung-châu sông Hồng-hà mà đă ḥa-giống với dân Chăm và dân Khmer, hậu-duệ của văn-minh Sa-huỳnh và Óc-eo. Sau một ngàn năm sống chung với người Trung-hoa th́ người Việt-kinh-miền-Bắc đă phần nào chấp-nhận và pha-giống với người Hoa. Khi Nam-tiến vào miền Trung và Tây-tiến sang miền Nam cũng đă ḥa-giống với dân địa-phương mà sinh ra người Việt-kinh miền Trung và miền Nam. Do đó, nếu coi văn-minh Đồng-sơn là bên “nội” th́ cũng nên coi “Óc-eo” và “Sa-huỳnh” là gốc ngoại. Có lẽ do đó mà vanhoaviet.info, khi tŕnh bày hai nền văn-minh Sa-huỳnh và Óc-eo, đều có ghi là hai nền văn-minh này đóng góp cho dân-tộc ta ngày nay.

 

  b/   Điều-kiện ảnh-hưởng vào văn-minh

Các nền văn-minh thành-h́nh tiệm-tiến, tùy-theo địa-lư (bờ-biển, sông-ng̣i, núi-non) nhưng cũng có thể biến đi nhanh-chóng qua các điều-kiện địa-chất như hạn-hán, núi-lửa, lụt hay sóng-thần-tsunami.

Lương-thực là yếu-tố quan-trọng bậc nhất. Ở buổi b́nh-minh của nhân-loại, con người sống nhờ ăn theo, săn vặt, hái và lượm. Ăn theo là đi theo những con vật lớn, chờ chúng săn bắt mồi, ăn trước; khi chúng bỏ đi th́ người ăn tiếp theo. Săn vặt là bắt những con vật nhỏ, chim, gà, rắn, thỏ v.v. Hái là lấy quả trên cây có trong thiên-nhiên. Lượm là nhặt quả rơi dưới đất hay là đào lấy củ hay rễ nằm dưới mặt đất.

  

Nhờ trí-khôn và sáng-kiến, con người đă có vài tiến-bộ như biết hợp-tác, cộng-tác trong việc săn thú-vật lớn như voi khổng-lồ. Con người là sinh-vật chậm so với các thú vật khác. Lại cũng là sinh-vật nhỏ nũa. Vậy mà sinh-vật nhỏ và chậm đă biết tổ-chức săn vật nhanh và lớn. Muốn săn một con voi đi lẻ, người vây chung-quanh, la-ó nhưng không lại quá gần, né tránh khi voi tiến, tiến tới khi voi dừng chân, dồn voi đến cảnh tiến-thoái bất phân; voi bèn phủ-phục để thu ḿnh tự-vệ; và đó là lúc con người đổ đến từ bốn phía. Nếu có bầy hươu, con người chia nhau phủ-phục hai bên hông, rồi dồn cho bầy hươu chạy qua; đám người phục dùng cung tên bắn hươu. Gặp toán voi, lừa cho voi đứng tựa vào bờ vực, la ó cho voi lùi; con sau rốt bị té xuống vực; con người bèn xuống dưới mà bắt con voi té chết hay bị thương.

 
   

Bước nhảy vọt là khi con người t́m ra bốn sự thực mà có thể tạm gọi là tứ diệu đế. Điều thứ nhất là lẽ nhân-quả: trái cây không phải tự-nhiên mà có; nó có v́ cái nhân cái hột rơi xuống đất trước đó trước đây. 

Điều thứ hai là sự chuyện-biệt: Không phải hạt nào cũng cho ra quả giống nhau, và mỗi hạt cho một loại trái khác nhau. 

Điều thứ ba là con người có khả-năng phân-biệt rồi chọn-lựa: từ đó, con người đă phần nào chinh-phục được thiên-nhiên về mặt thực-vật.

Điều thứ tư, thừa thắng xông lên, con người t́m cách chinh-phục thêm động-vật, biến heo rừng thành heo vườn, biến cho sói thành chó nhà, biến gà rừng thành gia-súc.

Giải-quyết xong vấn-đề căn-bản là lương-thực, con người thực-sự thay-đổi nếp sống, làm cho việc ăn-uống được đảm-bảo, đời sống ổn-định hơn, được tổ-chức hơn. Đấy là những bước nhảy vọt cuả văn-minh.

 
   

c/  Văn-minh và nếp sống đa-dạng

Nhắc lại, lúc đầu ăn theo và lượm hái; con người sống đời di-động; không chủ-động được mà chỉ đi theo con thú lớn để ăn bám ăn theo.

Khi bắt đầu biết trồng cấy rồi gặt hái thay vị hái lượm, con người biết làm răy; vẫn c̣n di-động nhưng hạn-chế loanh-quanh, thay phiên từ cánh đồng này sang cánh đồng nọ gần đó. Rút cuộc, làm nhà ở khoảng giữa, cầy cấy thay phiên các mảnh đất chung-quanh; sự di-chuyển hạn-chế quanh căn nhà mới dựng lên.

Người này định-cư ở đấy, người khác gần đó, các khu làng thành h́nh. Đời sống thành định-cư, ổn-định. Việc ăn-uống trở nên đều-đặn không lệ-thuộc vào may-rủi của buổi đi săn.

Khi đời sống dễ-dàng và ổn-định hơn, một số người không cầy-cấy sẽ tụ-họp ở trung-tâm lớn, đông-đúc hơn. Không phải làm nghề nông, họ t́m sinh-hoạt khác, làm công-kỹ nghệ, mỹ-thuật. Các thành-thị thành-h́nh. Đời sống thêm thú-vị, vui thích hơn. Văn-minh tiếp-tục.

 

Có những cái hay kèm theo những cái kém hay mà chúng ta sẽ t́m hiểu thêm kỳ khác

 
   

Ghi-chú

 

1-            Việt-Nam văn-hóa sử-cương, Đào-Duy-Anh,1938 tb. 2002. 1a tr. Bài tựa; 1b trong Thiên 1 Văn-hóa là ǵ?

 

2--       Felix Sartiaux: nhà khảo-cổ Pháp, tác-giả cuốn La Civilisation (Văn-minh); định-nghiă mà Đào-Duy-Anh trích-dẫn là về Văn-minh, nhưng ông dùng cho văn-hóa.

 

3-       Thái-văn-Kiểm giải-thích sự ghép hai từ riêng-rẽ văn và hóa trong câu thơ; về câu thứ nhất,dĩ sát thời biến = xét lại sự biến-đổi của thời-tiết không hẳn như là thời-tiết trong ngày (weather) mà là nghĩa rộng đổi thay. Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê dịch hai câu thành Trông xem Thiên Văn sẽ biết chiều trời, biết trời biến hóa. Nh́n xem nhân văn, sẽ biết liệu chiều điểm xuyết cho Nhân quần ngày một thêm đẹp, thêm tươi ; chuyển sang lục-bát thành Thiên Văn để biết thời Trời, Nhân Văn  để khiến cho đời thêm hay.    (http://nhantu.net/DichHoc/THUONGKINH/22Bi.htm)

 

4-       Trần-Văn-Cảnh: Khái niệm về Văn hoá :Chữ Văn hoá dịch từ chữ ‘Culture’

http://www.ghhv.quetroi.net/63TVCANH/63TVCANHVanHoaGiaDinhVietNam02.htm Dẫn Trần Ngọc Thêm : Cơ sở văn hoá Việt Nam ; Sài-g̣n, nxb Giáo dục : tái bän lần thứ hai, 1999. Xem ghi-chú (8) ở dưới.

 

5-       Liam Kelley: Vietnam as a 'Domain of Manifest Civility' (Văn Hiến Chi Bang) Source: Journal of Southeast Asian Studies, Vol. 34, No. 1 (Feb., 2003), pp. 63-76.

 

6-       Việt-nam tự-điển của Hội Khai-trí , Hà-nội, 1931 và Tự-điển tiếng Việt nxb Khoa-học Xă-hội, Hà-nội, 1977

 

7-       Hán-Việt tự-điển của Nguyễn-Văn-Khôn, Sài-g̣n, Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh, Hà-nội, 1932, in lại

 

8-       Trần-Ngọc-Thêm – T́m về bản-sắc văn-hóa Việt-Nam: Văn-hóa, văn-minh, văn-hiến và văn-vật, Sài-g̣n, 1996, 2006

 

9-       Trần-Trọng-Dương: Từ-nguyên của từ "văn-hiến" qua bối-cảnh tri-thức Nho-giáo Việt-Nam – Trung-Hoa, Tạp-chí nghiên-cứu văn-hóa, Trường Đại-học Văn-hoá Hà-nội. Trong bài này, tác-giả liệt-kê những dị-biệt về định-nghĩa của rất nhiều tự-điển mà chúng tôi đă tóm-tắt lại.

 

10-       Đoạn này nhấn mạnh đến nhân-vật - yếu-tố chủ-thể làm nên văn-hiến của một đất nước. Nhân vật đó phải là bậc khôi-kỳ, có đức trung-tín và tài-năng theo quan-niệm của Nho-giáo.

 

11-       -Trần-Trọng-Dương: -nt- Sách Vũ cống đồi chỉ (quyển 19) của Hồ Vịnh đời Thanh

 

12-       B́nh Ngô đại-cáo do Nguyễn-Trăi nhân-danh Lê-Lợi viết để bố-cáo cùng thiên-hạ. Bản dịch Ngô-Tất-Tố.

Bức tranh Ngươi Phụ-nữ thượng-lưu do Corregio: thế-kỷ 15-16 sáng-tác, mang trào-hướng Roccoco, không c̣n nét đối-xứng Baroque, nhưng mang nhiều nét cong như mặt trăng non, lưỡi liềm, h́nh cong vỏ ṣ.

 

13-       Bức tranh Ngươi Phụ-nữ thượng-lưu do Corregio: thế-kỷ 15-16 sáng-tác, mang trào-hướng Roccoco, không c̣n nét đối-xứng Baroque, nhưng mang nhiều nét cong như mặt trăng non, lưỡi liềm, h́nh cong vỏ ṣ.

 

14-       Triển-lăm thời-trang mùa thu-đông 2011, Hoa-kỳ.

 

15-       Tranh Vệ-nữ ra đời (thoát ra từ vỏ ṣ) do Bocticelli thực-hiện cuối thế-kỷ 15; kín-đáo che-đậy thân-thể.

 

16-       Triển-lăm tranh Nữu-Ước cuả Patricia Watwood, Apocalypse Venus, 2013; vẽ theo mẫu cổ nhưng mang t́nh-chất hiện-đại. Ở đây, không c̣n cái kín-đáo của Boticelli mà Vệ-nữ hồn-nhiên mở rộng tay chào-đón.

 

17-       Marilyn Monroe trong phim 7 năm ngứa nghề. (The 7-year itch, 1955)

 

18-       Phát-biểu của Bill Gates, tháng ba, 2014.

 

19-      Gs Phạm-Xuân-Khuyến: mạng vanhoaviet.info. Mạng tŕnh-bày rất nhiều đề-tài về văn-hóa, sử địa Việt.

Nguyễn-Lê-Hiếu