Mổ xẻ Văn Hóa Việt

 

 Nếu muốn có   nhận định  rơ ràng về văn hóa Việt, thiết tưởng  nên mổ xẻ văn hoá Việt . Mổ xẻ từ bên ngoài, để xem  văn hóa Việt có ǵ  chung chung  với văn hóa nước ngoài không, sau  đó mổ xẻ ở bên trong, để xem văn hóa Việt có ǵ  đặc biệt không..  Đó là  điều tôi  muốn làm. Xin độc giả  theo rơi xem tôi mổ xẻ văn hóa Việt như thế nào

A-    Từ ngoài vào Văn Hóa Việt

Một số điểm tương đồng giữa văn hóa nước ngoài và văn hóa Việt

1-Dân tộc tính vẫn c̣n sau thời gian dài lệ thuộc

 

    a/-  Các quốc gia  Brazil Nam Mỹ Châu ( 201 triệu dân) Mozambique  Phi Châu ( 24 triệu dân) và Angola Phi Châu (19 triệudân) lệ thuộc Bồ Đào Nha từ năm 1500.

Đến năm  1822, Brazil  dộc lập   nhưng mất tiếng bản xứ, chỉ  nói tiếng Bồ Đào Nha.  Năm 1975, Mozambique dộc lập mất tiếng bản xứ mà nói tiếng Bồ  Đào Nha  hoàn toàn. Cũng năm 1975 Angola dộc lập   mất tiếng bản xứ, nói tiếng Bồ  Đào Nha  88%. 

mất tiếng bản xứ, Brazil, Mozambique và Angola cứ đ̣i chính phủ Portugal  trao trả  nền độc lập, v́ các dân tộc này c̣n dân tộc tính mà chính phủ  thuộc địa không cướp đi được..

    C̣n quốc gia Việt    lệ thuộc Tầu từ  năm 111 B.C tới 939 AD  ( hơn một ngàn năm)  nhưng vẫn giữ được  dân tộc tính và cả ngôn ngữ nữa.    Đó  là một  đặc biệt vĩ đại .

 

Đến đây, chúng ta có thể kết luận rằng:  tiếng nói và  dân tộc tính là hai yếu tố cơ bản của Văn hóa  một  dân tộc.. C̣n tiếng nói th́ c̣n dân tộc. Và cũng thế, c̣n  dân tộc tính th́ c̣n dân tộc

 
   

  b/-   Dân tộc tính có cái lợi mà cũng có cái hại

 Quốc gia nào mà   thuần nhất  một sắc tộc th́  dân tộc tính  rất mạnh đi đến đoàn kết nhất trí. Quốc gia nào mà có quá nhiều sắc tộc   nghĩa là quá nhiều dân tộc tính khác nhau, th́   khó mà có sự đoàn kết  để làm cho quốc gia hùng mạnh. Quốc gia Việt có 54 sắc dân , nghĩa là  có 54  dân tộc tính khác nhau th́  phải chăng  đó là một  điều bất lợi cho sự đoàn kết một ḷng  trong công cuộc xây dựng quốc gia hùng cường?

  c/-    6-7 làng xă  Việt   ngụ  tại  vùng Bạch Long -Trường B́nh  thuộc  Pḥng Thành Cảng QuảngTây vẫn nói tiếng Việt   Họ thuộc  một sắc tộc Kinh từ bao đời sống    quây quần với nhau. V́ vậy,   họ c̣n giữ được  dân tộc tính, nên họ  được liệt vào danh sách một  trong 56  dân tộc thiểu số Trung Quốc   và  được gọi là  sắc dân Việt

   d/- Dân Việt  trên đất  Mỹ:  

 Thế hệ thứ nhất nói tiếng Việt   đang chết dần, thế hệ thứ hai   lười nói tiếng Việt , nói tiếng Mỹ nhiều hơn, c̣n thế hệ thứ ba hầu như nói tiếng Mỹ.  Có thể nói tiếng Việt sẽ  bị mất trong tương lai.

 C̣n dân tộc tính th́ sao?

Nếu dân  Việt  sống  gần gũi nhau,  năng sinh hoạt với nhau,  th́ Dân tộc tính c̣n tồn tại. Nếu các gia đ́nh người Việt  thích sống lẻ loi,  sống lẫn lộn với  các người chủng tộc khác, th́ dân tộc tính Việt sẽ dần dần mất. 

Cái nguy hiểm hiện tại là:    thực tế  người Việt ít tham dự các buổi cộng đồng,  ít đi chùa hay đi nhà thờ   để có dịp sinh hoạt với nhau,   thích ở xé lẻ biệt lập.   Cứ cái đà này kéo dài, th́ phong tục tập quán của người Việt sẽ không c̣n nơi các gia đ́nh người Việt nữa.   Tất nhiên  dân tộc tính sẽ mất.

 

   2- Lối viết chữ Việt, Cách bố cục bài Toán và bài văn học đường,hệ thống đo lường .

 

Vào năm1967, có Expo 67 tại Montreal Canada tác giả bài này vào thăm gian hàng  Soviet Union. Khi đi thăm  khu văn hóa   thấy có một số bài vở của các em học sinh  Liên Xô  từ lớp 1 cho đến lớp 10, tác giả bài này mở ra coi, th́ thấy lối viết  chữ, lối bố cục bài tóan và bài văn  giống hệt  lối viết chữ, lối làm bài toán  và lối làm văn  ở Việt nam.  Tác giả  nghĩ rằng  lối viết chữ này và lối bố cục này  được đưa vào Việt Nam thời kỳ Pháp đô hộ Việt Nam.  Khi làm bài Toán th́  hệ thống đo lường là hệ thống mét, kilogram, lít  đươc xử dụng.

Đến đây  chúng ta có thể kết luận lối viết chữ và lối  bố cục bài toán bài văn  của Âu Châu đă  đi vào văn hóa Việt

 
 

 

 3-  Ẩm thực :   trà, rượu, món ăn, cơm, rau thơm

  - Rượu ngâm rắn

Người Việt  thường có thói quen uống rượu bổ.   Trong s  rượu bổ,  th́ rượu ngâm rắn là  loại rượu người đàn ông ưa chuộng nhất.  Dân Sàig̣n thường xuống vùng Thành Triệu Tỉnh  Bến Tre mua rắn về ngâm rượu đế.. Nh́n ra nước  ngoài, dân Nhật  ( Okinawa) cũng là dân ưa  loại rượu này-   Các cửa tiệm ph   thường  thấy bày la liệt các b́nh rượu ngâm rắn khắp đó đây bên Okinawa

 

 -Nậm  rượu 

 Rượu  thường được đổ vào loại b́nh nho nhỏ đặt ở mâm cơm đăi khách. Cái  b́nh nho nhỏ này được mang tên cái Nậm  rượu.  Vào đêm giao thừa , ở miền Bắc,  các con cháu thường  mang khay đựng bánh chưng và nậm rượu  đi  tết ông bà, chú bác . Cái  loai nậm rượu   này   cũng được thấy trong buổi Triển Lăm Văn hóa Nhật  tại Plattsburgh New York vào năm  1967.  

Như vậy rơ ràng cái Nậm  rượu  chung cho hai nền Văn hóa Nhật và Việt.

 

-  Cơm và bún

Cơm và bún là món ăn thường lệ  của người Nhật,. cũng như của người Việt.

  Món  soba  (bún) tương tợ  như món Hủ Tiếu. Món  kino soba tương tợ  như món bún khô  của người Việt.  Tô bún khô  phủ đầy thịt và rau của người Qui Nhơn B́nh Định là món ăn lót ḷng  chính  cho khách thập phương  đến Qui Nhơn vào những năm trước  năm 1965. Sau năm 1965, th́  món phở Bắc thay thế.

  Dụng cụ để ăn Cơm và bún ở gia đ́nh hay ở các của tiệm ăn của Nhật hay Việt. là các  chén, bát, đĩa, th́a, đũa mâm, khay.   Mâm, khay đựng Cơm và bún được  bày ra trên  bàn, phản (đi văng), chiếu

-Rau thơm: Mùi tàu, Lá lốt, Tía tô, Húng, Hẹ vv..

Các loại rau thơm này là lọai gia vị chung của  các  nền văn hóa Nhật, Trung, Việt .  Nếu  độc giả nào có dịp  du lịch Montreal Canada, viếng vườn Botanical Garden, khi tới khu Bonsai ,  sẽ thấy  các loại rau thơm  nêu trên. Chắc các  độc giả rất bất b́nh khi  nh́n thấy các bảng nhỏ ghi  gốc tích các loại rau thơm này.  Theo các bảng nhỏ chỉ dẫn , th́ các loại rau trên  đều là  rau của Nhật và Tàu chỉ có rau răm là của Việt

 
 

 

   4- Văn nghệ

    - Các  loại Trống to nhỏ,  và  các  loại cây đàn Hồ Nhị

 Nói đến Văn nghệ truyền thống Việt  là nói đến múa với nhạc cụ trống và  các  nhạc  khí Hồ Nhị.  Chẳng hạn khi Múa Lân,  các diễn viên đánh các loại trống to nhỏ, c̣n  trong đám rước, thường  người ta chơi những bản nhạc không lời bằng  các nhạc khí  Hồ Nhị. Ở Okinawa  trước và sau khi Lân ( shisha)  xuất hiện trước mặt Đức Phật ADI ĐÀ, th́ các loại trống đánh hồi lùng, nhưng có bài bản đàng hoàng  để  hỗ trợ  cử chỉ của Đức Phật ADI ĐÀ đang thuần hóa con Kỳ Lân, cho đến khi nó thần phục  quỳ lạy Đức Phật. Cũng thế ở Việt Nam khi múa Lân, trống cũng đánh hồi lùng với những bài bản  theo đúng kế hoạch .  Chỉ khác  một vài điểm: ở Okinawa Nhật, Con Kỳ Lân là một con vật to  tương tợ con Sư Tử, Đức Phật A Di Đà  vuốt ve nó, c̣n ở Việt Nam, con Kỳ Lân, thân dài đứ đượt  như con rồng , ông  Địa  vuốt ve nó.

 

  5-Sinh hoạt hàng ngày

    -Chợ búa

    Những sinh hoạt hàng ngày có nhiều điểm giống nhau, chẳng hạn ở Okinawa  Nhật  có một  cái chợ  ở trung tâm  thành phố . Chợ này bố trí giống như chợ Sàg̣n, Chợ  b̀nh Tây, hay chợ Bà Chiểu. Người ta  ngồi hay đứng  và bán hàng  như thế nào, th́ người Việt  ở Chợ Sàig̣n, Chợ B́nh Tây, chợ Bà Chiều ngồi đứng  và bán hàng như vậy

  - Ṃ cua, bắt ốc 

   Giới B́nh dân Nhật  vào những buổi chiều khi nước biển rút xuống,  lội xuống  bờ biển  ṃ cua, bắt ốc  khi nước cạn   để  nấu bữa ăn chiều. Cũng thế  người Việt  ở hai bên bờ sông dọc theo con đường Vĩnh Long -Cần Thơ khi nước sông rút xuống, lội xuống sông ṃ cua, bắt ốc  khi nước cạn,  để kiếm bữa ăn buổi chiều cho gia đ́nh .

 
   

 6- Nông nghiệp 

 Trong lănh vực nông nghiệp, ḅ và trâu là những công cụ sống động giúp  rất nhiều cho người Nhật cũng như cho người Viêt. Trâu th́ giúp ích cho con người  nơi có những ruộng nước sâu. Ḅ th́ giúp  nơi những cánh đồng  khô ẩm.  Ngoài ra trâu ḅ c̣n giúp người ta trong những lănh vực khác, chẳng hạn, ḅ giùp kéo  cối ép mía   tại Okinawa  Nhật Bản.    Ở  quận Hoài Nhơn B́nh Định vào mùa thu hoạch mía, con ḅ  bận công tác kéo  cối ép mía ngoài cánh đồng trồng mía.  Tác giả bài này đă nh́n thấy tận mắt  cảnh tượng con ḅ kéo cối ép mía ở  quận  Hoài Nhơn, B́nh Định vào năm 1962.

  7- Xă Hội Nhật và Xă Hội Việt vào những thập niên đầu thế kỳ 20

  Vào khoảng năm 1923 theo tài liệu phim Oshin của Nhật th́ nạn  Mẹ chồng con dâu, Môn đăng hộ đốiHôn Nhân do cha mẹ quyết định th́ là những  tệ nạn không hiếm tại Nhật. Tôi thiết tưởng  những nạn đó  c̣n dữ dằn, kinh khủng ở Nhật  hơn là  ỡ Việt Nam cùng thời kỳ . Tiểu thuyết Nửa Chừng Xuân của Khái Hưng vào năm 1933 có  tả  Mẹ  Cậu Lộc  hành hạ cô Mai, người yêu của cậu Lộc.  Bà không muốn cô Mai lấy cậu Lộc v́  không môn đăng hộ đối, và  bà quyết định cưới con gái quan tuần phủ  về  làm vợ cho Cậu Lộc. Trường hợp Cô Mai không bị xử tệ cho bằng Cô Oshin ở Nhật  vào năm 1925. Mời quư vị độc giả coi cuốn phim Oshin . Cuốn phim này đă được chuyển ngữ sang tiếng Việt . Cũng cuốn phim  Oshin  này đề cập đến Chủ  điền bên Nhật  bóc lột  tá điền  hơn  Chủ  điền   Việt bóc lột tá  điền Việt trong cùng một thời kỳ.  (xin coi Con Nhà Nghèo của Hồ Biểu Chánh và Nửa Chừng Xuân của Khái Hưng)

 Đến đây độc giả  nhận thấy rằng, các nạn Mẹ chồng con dâu, Môn đăng hộ đối,  Hôn Nhân do cha mẹ quyết định,Chủ  điền bóc lột tá  điền là  các tệ nan chung của nhiều quốc gia, chứ không riêng ǵ của Việt nam.   Thế mà  Tự Lực Văn Đoàn ( trong đó có Khái Hưng) đă quy những tệ nạn đó là do Nho Giáo, và kết tội  Nho Giáo . Sau này nhiều người,kể cả nhiều trí thức  theo gương Tự Lực Văn Đoàn cứ lên án Nho Giáo v́ những tệ  nạn nêu trên.  Thật tội nghiệp cho Nho Giáo

 

Tóm lại,  văn hóa Việt có nhiểu điểm chung với văn hóa  Nhật  nói riêng và văn hóa nước ngoài nói chung

 
 

 

B- Từ  trong Văn Hóa Việt

 

Văn hóa Việt có 3 thành phần: Văn hóa Đông Sơn,Văn hóa Sa Huỳnh và Văn hóa Óc Eo.

I-  Từng văn hóa

1/-  Văn hóa Đông Sơn

  Văn hóa Đông Sơn được biết đến khởi nguồn từ sự khám phá ra trống đồng do ông Nguyễn văn Lắm (nghề câu cá) ở ĐôngSơn, thành phố  Thanh  Hoá, tỉnh Thanh Hóa, tiếp đến do sự khai quật nhiều trống đồng ở  vùng Đông Sơn và các vùng tiếp cận do ông L Paijot (nghề khảo cổ), và sau cùng năm 1934  được đặt tên do nhà khảo cổ  Heine Golden.

Văn hóa Đông Sơn xuất hiện vào các triều đại Hùng Vương, An Dương Vương và Triệu Đà, kết thúc thế kỷ 2  sau công nguyên   thời Bắc thuộc

Ngôn ngữ Việt Mường, chữ viết : con ṇng nọc

Cư Dân :    Mường, Thổ, Chứt   Kinh.  Một thời Cư dân này được gọi là dân  Âu Lạc ( Lạc Việt và Âu Việt).  Một thời Cư dân này được gọi là dân  Giao Chỉ  .

 Thời Bắc thuộc, Văn hóa Đông Sơn  có thêm môt số cư dân:

       Môn Khơ me    (Mảng, Kháng, Xinh Mun, Ơ Đu , Bru Vân Kiều),        5

       Tày Thái          ( Thái, Lào, Lự, Bố Y, Giáy, Nùng, Sán Chay   Tày          8

        Hmông - Dao       (Hmông, Dao, Pà Thẻn),                                           3

       Hoa                    (Hoa, Ngái, Sán D́u  )                                                            3

      Tạng Miến         (La Hủ, Lô Lô, Hà Nh́, Phù Lá, Cống và Si La),            6

       Ca Đai               (Cờ Lao, La Chí, Pu Péo, La Ha)                                 4

                            

 
 

Lănh thổ Văn hóa Đông Sơn : từ Ung Châu  - Khâm Châu một vùng nhỏ   của tỉnh Quảng Tây Trung Quốc (bộ Thang Tuyền- bộ Ninh Hải triều đại Hùng Vương)   cho tới Đèo Ngang

Văn hóa Đông Sơn nổi bật những đặc điểm sau đây:

1-  Kỹ thuật luyên Kim:   Đồng.  

 Đồng dùng  làm  ra  khí cụ chiến tranh: gươm giáo, dao găm, mũi tên . Người ta c̣n khai quật được những mũi tên đồng thành Cổ Loa  

Đồng dùng  làm  ra  đồ trang sức.

 Đồng dùng  làm  ra  lưỡi cày để cày  bừa  ruộng nước  ngơ  hầu trồng lúa nước ( lúa mùa).

 

Nhờ  vào phát hiện được  các loại lưỡi cày nhiều di vật có xương trâu, ḅ, các nhà khảo cổ nhận định rằng: Ḅ   sống trên đồng cạn  c̣n Trâu chuyên sống trong vùng đồng lầy, và lưỡi cày được phát hiện là dụng cụ  dành cho ruộng đồng lầy.  Như vậy th́  nông nghiệp   cư dân Đông Sơn thời Hùng Vương  vừa trên đất cạn vừa dưới đồng sâu.. Dưới đồng sâu  cư dân Đông Sơn sống bằng nghề   trồng  lúa nước với con trâu .   Họ chăn nuôi trâu, để lấy sức kéo và phân bón nhằm phục vụ cho nông nghiệp vậy.

 
   

2-     Nhà cửa = nhà sàn mái cong ( dựa vào mặt trống đồng  chạm khắc)

3-      Văn ngh : Múa Khèn  ( dựa vào mặt trống đồng  chạm khắc)

Cây khèn là nhạc cụ, gồm nhiều ống trúc nhỏ ghép lại, có thể thổi hơi ra, có thể hít hơi vào; khèn là đạo cụ múa... Tiếng khèn có thể một lúc phát ra đa âm, nhiều bè, vang xa trầm hùng như tiếng của gió ngàn, của suối reo, chim kêu, vượn hót, tiết tấu theo nhịp 4/4 hoặc 2/4

Vang vọng núi rừng tiếng khèn gọi bạn

 Điệu múa khèn nghiêng ngả tán ô đen

 

Múa Khèn  c̣n được múa  trong nững buổi văn nghệ của một số  sắc tộc , chẳng hạn  giới trẻ  sắc tộc Hmong.

 Chính trống đồng  là một  nhạc cụ  được xử dụng  trong buổi văn nghệ.

4     Mộ thuyền :  cỗ  ḥm ( ván  ) h́nh thuyền

Mộ thuyền Châu Can cùng di vật-được t́m thấy ở Hà Tây năm 1977. Mộ thuyền là một cách chôn cất khá độc đáo của người Việt cổ thuộc văn hóa Đông Sơn.  ngôi mộ có quan tài h́nh thuyền độc mộc chở người Đông Sơn vào giấc  ngủ vĩnh hằng từ 2.500 năm trước.

5-    Dồ gốm

 
 

 

2/- Văn hóa Sa Huỳnh

 Văn hóa Sa Huỳnh xuất hiện từ năm 1909   lúc nhà khảo c Vinet khai quật  được Mộ chum  ở Sa Huỳnh quận Đức Phổ tỉnh Quảng Ngăi.

Văn hóa Sa Huỳnh đồng thời với Văn hóa Đông Sơn

Lănh thổ Văn hóa Sa Huỳnh : Từ Đèo Ngang tới  B́nh Thuận Lâm Đồng

Ngôn ngữ Văn hóa Sa Huỳnh :   Malayo Polynesian - Mon Kmer

Cư dân

Các cư dân nguồn gốc ngôn ngữ Malayo-Polynesian di cư  từ Nam Đảo đến đất liền ở thế kỷ thứ 1 và thứ 2 trước Công nguyên. Các  nhà nhân chủng học biết được như vậy nhờ vào  quan sát đồ đất nung, đồ thủ công và đồ tùy táng chuyển đổi liên tục từ những địa điểm khảo cổ như hang động Niah ở  Sarawak, Đông  Malaysia.. 

C̣n  các cư dân nguồn gốc ngôn ngữ Mon Kmer là những tộc  Nam Á   luôn luôn sống ở vùng Tây Nguyên.  Họ thuộc những tộc Sơ Đăng, Bâhnar, Êđê,  Jrai, Rakglay,  Cơ Tu, Brâu,  Srê, Rơng ao,  Churu, Cờ Ho, Mạ.Mnông, Jẻ Triêng, Stieng)

 
 

 

Văn hóa Sa Huỳnh có những đặc điểm như sau

a-  Kỹ nghệ      

    -    Luyện Kim : đồng,  sắt

   -  Ngoài ra : mă năo, thuỷ tinh

  -    đồ gốm tinh luyện: chum

 

b-  Đất ruộng

Đất ruộng khô  ẩm:  thích hợp với loại lúa  mệnh danh là lúa chiêm.    Để trồng  được  loại lúa này,  cư dân biết  đào hệ thống  giếng  rồi dẫn thủy nhập điền. Những  giếng này c̣n có giá trị cho đến ngày nay.  Ngoài ra cư dân  c̣n biết ngh  tằm tơ trồng dâu nuôi tằm dệt tơ lụa may quần áo.               

c- Giao thương :  

Các cư dân  gốc Nam Đảo thường giao thương với các nước  tại các đảo, với chính Ấn Độ qua đường biển. Biển cả là nơi hoạt động của họ.  Chính v́ vậy, sau này hậu duệ của họ một thời  sống bằng  nghề hải tặc trên biển cả.

 
   

d-  Xă hội: mẫu hệ  

Người Chàm hậu duệ cư dân gốc Malayo-Polynesian   và hậu duệ  cư  dân gốc Nam Á  Tây Nguyên theo  mẫu hệ.:   đàn bà thừa kế  nhưng đàn bà trong  gia đ́nh, C̣n đàn ông luôn luôn là Già làng, trưởng bản

e-    Ảnh hưởng của Ấn giáo  Phật giáo  vào Chữ viết,  Kiến trúc Đền Tháp và kỹ thuật điêu khắc Chàm

Vào thế kỷ 4, từ nước láng giềng Phù Nam ,  và  từ  các nước nam Đảo như  Malacca, Borneo, Java,  người Chàm  nhanh chóng hấp thu nền văn minh Ấn Độ  Java .Đây chính là giai đoạn họ bắt đầu có các văn bản mô tả trên đá bằng chữ Phạn và bằng chữ Chăm, và họ có bộ chữ cái hoàn chỉnh để ghi  lại tiếng nói của họ.

T văn minh Ấn Độ  Java  nghệ thuật đền tháp Mỹ Sơn điêu khắc đá  rưc  r. Các hiện vật có h́nh linga  c̣n tồn tại cho thấy ảnh hưởng của Ấn giáo  Phật giáo .   Tại thánh địa Mỹ Sơn, ngôi đền thờ thần   Shiva,  Và  tại Nha Trang Tháp  Bà   Po Nagar  thờ nữ thần đất Yan Po Nagar  trong Ấn Độ giáo được vua Bhadravarman  xây dựng. Những đền tháp này nói lên  nghệ thuật  kiến trúc thật là điêu luyện.

h-   Chăm Vương quốc của người Chăm

Chăm Pa chia thành bốn tiểu quốc : Amaravati, Vijaya, Kauthara và Panduranga. Mỗi Tiểu quốc đều có thể chế chính trị tự trị và có quyền ly khai khỏi liên bang để xây dựng quốc gia riêng độc lập. Vương quốc Chăm Pa đă trải qua nhiều triều đại với nhiều lần dời đô từ Bắc vào Nam và ngược lại. Hai tiểu quốc Amaravati, Vijaya  thuộc thị tộc Dừa , c̣n Hai tiểu quốc  Kauthara và Panduranga huộc thị tộc Cau.   Dừa ở phía Bắc từ B́nh Định trở ra, c̣n Cau từ B́nh Định trở vào gồm Tuy Ḥa Nha Trang Phan Rang và B́nh Thuận.

Vào năm 757, trung tâm chính trị của Chăm Pa đă chuyển từ Trà Kiệu xuống khu vực Panduranga  và Kauthara, với kinh đô Virapura  gần Phan Rang ngày nay

Vương quốc Chăm Pa là một dạng nhà nước liên bang  gồm  tộc Chăm  theo Đạo Bàlamon, Phật giáo và Hồi giáo chiếm đa số và một số tộc vùng núi Tây Nguyên như Ê đê, Giarai … duy tŕ tín ngưỡng dân gian Nam Đảo bản địa, nay hầu hết chuyển sang Ki Tô giáo từ giữa thế kỷ 19

 
   

3/-  Văn hóa Óc Eo:

 Thành phố Óc Eo cổ được khai quật  do  Milleret   năm 1944 ở g̣ Óc Eo, huyện Thoại Sơn tỉnh An Giang

Văn hóa Óc Eo niên đại của di chỉ Óc Eo là cuối thế kỷ 2 đến thế kỷ 5.

Cư dân : người Polynesian thuộc  nước Phù Nam,  rồi  thuộc Chân Lạp ( Khmer)

 Ngôn ngữ :    Mă Lai-Đa Đảo  & Môn-Khmer

Chữ viết :   chữ Phạn (Sanskrit) có nguồn gốc từ bộ chữ cái của người Pallava, ở Ấn Độ.

Lănh thVăn hóa Óc Eo : Thuỷ Chân Lạp  ( lănh thổ miền Nam hiện nay)

Văn hóa Óc Eo  có những đặc điểm sau đây:

Kỹ nghệ

Luyện kim: đồng , sắt thiếc  tinh xảo,

Nấu thủy tinh,   chế tác ngọc, mă năo, ,

Đồ gốm : gốm màu ,   Bếp ḷ,…  Gạch ngói, phù diêu

Đắp tượng   tượng kim loại, tượng đá, tượng gỗ  theo mẫu Ấn Độ

       chạm khắc tinh vi  các tượng  thần Shiva  Ấn  và Phật .

          

Kiến trúc: Xây dựng nhà cửa đền đài   theo lối  Kiến trúc  Ấn Độ

     Nhà cửa:  làm bằng gỗ,  xây bằng gach.  Có loại  nhà sàn. Nhà sàn được cất trên cọc gỗ, mái lợp bằng lá thốt nốt hoặc ngói. Louis Malleret khi đă tiến hành khai quật ở Óc Eo đă nhận xét rằng: phần lớn kiến trúc ở đây được lợp mái bằng ngói, một kiểu khác hẳn ở Angkor.

 
   

Nghề  nghiệp đa dạng :

      dệt vải, thêu thùalàm muối, làm giấy bằng bông g̣n...đóng tàu lớn nghề cá, Giỏi săn bắt & chăn nuôi (biết thuần dưỡng cả voi).

 

Nghề nông:

     trồng lúa nước (lúa sạ), Cư dân  của Văn hóa Óc Eo  có kinh nghiệm & tài nghệ trong việc làm thủy lợi để cải tạo đất đai.

 

Mộ chôn : xây h́nh vuông, h́nh chữ nhật

      Tang lễ  có  4 cách: thủy táng, hỏa táng, điểu táng và chôn cất. Theo Tấn thư   th́ tang lễ và hôn lễ của Phù Nam gần giống với  Chămpa văn hóa Sa Huỳnh

 

Giao thương:

  -các đảo, Ấn Độ , Trung Hoa 

- đế quốc Ấn Độ giáo Majapahit (thủ đô ở trung tây Java t  thế kỷ 4 - 15),   

 -đế quốc Malacca :  Phật  giáo (thế kỳ 2) rồi Hồi giáo trên bán đảo Mă Lai (t  thế kỷ 10) 

  

Tín ngưỡng

     chủ yếu là đạo Bà-la-môn  đạo Phật.  

Theo các nhà nghiên cứu, Óc Eo đă từng là một cảng quan trọng của nhà nước Phù Nam. Vào khoảng giữa thế kỷ 6 , nước Phù Nam bước vào thời kỳ tàn tạ. Công tác thuỷ nông  không được coi trọng nữa,  lũ lụt do sông Mê Kong gây ra tai họa cho vùng, làng mạc trở nên tiêu điều, giặc  giă nổi lên. Cuối cùng  nước Phù nam bị Chân Lạp chinh phục .Vào thế kỷ 8, Chân Lạp nhập khu vực đồng bằng sông Cửu Long thuộc phần đất Phù Nam (mà Óc Eo nằm ở trong) vào miền nam Campuchia ngày nay để trở thành Thủy Chân Lạp , trong khi phần khác của nước Chân Lạp được gọi là  Lục Chân Lạp trải dài tới tỉnh Champasak  của Lào    

 
   

II- Ba nền văn hóa  Đông Sơn, Sa Huỳnh, Óc Eo  cùng chung mái nhà Văn Hóa Việt

Mái nhà  Văn hóa Việt  khởi đầu có một thành viên cư  trú. Thành viên đó  là  văn hóa Đông Sơn.  Thế rồi  Văn hóa Sa Huỳnh bắt đầu gia nhập từ năm 1306. Sau cùng Văn Hóa Óc Eo bắt đầu  gia nhập  từ năm1620 Chúa Săi Nguyễn Phước Nguyên.

1--Văn hóa  Sa Huỳnh gia nhập Văn Hóa Việt 

Năm 1069, vua    Chế Củ   (Rudravarman ) của Chăm Pa đă nhượng ba châu Địa Lư  (Lệ Ninh, Quảng B́nh ngày nay), Ma Linh (Bến Hải, Quảng Trị ngày nay) và Bố Chính (các huyện Quảng Trạch, Bố Trach, Tuyên Ḥa tỉnh Quảng B́nh ngày nay) cho vua Lư Thánh Tông của Đại Việt

Năm  1306 Vua Chề Mân  dâng   Châu Ô Châu Rí thuộc  Quảng Trị và Thừa Thiên cho  nước Đại Việt  đời vua  Trần Nhân Tôn và  Trần Anh Tôn  để cưới Huyền Trân Công Chúa về làm Hoàng Hậu

 Triều Hồ Quư Ly (13361407) lấy đất đến vùng Amaravati (vùng Quảng Nam), thủ phủ là Phật Thệ ( Quảng Nam),

Năm 1471 Vua Lê Thánh Tôn chiếm Thành Đồ Bàn, của vương Quốc Chàm, mở rộng biên cương Đại Việt tới  tỉnh Phú Yên. Giới lănh đạo Chiêm Thành có tŕnh độ, một số bị bắt, một số bỏ trốn ra nước ngoài, qua Chân Lạp, Mă Lai tỵ nạn.

Sau đó Chúa Nguyễn Hoàng và các Chúa Nguyễn kế tiêp mở rộng  ranh giới của ḿnh tới Phan Rang, và sau cùng năm 1830, vua Minh Mạng xóa tên  nước Chiêm Thành  

Mục tiêu của Chính quyền Đại Việt:

Thi hành chính sách dinh điền, đưa dân tới những vùng đất Chiêm Thành chưa khai thác, mở mang cày cấy vùng đất mới, sống ḥa lẫn với người Chiêm, canh chừng và bảo vệ an ninh biên giới. 

Chính sách dinh điền thâu nhận những người nghèo đói làm hương binh, để vừa làm ruộng vừa đánh giặc. Chính sách nầy c̣n được gọi là “ngụ binh ư nông”, lấy lính từ trong nông dân.  Chính sách dinh điền là dùng lính bảo vệ và phát triển đất đai, rồi lấy đất đai làm ra thực phẩm để nuôi lính

 

Tại sao  Chiêm Thành yếu đi và dần dần  sát nhập vào Đại Việt?

V́ văn hóa chiêm Thành có những nhược điểm ( theo s khảo cứu của  học giả TRẦN GIA PHỤNG):

-Về phía chính quyền

a/- chính quyền không chặt chẽ   chia rẽ

 1/ - v́ sắc tộc:

 -Sắc tộc Chàm có nhiều thị tộc.  Hai thị tộc mạnh nhất là thị tộc Cây Cau (Kramukavamca) ở phía nam, vùng Panduranga (Phan Rang), và thị tộc Cây Dừa (Narikelavamca) ở phía bắc, vùng Indrapura (Quảng Nam). Các thị tộc độc lập với nhau .

- Các  Sắc tộc Churu, Jarai, Raglai… luôn luôn tự trị.  (Cho đến nay, chưa có chính quyền nào có thể đưa các sắc tộc trên cao nguyên nầy vào nề nếp hành chánh trung ương). 

 

2/- xă hội giai cấp 

-Giai cấp thượng tầng tăng lữ và quư tộc tuy ít nhưng  lại đè nén  giai cấp dưới

-giai cấp thường dân và tiện dân gồm đại đa số dân chúng bất măn

b/-   chính quyền không phổ biến văn hóa giáo dục và thi cử để tuyển lựa nhân tài, và  không chú trọng  lưu truyền văn chương, lịch sử. 

c/-chính quyền hiếu chiến  thường đem quân đi chinh phạt khắp nơi

  Chiến tranh làm cho  đất nước lụn bại, nghèo khổ.  Khi động binh, nam giới ṭng quân ra trận,  thiếu người làm nông, đất đai bị bỏ hoang, không người cày cấy, chăm sóc ruộng vườn. 

 

Về phía Xă hội

a/-   Người Chiêm chỉ thích sống theo bản làng thị tộc riêng của ḿnh theo từng bộ tộc cách biệt.  Họ không muốn con em ḿnh kết hôn với những người khác thị tộc, Họ không muốn bị cuốn hút theo văn hóa bên ngoài,.  Do đó, người Việt tiến đến đâu, người Chiêm co cụm rút lui đến đó. 

b/-  Quan niệm chung của người Chiêm:

 Một khi đất đai bị người nước ngoài (Việt) chiếm đóng,thần của người Chiêm không c̣n linh nghiệm, mà thần của những người mới đến (Việt) mạnh hơn, phù hộ cho những người mới đến chứ không phù hộ cho người Chiêm, nên người Chiêm không muốn đ̣i lại đất đai, v́ đ̣i lại ở cũng không tốt.(10)  Họ bỏ đi vùng đất khác.  Thói quen nầy của người Chiêm khuyến khích người Việt tiến măi v́ không gặp cuộc kháng cự nào đáng kể của người Chiêm

 

2- Văn hóa  Óc Eo gia nhập văn hóa  Việt (1620)

Năm 1620, Chúa Săi Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái của ḿnh là Công chúa Ngọc Vạn cho Quốc vương Chân Lạp Chey Chettha II làm Hoàng hậu của Vương triều Chân LạpNgọc Vạn, người công nữ đức hạnh & xinh đẹp này, đă hai lần dẫn đường cho người Việt mở đất về phương nam. Lần thứ nhất sau cuộc hôn nhân năm 1620, đưa người Việt đến Mô Xoài (Bà Rịa), Đồng Nai (Biên Hoà) khai khẩn đất hoang, lập ra những làng người Việt đầu tiên trên vùng đất Nam Bộ. Lần thứ nh́ trong cuộc tranh chấp nội bộ vương quyền Chân Lạp năm 1658, thời trị v́ của Batom Reacha Pontana Reja ( tức hoàng thân So, con Ngọc Vạn - )

  Từ  thế kỷ 17-thế kỷ 18, Thủy Chân Lạp phần lănh thổ xưa kia được coi là trung tâm của Phù Nam, dần dà tách khỏi Chân Lạp để trở thành một bộ phận của lănh thổ Việt Nam, tức Nam Bộ  ngày nay

 
 

 

Lư do vương triều Chân Lạp dễ dàng nhượng Thủy Chân Lạp:

     a/   V́ nguyên thủy Thủy Chân Lạp không phải là đất của họ, mà là đất của nước Phù Nam (Funan) thủa xa xưa   

 b/  Lại v́ Thủy Chân Lạp là vùng hạ lưu sông Cửu Long  rất ít dân sinh sống, không có người đủ tài đức cai quản, nguồn lợi thu về không là bao; nên vua chúa Chân Lạp dễ dàng dùng đất nầy làm quà tạ lễ các chúa Nguyễn đă giúp họ lên ngôi, hoặc giúp họ chống lại Xiêm La.

c/ Lại v́ tập quán sinh hoạt, canh tác của mỗi dân tộc ít nhiều có điểm khác nhau, như dân bản địa thích chọn ở nơi đất cao (giồng), trồng khoai sắn, làm ruộng chỉ cầu đủ ăn và ít muốn khai thác ǵ thêm; người Hoa th́ thích buôn bán hơn.

d/--Quan niệm chung của người Chân Lạp giống như người Chiêm  rằng   một khi đất  bị người nước ngoài chiếm th́ thần của ḿnh không c̣n linh nghiệm, mà thần của những người mới đến mạnh hơn, không phù hộ cho ḿnh, nên Họ bỏ đi vùng đất khác.    Xin dẫn chứng quần thể cung điện đền đài Angkor Wat, Angkor Thom của Chân Lạp bị người Chiêm Thành tàn phá vào năm 1177,   rồi bị người Thái tấn công năm 1369,.  Triều đ́nh Chân Lạp liền dời đô đến Phnom Penh (Nam Vang) năm 1434.  Từ đó, Angkor ch́m hẳn vào bóng tối, cho đến hạ bán thế kỷ 19, người Pháp mới phát hiện ra.  Chính v́ vậy người Việt tiến măi v́ không gặp cuộc kháng cự nào đáng kể của người Chân Lạp 

 
 

 

III- Kỷ cương Xă Hội của Văn hóa Việt

 Kỷ  cương Xă hội Việt   chịu ảnh hưởng các tôn giáo về mặt luân lư .

Đạo thờ Trời và tôn  kính  tổ tiên đề cao :

  Trời thưởng  kẻ lành, phạt kẻ dữ

   Hiếu thảo với cha mẹ và ông bà

    Anh em chị em phải thương nhau

 

Đạo  Phật  đề cao

  -Bát Chánh Đạo  để có  Chánh Tâm, Từ Bi hỉ xả

   -Bát Chánh Đạo  gồm có:  Chánh Kiến   Chánh tư duy, Chánh nghiệp, Chánh  tin tn, Chánh mạng, Chánh ng, Chánh niệm, và Chánh định.

 
 

 

Phật Giáo Ḥa Hảo đề cao:

 Bát Chánh Đạo  làm con đường tu  thân cho đạo Tổ Tiển để rồi

    Đức Ngoc  Hoàng mở cửa Thiên Môn

     Đặng ban thưởng Phật Tiên với Thánh

    (Quyển 2 : nhan đề  Kệ dân người khùng)

 

Đạo Nho (Khổng) đề cao:

  -   Dân Vi quư, xă tắc thứ chi, quân vi khinh

   -  Chính danh;  vua phải ra vua, thầy phải ra thầy, cha phải ra cha...

   -  Thiên mệnh: số mệnh( sống theo  thiên lư) sứ mệnh  ( phục vụ 

           xă  hội, đem cái tốt cho người dân

 

Đạo Lăo  đề cao:

     - Sống vô vi : giữ tâm hồn thanh sạch, không làm mất ḷng ai

     - Tu tính, tu mệnh luyện cho ḿnh hướng thượng, và thân xác khỏe mạnh

 

 

  Kết luận

Hy vọng  rằng  sự mổ xẻ Văn Hóa Việt từ  bên ngoài  văn hóa , cho đến  từ bên trong văn hóa , giúp cho các độc giả  nh́n thấy rơ ràng  cái văn hóa Việt.

Văn hóa Việt  có nhiều điểm chung  với văn hóa nước ngoài, nhất là các nước láng diềng. Nhưng văn hóa Việt có những điểm riêng biệt.  Về những điểm riêng biệt , th́ phải  công nhận rằng văn hóa Việt là một văn hóa đa đạng v́ nó có 54 sắc dân, mỗi sắc dân có  dân tộc tính riêng .  V́ có nhiều dân tộc tính khác nhau,  th́ thật là khó mà có được sự đoàn kết một ḷng trong công cuộc kiến thiết đất nước. Người lănh đạo quốc gia  phải sáng suốt  để vượt qua  cái trở ngại này.    Muốn cho đất nước  mạnh để chống kẻ thù, muốn cho đất nước  thịnh vượng phú cường, th́ cần phải có sự đoàn kết một ḷng,. Muốn được vậy,  cần phải có một nền giáo dục  nhân bản, dựa trên nền tảng luân lư tôn giáo chân chính, đồng thời một chính phủ nhiệt tâm mong lợi ích cho toàn dân.

 
   

    Người viết : Phạm xuân Khuyến

Năm   Giáp Ngọ