Nghệ thuật  Kiến Trúc

 

 

 

 

Nghệ

   thuật

Kiến trúc

 

 

    Nghệ thuật  Kiến Trúc

                                      người viết: PXK

Tinh thần và bản sắc riêng của mỗi dân tộc thường phát hiện rơ ràng  nhất dưới h́nh thức kiến trúc.  Kiến trúc dân Việt được phát hiện phần nhiều nơi nhà cửa của thường dân , đ́nh miếu chùa chiền và thành quách , chẳng hạn thành  Cổ Loa của nhà Thục, thành Đại La do Cao Biền.

Trong nghệ thuật kiến trúc , dân Việt lấy gỗ hay tre làm vật liệu căn bản, nhà cửa đều là một hệ thống kèo cột ràng rịt lấy nhau có mái nặng đè xuống cho vững. Lấy cột làm chỗ tựa cho mái, chứ không lấy tường như lối kiến trúc của nhiều dân tộc, vách và tường chỉ dùng để chắn gió mưa.  Cột nhà đều tựa trên chân tảng đá. Bộ phận chính của nhà là ba gian và hai hàng cột ở giữa.  Nhà th́ có bốn mái: hai mái chính và hai mái chái. Nhà nào cũng ít cửa, nên trong nhà  thường tối.. Mặt sau của gian giữa th́ không bao giờ có cửa v́ đấy là nơi đặt bàn thờ gia tiên.  Nhà được cất  theo chữ nhất ( kiểu nhà của vùng Quảng Trị hoặc chữ nhị gồm nhà trước nhà sau ( kiểu nhà ở vùng Quảng Nam) hoặc chữ đinh ( kiểu nhà của vùng Quảng Ngăi). Nhà dù kiểu nào th́ kết cấu vẫn gồm cột kèo, xiên, trích, đ̣n tay, rui, mè. Có khác chăng chỉ là chất liệu và kiểu dáng  trang trí nội ngoại thất căn nhà mà thôi. 

 

 Với thời gian, gỗ và tre bị mối mọt không bảo quản  được, nên từ từ những vật liệu này được thay thế bằng xi măng và gạch ngói.  ...Trong lối kiến trúc nhà thường dân Việt ngày nay, th́ cửa sổ là một khung ṿng tṛn có bông sen. Ṿng tṛn biểu tượng bánh xe luân hồi và bông sen  là hai âm hưởng  của Phật Giáo được đưa vào kiến trúc.  Liên hệ đến bông sen có sự tích  Chùa một Cột .

Truyền thuyết rằng  vào mùa xuân năm Kỷ Sửu 1049 vua Lư Thái Tông mộng thấy Phật Bà Quan Âm ngồi trên đài sen, dẫn nhà vua lên đài. V́ được mộng như vậy, nên nhà vua ra lệnh  xây chùa Diên Hựu, chùa có h́nh dáng giống bông sen.  Chùa Diên Hựu tức là Chùa Một Cột ngày nay.  Cửa sổ có h́nh ṿng tṛn, và các thanh sắt chắn song cửa sổ có h́nh bông sen th́ rất được ưa thích nơi người Việt  miền Trung.  Lối kiến trúc chùa chiền  cũng không thể coi nhẹ loại cửa sổ này. Cách thức làm  nhà cửa của thường dân phải lệ thuộc vào lễ giáo và pháp luật.  Nhà không được có gác, không được h́nh chữ môn hay chữ công. H́nh chữ môn hay chữ công  dành cho dinh thự vua chúa, dinh thự các quan và cho đ́nh miếu.  Đ́nh  là nơi tụ họp của dân làng.  Đ́nh th́ làng nào  cũng có và là nhà to nhất và đẹp nhất thường làm theo h́nh chữ Đinh tục gọi là  kiểu chuôi vồ.

 Cung điện nhà vua, dinh thự các quan, chùa chiền, lăng miếu thường to lớn rộng răi và có gác  kiểu chữ công  hay chữ môn.  Ở đàng trước các đ́nh chùa và cung điện thường có một bức b́nh  phong  chiếu thẳng vào gian trung tâm, ngoài nữa là  cổng vào có hai hoặc bốn cột đồng trụ hoặc cửa tam quan trên có lầu chuông hay cḥi canh, chung quanh có thành hay tường cao.  Lối kiến trúc h́nh cầu của Hồi Giáo cũng đă được đem vào Việt Nam.  Nó được áp dụng  nơi  Thánh Thất Cao Đài Tây Ninh..

Hễ nói tới kiến trúc th́ phải nói đến điêu khắc và hội họa, v́ hai ngành này làm tăng vẻ mỹ quan cho nhà cửa, đền đài chùa chiền và dinh thự. Hai ngành này ví như cái áo cái quần của con người.

( Xin mời coi  bài  Một Công  tŕnh kiến trúc đặc biệt Văn hóa Việt :Quần Thể Nhà Thờ Phát Diệm

 
               KIẾN TRÚC ĐẶC BIỆT:  NHÀ THỜ PHÁT DIỆM.
                                                      Trích ra từ  bài  viết của học giả Nguyễn Trọng


Quần thể khu nhà thờ Phát Diệm gồm có nhà thờ chính ṭa hay nhà thờ lớn và bốn nhà thờ nhỏ chung quanh đă được Nam Triều, tức triều đ́nh Huế dưới thời Pháp thuộc, tặng cho bốn chữ “Địa Linh Nhân Kiệt”, trong dịp lễ an táng Cụ Sáu Trần Lục vào ngày mồng 9 tháng 7 năm 1899.

Việc xây cất quần thể nhà thờ Phát Diệm  là một công tŕnh xây cất khác thường, về mặt kiến trúc cũng như về mặt mỹ thuật. Nó vừa là một ngôi chùa của dân tộc vừa là một ngôi thánh đường của đạo Công Giáo.

Nếu Kim Tự Tháp được xây giữa một vùng sa mạc hoang vắng chỉ có cát trắng ở dưới và nền trời xanh trên cao, chung quanh không có cây cối hay sông ng̣i th́ quần thể nhà thờ Phát Diệm được xây trên vùng śnh lầy nước đọng, không có bóng người qua lại, chỉ có loài ễnh ương kêu rên rỉ như trong một băi tha ma rộng lớn.
Việc đầu tiên phải làm là lấy tiền đâu để khởi công xây cất một quần thể nhà thờ vĩ đại như vậy? Cụ Sáu Trần Lục quan niệm rằng nhà thờ của tín hữu th́ tín hữu phải góp tiền để xây cất. Tín hữu không có tiền mặt th́ đóng góp bằng lúa. Cụ Sáu xin mỗi gia đ́nh góp ba đấu lúa mỗi năm, nghĩa là chưa tới 3 kư gạo. Mỗi gia đ́nh đóng góp nhhư vậy không phải chỉ trong một vài năm mà trong suốt thời gian dài 10 năm. Cụ đem gạo bán lấy tiền và dùng tiền này ttrả công thợ. Hàng ngàn thợ khéo tay này được tuyển dụng khắp nơi trong nước, mỗi người một tay nghề chuyên môn.

C̣n một việc quan trọng khác không kém ǵ tiền bạc trả công thợ là công việc trị chân móng trên một vùng đất śnh lầy, một ḥn đá ném xuống đă ch́m xuống đất bùn, nói ǵ xây trên đó một quần thể nhà thờ nặng hàng trăm ngàn tấn.

Muốn trị móng cho vững chắc, phải đào sâu 2, 3 thước, rồi đóng liền nhau những cọc hay cừ 3, 4 thước. Có chỗ phải đóng xuống cả một cây tre dài hàng 6, 7 thước. Tiếp đó là đổ đá giăm -tức loại đá nhỏ- xuống giữa hàng cừ, rồi lại thuồn (bỏ vào, nhét vào) đất đá vào các lỗ hổng. Từng đàn người nện đi, nện lại cho nền móng bắt đầu cứng lại và sau cùng người ta phải dùng từng đàn trâu giẵm đi giẵm lại, như xe hủ lô cán đường.

Làm sao đưa những tảng đá lớn lên cao?

Có lẽ Cụ Sáu Trần Lục đă nghiên cứu trong sách vở về công việc xây Kim Tự Tháp của người Ai Cập, cách này trên 2000 năm, và công việc xây Đế Thiên Đế Thích của người Khờ Me vào thế kỷ thứ 1. Muốn đưa những tảng đá nặng hàng chục tấn lên cao, người ta đă đắp những con đường dốc bằng đất từ dưới lên cao rồi dùng sức người, kẻ kéo ở trên, kẻ đẩy ở dưới để đưa những tảng đá lên cao qua con đường dốc bằng đất này.
Riêng về người dân Công Giáo Phát Diệm, họ vừa đẩy những tảng đá hay cột gỗ lim lên cao vừa đọc kinh cầu xin Chúa giúp sức hay hát những câu vè Cụ Sáu sáng tác.C̣n nữa. Vậy Cụ Sáu lấy đá và gỗ ở đâu để xây cất một Q uần thể nhà thờ to lớn như vậy khi mà vùng Phát Diệm thời đó chỉ là một băi bùn lầy nước đọng, bước chân con người đứng lên không vững, làm sao một tảng đá hay một cây gỗ lim có thể đứng vững được.

Theo nhà nghiên cứu văn học Thái Văn Kiểm viết trong cuốn Kỷ Yếu Phát Diệm th́ những phiếm đá to đến 7 thước khối được lấy từ những núi đá cách đó 200 cây số. Những khối đá khổng lồ này được kéo xuống những chiếc bè tre trôi trên sông để về Phát Diệm. Những bè -bè là những cây tre, cây nứa cột lại với nhau để chở hàng hóa trên sông, bè không có mui cao như tầu, mưa xuống là ướt xũng- những bè này phải trôi hàng tuần, có khi hàng tháng mới tới bến.  Đó chuyện di chuyển những tảng đá khổng lồ về Phát Diệm để cho các tín hữu mộ đạo đục, đẽo, mài, giũa theo nhu cầu.

C̣n công tŕnh di chuyển những cây gỗ lim th́ sao? Gỗ lim tiếng Pháp gọi là Bois de fer, là một loại gỗ rất cứng, cứng như đá, chịu đựng mối mọt và thời tiết. Gỗ này nặng hơn nước cho nên một cột gỗ lim là một cột nước dựng đứng.Ngày nay du khách tới thăm nhà thờ chính ṭa Phát Diệm ṭa ở đây có nghĩa là nhà thờ lớn, không phải là bốn nhà thờ nhỏ vây chung quanh- có thể vô cùng ngạc nhiên nh́n thấy tận mắt 48 cột gỗ lim, mỗi cột cao 12 mét và đường ṿng tṛn phải hai người ôm mới hết. Hàng cột lim này cách nay trên 70 năm, người viết đă nh́n thấy nó, nay trở lại “Quê Cũ Làng Xưa”, người viết vẫn nh́n thấy nó như không thay đổi và không xiêu vẹo. Ngày xưa, người viết đă nhiều lần lấy tay sờ những cột gỗ lim này để cảm thấy sự nhẵn nhịu và mát lạnh của nó, nhất là vào những trưa hè oi ả. Ngày nay, sau trên 60 năm xa cách, người viết lại lấy tay sờ vào nó để nhớ lại cái cảm giác xưa cũ vẫn c̣n nguyên vẹn. Con người có thể già đi, nhưng cảm giác không già theo tuổi.Những cây gỗ lim này phải lấy từ rừng già Bến Thủy, tỉnh Thanh Hóa, cách Phát Diệm 150 cây số.   Khi những cây gỗ lim này đă được chặt hết cành lá trơ trụi th́ được trâu kéo ra bè gỗ, bè này trôi vào sông Hồng Hà rồi từ đó về Phát Diệm

 

Công việc xây cất quần thể nhà thờ Phát Diệm thoạt nghe kể lại tưởng đâu là một chuyện thần thoại hoang đường, sức người không sao làm được. Thế mới biết sức mạnh của tín ngưỡng và ḷng tin vào một đấng Thượng Đế trên cao có thể khiến cho người trần mắt thịt thực hiện được những kỳ công bất hủ, để lại cho hậu thế muôn đời về sau. Quần thể nhà thờ Phát Diệm chỉ là một trong hàng trăm kiến trúc chùa chiền và lăng tẩm của người Việt Nam chúng ta, tạo thành những di sản vô cùng quư hóa in sâu vào tâm hồn và trí óc của người Việt chúng ta, trải qua bao nhiêu thế kỷ.Phải công tâm mà nói rằng người Công Giáo Phát Diệm có một truyền thống tín ngưỡng phát xuất từ văn hóa quê hương ngàn năm lịch sử. Nó cũng phát xuất từ nền văn hóa Công Giáo cũng đă có từ ngàn năm. Hai nền văn hóa cổ kính này ḥa hợp và pha trộn với nhau một cách vô cùng cân bằng và êm thắm để tạo nên con người Phát Diệm dưới thời Cụ Sáu Trần Lục và sau đó…Người viết bài này rất may mắn được thừa hưởng nền văn hóa cổ kính ḥa hợp này.

Nguyễn Trọng
 
 

                The  traditional architecture

 

 

 

      1-     A brick house  in  a village

                                                  by Nguyen Le Hieu

 

My parents sent us back to Cổ-nhuế, our nguyên quán  in the countryside.  It was close enough to Hà nội for my parents to come and check on us on weekends. We stayed with my aunt.  My aunt was a widow. She had a brick house, not very big but enough to qualify her to   be a woman with means.

Her house was of traditional architecture in the countryside: three compartments without dividing walls in between.

The center part housed the family altar with copper incense burners, pictures of ancestors, special tea sets, candle holders and worship apparels. We stayed near the right wall, my aunt and her two sons occupied the left side.

Attached to the house on each side were two large rooms always locked and dark. One stored  rice and had to be locked; it was opened twice a day to take out some rice for the meals. The rice  was for family consumption and also for sale. The room on the other end held my aunt odds possessions: things she had bought but not placed in use yet, or that were broken but not ready to be thrown away.

The house had a large brick courtyard used to dry rice. After the harvest, husked rice grains or paddy were separated from the stem. They then needed to be dried. My aunt owned some rice fields and after harvest, had large amount of paddy to dry. The grains were placed on the ground of the court in thin layers. She then walked barefoot back and forth, in straight lines, dragging her feet in order to separate the grains. She did it in the morning, letting the grain dry under the sunlight. By the evening, it was time to collect. Depending on the type of rice and the  timing of the harvest, some rice required only one day of exposure, some two. In the evening, after the grain had been collected, we put down some rush-mats; we kids lay down, enjoying the  breeze of summer evening. One favorite game was counting stars. Another was to catch a shooting star and to make a quick wish before it disappeared. Sometimes, my aunt prepared for  us a pot of sweet dessert of black beans or mung beans. Other treats were cooked yam or manioc.

 

                    2-       A brick house in a city                     

 

My family lived happily in a one story brick house with a balcony in the front, a kitchen and terrace in the back separated from the main house by a small square court. The court was covered with brick except on one corner where an old tree had grown. Sleeping quarters were on the upper floor. In the late afternoon, when the sun was coming down, we kids stood on the balcony, looking down on the street, counting carriages or bicycles that went by for fun. My teen-agedolder sisters also checked out the boys who rode back and forth on their bikes trying to attract the girls’ attention.

Downstairs were a salon (living room) and my parents’ room in the front, and the dining and family rooms in the back. The living room furniture was very special.

In the dining room, there was a large 10-seat set used not only for dining, but also for study. My sisters did their homework at that table, each one at a corner. At that time, school was  held five and a half days a week and students had daily home work. At one side, I had my

initiation on writing.

               by Nguyen Le Hieu