Tại sao đất nước ta măi nghèo...

 

Tại sao đất nước ta măi nghèo? Tại sao Việt nam măi măi thua kém các đất nước khác kể cả các nước có cùng điều kiện khí hậu, địa lư trong khu vực như Singapore, Thailand, Malaysia, Indonesia, Philippines...? Thậm chí gần đây nhiều mặt cả Cambodia và Laos đều đă vượt Việt Nam.

Tôi biết rất nhiều bạn sẽ đổ lỗi cho thể chế, đổ lỗi cho chính quyền, các bạn cho rằng thể chế, chính quyền đă kéo đất nước tụt hậu, nhưng các bạn cứ b́nh tĩnh, bởi trong suốt 4000 năm lịch sử, dù ở bất cứ thể chế nào, chính quyền nào, chưa bao giờ Việt Nam phát triển hơn các dân tộc khác. Đấy là một thực tế. Nếu bất cứ thể chế nào, bất chứ chính quyền nào, trong giai đoạn lịch sử nào Việt Nam cũng thua kém các dân tộc khác th́ nguyên nhân hiển nhiên phải từ những điểm yếu cố hữu của dân tộc Việt.

TRONG LỊCH SỬ CHƯA BAO GIỜ VIỆT NAM HƠN CÁC DÂN TỘC KHÁC

Chỉ cần nh́n các di tích, công tŕnh lịch sử từ thời cổ cũng đủ thấy chưa có công tŕnh kiếm trúc nào do con người xây dựng nên của Việt Nam có thể sánh ngang các công tŕnh cổ của các nước khác.
Không so sánh với các nước Âu, Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, bởi nó quá cách biệt, chỉ cần so sánh với Thailand, Myanmar, Indonesia, Cambodia... Cũng dễ dàng nhận ra điều đó

Các công tŕnh kiến trúc cổ lớn của Việt Nam chỉ có thành nhà Hồ, kinh thành Thăng Long (chỉ c̣n lại dấu vết), kinh thành Huế. Các công tŕnh ấy không thể so sánh được với chùa Vàng (Golden Buddha), chùa Phật Ngọc, chùa Doi Suthep, cung điện Hoàng Gia của Thái Lan; Càng không thể sánh được với Chùa Vàng (Yangon), chùa Vàng Shwezigon, đền Shwesandaw, đền Mahamuni (Mandalay) của Myanmar; Càng không thể sánh được với đền thờ Prambanan, quần thể đền thờ phật giáo Borobudar (lớn nhất thế giới) của Indonesia; Càng không thể sánh được với quần thể Angkor Thom, Angkor Wat của Cambodia (Angkor Wat có diện tích 40.000 ha ~ 401 km2). Đến cả dân tộc Chăm (nay đă thành một phần của nước Việt). Công bằng mà nói về lịch sử chúng ta hơn dân tộc Laos.

(các bạn xem ảnh các công tŕnh kiến trúc của Thailand, Myanmar, Indonesia, Cambodia trên google sẽ thấy rơ điều đó).
Trong 4000 năm lịch sử, chúng ta luôn luôn kém, chưa bao giờ hơn, vậy th́ làm ǵ có chuyện chúng ta tụt hậu, làm ǵ có ai đó kéo chúng ta tụt hậu.

 
   

ĐÂU LÀ NGUYÊN NHÂN

Nếu bất cứ thể chế nào, bất chứ chính quyền nào, trong giai đoạn lịch sử nào Việt Nam cũng thua kém các dân tộc khác th́ nguyên nhân hiển nhiên phải từ những điểm yếu cố hữu của dân tộc Việt.
Theo tôi dân tộc Việt có 4 điểm yếu cố hữu sau đă cản trở sự phát triển:

(1) Lười biếng - Dễ hài ḷng
(2) Tư duy nhỏ - Quanh quẩn xó nhà
(3) Áp đặt suy nghĩ của ḿnh cho người khác
(4) Nền tảng triết học yếu lại không chuẩn
Tôi sẽ lần lượt phân tích chi tiết 4 điểm yếu cố hữu trên.

(1) LƯỜI BIẾNG - DỄ HÀI L̉NG

Cuối tháng 6, tôi vừa qua Singapore, từ sân bay Changi về trung tâm tôi quan sát thấy một sự thực là tất cả các công việc giản đơn như kéo xe đẩy, dọn vệ sinh, lau chùi nhà WC đều do những ông cụ, bà cụ cỡ 65-75 tuổi làm. Đi taxi th́ hầu hết lái xe đều do các cụ ông tóc bạc tuổi từ 65-75 lái. Trong thành phố tất cả những người nhặt rác, dọn vệ sinh đều do các cụ bà tuổi từ 65-75 làm. Hiển nhiên là tất cả những việc nặng nhọc, công nghệ cao đều do những người trẻ tuổi và trung niên làm (kể cả dưới 65 tuổi).

Trong khi đó người Việt Nam ta 60 tuổi đă lên lăo, nữ 55 tuổi, nam 60 tuổi đă về hưu và về hưu là không làm việc. Người Việt rất hứng thú "vui thú tuổi già", "vui thú điền viên", "sum vầy bên con cháu"...
Không biết từ bao giờ quân đội có qui định độ tuổi về hưu cho quân nhân chuyên nghiệp vô cùng bất hợp lư như sau

- Cấp Uư: 50 tuổi (nếu không lên được Thiếu tá)
- Thiếu tá: 52 tuổi (nếu không lên được Trung tá)
- Trung tá: 54 tuổi (nếu không lên được Thượng tá)
- Thượng tá: 56 tuổi (nếu không lđen được Đại tá)

Với qui định này, chúng ta có hàng vạn cán bộ về hưu tuổi mới chỉ 50, 52, 54, 56 tuổi không làm việc, không lao động.
Ở Nông thôn (chiếm 70% dân số) th́ chỉ lao động vất vả mấy tháng mùa vụ c̣n phần lớn thời gian trong năm là không có việc làm và rất nhiều người coi đấy như một sự hiển nhiên.

Ở Thành phố số thanh niên thất nghiệp, không việc làm, ngày ngày la cà quán sá, cà phê, chơi bài cả ngày. Họ than thở, oán trách đổ lỗi cho chính quyền mà ít người có ư chí lập nghiệp Star-up. Rất ít người nghĩ ḿnh tự lập nghiệp, tự tạo ra công ăn việc làm cho chính ḿnh và cho xă hội. Những người có việc làm ở công sở th́ hoặc sáng đến muộn giờ, hoặc đến đúng giờ chỉ để điểm danh rồi đi ăn sáng, giữa giờ làm việc th́ lại chốn ra quán cafe giải khát ngồi tán gẫu. Không ở đâu lại có nhiều quán cafe, giải khát, quán nước vỉa hè nhiều như Việt Nam mà quán nào cũng đông khách cả trong giờ làm việc.

Lười lao động, thích ăn chơi thể hiện rất rơ trong câu ca dao:
Tháng giêng là tháng ăn chơi
Tháng hai cờ bạc, tháng ba rượu chè
Như vậy trong quá khứ ông cha ta một năm ít nhất đă chơi, không lao động 3 tháng. Ngày nay có khá hơn chút ít, các công nhân xây dựng, cầu đường, giao thông... vẫn giữ nếp là nghỉ hết tháng giêng. Có lẽ nghỉ cả tháng tết hiện chỉ có ở Việt Nam mà thôi.

Trong xu thế tuổi thọ con người ngày càng tăng, hầu hết các nước đều nâng tuổi về hưu (Mỹ 67 tuổi, Nhật 68 tuổi, Pháp 62 tuổi...) th́ Việt Nam vẫn giữ nữ 55, nam 60 từ cách đây 62 năm khi mà tuổi thọ thấp hơn hiện nay 10 tuổi. Khi có dự thảo nâng dần tuổi về hưu th́ nhất loạt phản đối, họ gán ngay cho lănh đạo tham quyền cố vị muốn ngồi ghế lâu nên sửa luật, họ bất chấp luật hưu trí qui định khi tuổi thọ của Việt Nam chỉ có 62.5, trong khi hiện tại tuổi thọ đă tăng lên đến 72.5, bất chấp xu thế tăng tuổi nghỉ hưu của cả thế giới.

Một đất nước đă có nhiều lợi thế như Singapore (HUB của khu vực) mà lại chăm chỉ lao động, ai ai cũng làm việc, kể cả những người già 65-75 tuổi th́ họ giầu có là điều hiển nhiên.
Một đất nước đă không có nhiều lợi thế mà lại lười lao động, thanh niên không chịu lập nghiệp, nằm chờ người khác tạo công ăn việc làm cho ḿnh, giờ làm việc th́ bớt xén giờ giấc, người c̣n sức lao động, chưa già đă muốn nghỉ "an nhàn tuổi già", "xum vầy bên con cháu" th́ măi măi nghèo cũng là chuyện không thể khác.

Không chỉ lười lao động, người Việt c̣n lười học, lười suy nghĩ, lười vận động.
Trên Facebook hoặc trên các diễn đàn không ít bạn "bàn phím" nhanh hơn "mắt", chưa kịp đọc hết nội dung, chưa kịp hiểu hết ư người khác đă vội vă comment, vội vă b́nh luận, thậm chí chửi bới. Cuộc sống là của ḿnh, hạnh phúc là của ḿnh mà rất nhiều người luôn trông chờ vào "nhà nước" vào "chính quyền".

Trừ các học sinh trường chuyên, đa số những trường khác, học sinh rất chi là lười, đặc biệt là rất lười đọc sách, rất lười tự học. Cứ nh́n số lượng các hiệu sách, số lượng độc giả đến hiệu sách th́ sẽ hiểu người Việt lười đọc sách thế nào.

Người Việt rất lười vận động, họ rất lười đi bộ, chỉ cần khoảng cách 100 mét họ cũng đi xe máy thay v́ đi bộ (chúng ta đều biết ở nước ngoài đi bộ 500 m - 1 km là chuyện b́nh thường). Không chịu vận động làm cho người thiếu sức dẻo dai, ảnh hưởng đến năng xuất lao động. Đi xe máy khi không cần thiết sẽ làm tăng ùn tắc giao thông, tăng ô nhiễm môi trường, tăng tai nạm giao thông, lăng phí tiền xăng.

 (2) TƯ DUY NHỎ - QUANH QUẨN XÓ NHÀ

Tư duy nhỏ bé của người Việt thể hiện rất rơ trong giao thông: thời trước khi Pháp xâm lược Việt Nam (1858) giao thông của nước Việt chỉ là những con đường nhỏ cho người đi bộ, ngựa, trâu, ḅ và xe 2 bánh người kéo (xe kéo chở người, xe chở hàng hoá). Không có con đường nào rộng đủ cho xe 4 bánh ngựa kéo hay ô tô có thể đi lại được (Các đường quốc lộ, tỉnh lộ, liên huyện, đường xe điện, đường tàu hoả đều do người Pháp xây dựng sau khi vào Việt Nam).

Giao thông toàn đường nhỏ cho người và xe 2 bánh rất lợi hại cho pḥng thủ đất nước, chống xâm lược. Chỉ cần rút lui, vườn không nhà trống rồi tuyệt đường tiếp vận là quân xâm lược tự thua và rút về nước. Đọc lịch sử Việt Nam th́ thấy hầu hết các triều đại, khi ở thế yếu các tướng lĩnh, vua, chúa Việt Nam đều dùng chiến thuật vườn không nhà chống này để chống xâm lược phương Bắc và đều giành chiến thắng.

Thế nhưng để phát triển kinh tế, giao thương th́ đường giao thông nhỏ bé là lực cản, là hạn chế lớn nhất. Con người và hàng hoá không được lưu thông, kinh tế không thể phát triển. Với đường giao thông nhỏ như vậy th́ Việt nam không có công tŕnh nào to cũng dễ hiểu.

 
 

 

V́ tư duy nhỏ bé nên biểu tượng của Hà Nội là chùa một cột, một ngôi chùa có lẽ bé nhất thế giới. Trong công viên "Thế giới thu nhỏ" ở Thâm Quyến, mỗi quốc gia người ta xây dựng một công tŕnh biểu tượng (Pháp th́ có tháp Epphen, Mỹ th́ có tượng nữ thần tự do, Italia th́ có đấu trường La Mă...). Mỗi công tŕnh người ta thu nhỏ 1/25 so với kích thước thật, riêng chùa một cột v́ quá bé nên người ta thu nhỏ tỷ lệ 1/8. Chúng tôi đi thăm th́ tất cả các biểu tượng của các nước khác đều có thể đi vào bên trong, đi lại được, chỉ có chùa một cột là đứng bên cạnh và nóc chùa chỉ đến ngang vai. Vừa đứng bên cạnh biểu tượng chùa một cột vừa nh́n biểu tượng của các quốc gia khác mà sống mũi tôi cứ cay cay.

Tư duy nhỏ bé c̣n thể hiện trong việc ruộng đất được chia nhỏ theo từng thửa, thường là 1 sào 360 m2, với thuở ruộng bé như vậy th́ chỉ có thể làm thủ công với hiệu xuất thấp, không thể tổ chức sản xuất lớn, không thể cơ giới hoá. Khoán 100 năm 1981 và khoán 10 năm 1988 đă thiết lập nên kinh tế hộ gia đ́nh, người nông dân làm chủ mảnh đất của ḿnh, đă tạo ra cú huưch, đột phát đưa nước ta từ chỗ thiếu lương thực thành nước xuất khẩu gạo thứ 2 thế giới. Nhưng như cái ḷ so bị nén được giải phóng đă bung hết cỡ, những năm gần đây nông nghiệp không c̣n lực phát triển nữa, bởi bản chất kinh tế hộ gia đ́nh vẫn là lối tư duy nhỏ bé. Phải làm lớn, tích tụ ruộng đất lớn để sản xuất với qui mô lớn, đưa máy móc, tự động hoá vào, đặc biệt phải đẩy mạnh nông nghiệp công nghệ cao theo công nghệ của Nhật Bản, Israel. Chỉ có như vậy Nông nghiệp và Nông thôn Việt Nam mới có bước phát triển mạnh mẽ, mới có năng xuất và hiệu suất cao.

 
 
Tư duy nhỏ bé c̣n thể hiện trong việc tổ chức buôn bán thông qua chợ cóc, buôn bán vỉa hè. V́ chợ cóc buôn bán vỉa hè nên xe máy là phương tiện giao thông thích hợp nhất v́ có thể dừng bất cứ lúc nào, bất cứ chỗ nào. Khi xe máy ít th́ đúng là rất thuận tiện, nhưng bây giờ khi Hà Nội có 5 triệu xe và Hồ Chí Minh có 8 triệu xe, nạn kẹt xe thường xuyên xẩy ra th́ hiệu quả của cả xă hội rất thấp, mỗi ngày người dân tốn thêm trung b́nh 45 phút - 75 phút cho việc đi đến công sở và trở về nhà. Bây giờ chúng ta mới bắt đầu nghĩ đến đường sắt đô thị, metro th́ ít nhất phải 10-15 năm nữa Hà Nội, Hồ Chí Minh mới có hệ thống đường sắt đô thị, metro.

Tư duy nhỏ bé c̣n thể hiện trong các doanh nghiệp. Ai cũng biết doanh nghiệp nhỏ th́ năng động hơn, nhưng doanh nghiệp lớn mới có tiềm lực, có thể đảm nhận những công tŕnh lớn, mới có thể cạnh tranh quốc tế. Rất nhiều doanh nghiệp Việt nam sau một vài năm thành lập, phát triển thành công một tư, lớn một tư là tách làm hai, làm ba, kể cả những công ty do 2-3 người bạn thân cùng góp vốn.

Nếu chúng ta không có những công ty lớn th́ không thể cạnh tranh quốc tế, không thể làm được những việc lớn. Nếu chúng ta không có tư duy lớn th́ chúng ta chỉ làm những việc bé. Đất nước mở cửa, hội nhập kinh tế thế giới đă 22 năm mà hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam chỉ làm thầu phụ ngay trên chính sân nhà của ḿnh, nếu có làm tổng thầu th́ cũng chỉ là những dự án vốn của nhà nước, của chính phủ, cứ dự án đấu thầu quốc tế ṣng phẳng là hầu hết doanh nghiệp Việt Nam lại trở lại thân phận làm thuê, làm thầu phụ ngay.

Hội nhập kinh tế thế giới là tất yếu, nhưng sau 22 năm hội nhập, đáng buồn là chúng ta đă mất đi nhiều thương hiệu Việt nổi tiếng một thời vào tay các hăng nước ngoài chỉ v́ các doanh nhân Việt không dám nghĩ lớn, không dám đương đầu cạnh tranh ṣng phẳng với các hăng nước ngoài, dù là trên sân nhà của ḿnh. Các thương hiệu Việt bị các hăng nước ngoài nuốt chửng, mất luôn tên tuổi có thể kể đến kem đánh răng Dạ Lan bị Colgate Palmolive nuốt, kem đánh răng PS về tay Unilever, bia Huế về tay Carlsberg Đan Mạch, Tribeco về tay Uni-President, Phở 24 và Highland Coffe về tay Jollibee Ford...

 
   

Một điểm yếu nữa của người Việt là không có máu chinh phục, không có máu kinh doanh quốc tế, không có khát vọng toàn cầu hoá, trong khi Tây vào tận nước ḿnh, kinh doanh, thôn tính, kiếm tiền của ḿnh, th́ các Doanh nghiệp Việt chỉ quanh quẩn trong đất nước ḿnh, thậm chí thành phố ḿnh, tỉnh ḿnh.

Năm 1998 FPT quyết định chiến lược Toàn cầu hoá Xuất khẩu phần mềm, anh Trương Gia B́nh đă gặp rất nhiều lực cản cả từ bên trong lẫn bên ngoài. Rất nhiều lănh đạo FPT sợ thất bại, sợ mất tiền, để thể hiện quyết tâm anh Trương Gia B́nh đă phải ra nghị quyết đầu tư 1 triệu USD cho xuất khẩu phần mềm (một con số gấp 2.5 lần toàn bộ Doanh thu phần mềm trong nước của FPT năm 1998).
Chưa đủ, anh Trương Gia B́nh c̣n thể hiện quyết tâm bằng khẩu hiệu "dù phải đốt cả dăy Trường Sơn cũng phải xuất cho được phần mềm". Nếu không có những quyết tâm cao độ đó th́ hôm nay FPT không có 10.000 người làm xuất khẩu phần mềm với doanh thu 300 triệu USD năm 2016.

Đến giai đoạn xuất khẩu lần thứ 2 của FPT, kiếm được hợp đồng từ các nước đang phát triển đă khó nhưng để có chuyên gia sẵn sàng đi nước ngoài triển khai hợp đồng cũng khó không kém, chúng tôi đă phải xây dựng chính sách ưu đăi cho Toàn cầu hoá như tiêu chuẩn ăn, ở, đi lại, công tác phí, phụ cấp toàn cầu hoá, 3 tháng về thăm nhà một lần thế mà cũng không ít cán bộ tự nguyện đi Toàn cầu hoá. Chưa hết chúng tôi c̣n làm qui đổi doanh số Toàn cầu hoá được nhân hệ số 4, tức cứ 1 triệu USD doanh số Toàn cầu hoá bằng 4 triệu USD doanh số ở thị trường Việt Nam.

Hiện tại tuy Việt Nam đă đạt kim ngạch xuất khẩu 162 tỷ USD (năm 2015) nhưng hầu hết là xuất khẩu tài nguyên, khoáng sản, thuỷ hải sản, nông sản, thực phẩm và hàng gia công chứ rất ít từ dịch vụ, từ công nghệ, tức giá trị chất xám của người Việt c̣n chiếm tỷ lệ rất thấp.
Về tinh thần th́ số doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài (không tính Cambodia và Laos) chinh chiến, hoạt động thương mại, sản xuất, kinh doanh tại các quốc gia khác chỉ đếm trên đầu ngón tay, nếu phải kể tên th́ cũng chỉ có các tên sau Vietel, FPT, Hoàng Anh - Gia Lai...
Chúng ta không kiếm được tiền của các nước khác mà lại để doanh nghiệp các nước khác kiếm tiền của ḿnh, trên sân nhà ḿnh th́ chúng ta nghèo hơn người ta là đúng thôi.

(3) ÁP ĐẶT SUY NGHĨ CỦA M̀NH CHO NGƯỜI KHÁC

Cuối năm 1990 tôi sang Pháp 8 tháng nên có gặp gỡ nhiều anh chị Việt Kiều Pháp và Đức. Tôi có được đọc một bài trả lời phỏng vấn của một đạo diễn nổi tiếng trên tạp chí Quê Hương, sau khi được các anh chị Việt Kiều mời anh sang Pháp, Đức, Mỹ 3 tháng làm phim về Việt kiều, vị đạo diễn đă trả lời đại ư như sau:

- Hỏi: Anh có cảm giác ǵ sau 3 tháng sang Pháp, Đức, Mỹ làm phim và tiếp xúc với nhiều Việt Kiều thành đạt?
- Trả lời: Tôi thất vọng về dân tộc Việt.
- Hỏi: Anh cũng là người Việt, sao anh lại nói vậy.

- Trả lời: Trước khi sang đây tôi tưởng Việt nam nghèo v́ sai lầm về thể chế về chế độ chính trị, nhưng sau khi sang đây tiếp xúc với nhiều anh, chị, tôi thấy các anh chị tuy sống ở Mỹ, Pháp, Đức được coi là những nước tự do, dân chủ hàng đầu thế mà các anh chị vẫn có tật là áp đặt suy nghĩ của ḿnh cho người khác, các anh chị không chấp nhận người không cùng chính kiến với ḿnh, cùng là chống cộng, nhưng những người chủ trương bạo động và những người chủ trương bất bạo động cũng coi nhau như kẻ thù. Nếu chỉ là sai lầm về thể chế, chế độ chính trị th́ chúng ta dễ sửa, c̣n áp đặt suy nghĩ của ḿnh cho người khác, không chấp nhận người khác chính kiến của ḿnh là bản tính của dân tộc Việt th́ rất khó sửa.

Sau khi đọc bài trả lời phỏng vấn ấy, tôi suy nghĩ nhiều và thấy ông đạo diễn nói có cơ sở. Hoá ra áp đặt suy nghĩ của ḿnh cho người khác, không chấp nhận người khác chính kiến của ḿnh là bản tính xấu của người Việt. Ngay từ thói quen ăn uống, người Việt đă áp đặt nhau: Người Việt ăn món ǵ thấy ngon th́ luôn nghĩ người khác phải ăn thế mới ngon, ḿnh ăn hành, ăn tỏi, ăn mắm tôm, ăn thịt chó th́ người khác cũng phải ăn, "không ăn phí nửa đời người", "ăn tốt cho sức khỏe", "ăn ngon lắm"... họ đâu có biết người không ăn được th́ hoặc cơ thể họ không tiếp nhận hoặc với họ ăn như một cực h́nh.

Trong nhà hàng hay mời khách đến nhà ăn, người Việt không có thói quen hỏi người khác kiêng cái ǵ hoặc người Việt quan niệm "Nam vô tửu như cờ vô phong", trên bàn tiệc bắt tất cả đều phải uống rượu, đều phải 100%, nếu không 100% là không thật ḷng, không cần biết người ta có uống được không, có đang điều trị bệnh ǵ không.

Trên Facebook chúng ta thường xuyên thấy những người tự nhận là đấu tranh cho dân chủ, thế nhưng bất cứ ai nói khác với họ là họ qui ngay là DLV, là ăn lương của nhà nước, là ngu... Đến cả những người đang giương cờ đấu tranh cho dân chủ mà cũng thế th́ hết cách chữa.
Đất nước đă thống nhất 41 năm thế mà vẫn chưa thể hoà giải giữa những người hai bên chiến tuyến, một bên th́ vẫn chưa bỏ được mối thù, cứ có dịp là biểu t́nh chống cộng, một bên th́ vẫn chưa bỏ được định kiến. Một bên th́ bảo anh thắng trận anh phải quảng đại, anh phải ch́a tay ra chứ, một bên th́ bảo tôi đă ch́a tay ra rồi mà anh có bắt đâu.

Hệ quả của việc áp đặt suy nghĩ của ḿnh cho người khác, không chấp nhận người khác chính kiến cùa ḿnh là vô cùng lớn:

 
 

 

[1] Đầu tiên là anh thiếu kiềm chế, anh hung hăng nên rất khó t́m lời giải tối ưu khi đất nước đứng trước nguy cơ bị xâm lược, nguy cơ chiến tranh, dẫn đến việc chúng ta không giữ được hoà b́nh, xẩy ra chiến tranh nhiều. Đă bao giờ bạn tự hỏi tại sao trong lịch sử 4000 năm Việt Nam lại xẩy ra chiến tranh nhiều đến thế, có bạn nói tại ông bạn hàng xóm xấu tính, thế th́ Sơn Tinh đánh nhau với Thủy Tinh, Đinh Bộ Lĩnh loạn 12 xứ quân, Trịnh Nguyễn phân tranh 200 năm là tại ai?. Đă bao giờ bạn tự hỏi tại sao trong lịch sử Thái Lan và các nước xung quanh ít chiến tranh hơn Việt Nam?

[2] Tiếp theo là chúng ta thiếu tính kế thừa, ai có quyền cũng muốn không giống người tiềm nhiệm, muốn ghi dấu ấn của ḿnh thành ra các công tŕnh cổ bị đập đi, làm lại. Trong khoa học, công nghệ chúng ta không có thói quen làm tiếp, tiếp quản thành quả của người khác mà thích làm lại từ đầu. Tất cả dẫn đến lăng phí của cải chung của cả xă hội và giá thành sản phẩm cao và chậm nhịp độ phát triển.

[3] Một hậu quả xấu nữa là hoặc là tổ chức sẽ thiếu tính sáng tạo v́ không có người phản biện hoặc là tổ chức sẽ thiếu sự đoàn kết và không phát huy hết các tài năng cá nhân v́ những người khác quan điểm hoặc sẽ phải dời bỏ hoặc ở lại th́ thụ động, không dám thể hiện hết ḿnh.

 
 

 

(4) NỀN TẢNG TRIẾT HỌC YẾU LẠI KHÔNG CHUẨN

Triết học của Việt Nam gốc là Nho Giáo sau này chuyển sang Khổng Giáo, Khổng Giáo độc tôn ở Việt nam cho tới thế kỷ 20. Cuối thế kỷ 16 khi các nhà truyền giáo Châu Âu vào giảng đạo, Thiên Chúa Giáo bắt đầu h́nh thành và phát triển và triết học Khổng Giáo dần bị lai tạp bởi Thiên Chúa Giáo. Với sự thay đổi và phát triển như vậy triết học của Việt Nam là lai tạp, pha trộn và ảnh hưởng của nước ngoài (Trung Quốc và phương Tây) nên nền tảng không vững chắc, cộng thêm Việt Nam không có triết gia nên các hệ thống lư luận và giá trị vừa yếu vừa không chuẩn.

Trên nền tảng triết lư Khổng Giáo lai tạp ấy rất nhiều giá trị, nhiều vai tṛ của các thành phần trong xă hội không chuẩn, thậm chí bị sai lệch, từ đó dẫn đến đảo lộn các qui tắc hành xử, ứng xử trong xă hội cũng như trong phát triển kinh tế.

 [1] Điểm sai lệch thứ nhất nghiêm trọng nhất là đánh giá thấp vai tṛ của doanh nhân, doanh nghiệp và thương mại. Không những đánh giá thấp mà c̣n bị coi thường: dậy học và chữa bệnh th́ được gọi là “thầy”: “thầy giáo”, “thầy thuốc” (điều này không sai), c̣n buôn bán, thương mại th́ gọi là “con” là “bọn” (“phường con buôn”, “bọn con buôn”). Trong khi doanh nghiệp (bao gồm cả nhà máy, xí nghiệp sản xuất, ngân hàng) là trung tâm của xă hội, tạo công ăn việc làm cho 70% lao động trong xă hội, đóng thuế nuôi bộ máy chính phủ, duy tŕ an ninh quốc pḥng, đầu tư cho giao thông, hạ tầng xă hội, đầu tư cho giáo dục, đầu tư cho y tế, chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người nghèo và các chính sách xă hội…

 
   

Đă bước vào thế kỷ 21, hội nhập quốc tế đă 22 năm, thời đại Internet, thời đại toàn cầu hoá rồi mà hiện tại rất nhiều học giả, rất nhiều người có tri thức vẫn có luận điểm chia những người kinh doanh Việt Nam ra 3 loại: Doanh nhân, thương nhân và con buôn (trong khi thế giới chỉ dùng một từ duy nhất là Businessman). Tệ hại hơn có người c̣n kết luận hiện thời Việt Nam chưa có doanh nhân.

Một thành phần chính, lực lượng chính, hoạt động trung tâm của việc tạo ra của cải cho xă hội, của phát triển kinh tế, làm giầu cho cá nhân, tập thể và đất nước lại bị đánh giá thấp nhất, bị coi thường, bị miệt thị th́ măi nghèo cũng là chuyện tất yếu, không thể khác.

Người Việt chúng ta hiểu hoàn toàn sai về thương mại và doanh nhân, họ coi buôn bán, thương mại là lừa gạt, là bất nhân. Thực chất thương mại và doanh nhân buộc người ta phải đi lại, gặp gỡ, giao lưu, buộc người ta phải thuyết phục đối tác, khách hàng; muốn vậy buộc người ta phải t́m hiểu tâm lư, thói quen, nhu cầu của khách hàng; muốn vậy buộc người ta phải đặt ḿnh vào địa vị của khách hàng để hiểu tâm lư, thói quen, nhu cầu, để khám phá xem khách hàng muốn ǵ; muốn vậy buộc người ta phải nghiên cứu, áp dụng khoa học và công nghệ để sản xuất ra các sản phẩm tốt nhất, phù hợp nhất; Tiếp theo người ta phải t́m cách chinh phục khách hàng, thuyết phục khách hàng đồng ư mua sản phẩm, dịch vụ của ḿnh thay v́ mua sản phẩm dịch vụ của nhà cung cấp khác, của quốc gia ḿnh mà không phải quốc gia khác. Muốn làm được điều đó doanh nhân phải là một người lịch sự, chân thành, lễ độ, nghiêm túc, hiểu biết, giữ chữ tín, đáng tin cậy, đáng yêu và có trách nhiệm với xă hội, đôi khi là cả ḷng dũng cảm, đi tiên phong.

Chân thành, tin cậy, đáng yêu, có trách nhiệm với xă hội là bốn đức tính đáng quí nhất của một doanh nhân, thiếu bốn đức tính đó th́ không thể là một doanh nhân lớn, không thể thành công trong thương mại, nếu có thành công th́ chỉ là thành công nhỏ, tạm bợ mà thôi.

Một đất nước, một nền văn hoá, loại bỏ thương mại, thiếu vắng thương mại sẽ dần biến đất nước, biến xă hội thành một đất nước, một xă hội không văn minh, thiếu lịch sự, đôi khi lỗ măng.

Chính v́ bị đánh giá thấp, bị coi thường nên doanh nghiệp và nghề buôn (thương mại) không được phát triển ở Việt nam. Mà thương mại và doanh nghiệp không được phát triển th́ tất yếu đất nước sẽ nghèo.

[2] Điểm sai lệch thứ hai cũng nghiêm trọng là đánh giá sai lệch về tiền bạc. Không chỉ sai lệch mà chúng ta c̣n có thái độ bệnh hoạn và tội lỗi đối với tiền bạc.

Người Việt chúng ta có hai thái cực trái ngược nhau đầy mâu thuẫn về tiền bạc. Thái cực thứ nhất là coi khinh đồng tiền: “Tôi coi khinh đồng tiền”, “tiền bạc lắm”; đă coi khinh đồng tiền, coi tiền là bạc bẽo th́ hiển nhiên sẽ không bao giờ kiếm được nhiều tiền, không bao giờ giầu có. Thái cực thứ hai là tuyệt đối hoá đồng tiền: “Có tiền mua tiên cũng được”, “tiền là vạn năng”, “tiền là tất cả”; đă tuyệt đối hoá đồng tiền họ sẽ kiếm tiền bằng mọi giá, không quan tâm đến chữ tín, không quan tâm đến nhân cách, bất chấp hậu quả.

 

Với triết lư vừa tuyệt đối hoá vừa coi khinh đồng tiền dẫn đến một bộ phận người Việt Nam không dám công khai kiếm tiền, coi kiếm tiền như một sự vẩn đục, họ cố làm ra vẻ coi khinh đồng tiền, coi khinh sự giầu có và hănh diện với sự thanh bần của ḿnh. Mặt khác họ cũng hiểu quyền lực của đồng tiền, họ cũng cần tiền và muốn có nhiều tiền thành thử họ kiếm tiền và làm giầu một cách giấu giếm.

Các xă hội phát triển, văn minh họ đánh giá đúng giá trị đồng tiền, họ không tuyệt đối hoá, họ không coi khinh đồng tiền, họ coi đồng tiền là phương tiện trao đổi hàng hoá, đồng tiền là thước đo giá trị lao động, đồng tiền giúp họ có cuộc sống tốt hơn, đào tạo nâng cao tŕnh độ, chăm sóc sức khoẻ tốt hơn, báo hiếu cha mẹ, giải trí, du lịch và làm công tác xă hội.

 
 

 

[3] Điểm sai lệch thứ 3 cũng nghiêm trọng là đánh giá sai các giá trị:

Người Việt chúng ta quan niệm lệch lạc về người giỏi. Thời phong kiến là giỏi làm thơ (xuất khẩu thành thơ), giỏi đối đáp (câu đối), trong khi đó xă hội cần bao nhiêu người tài trong các lĩnh vực khác nữa: khoa học tự nhiên và kinh tế - thương mại là hai lĩnh lực quan trọng nhất giúp kinh tế phát triển th́ thời phong kiến không được quan tâm, không được đánh giá là người tài. Nửa cuối thế kỷ 20 ở miền Bắc lại quan niệm người giỏi là giỏi các môn tự nhiên, đặc biệt là môn Toán, tất cả những học sinh giỏi nhất lên đại học đều học Toán, Vật Lư, Cơ học..

Người Việt chúng ta không đánh giá cao, không ca ngợi những nguyên lư cơ bản về hệ thống, bài bản mà thường đánh giá cao sự lanh trí xử lư theo t́nh huống, khôn vặt kiểu Trạng Quỳnh: “Dê đực chửa”, “Hâm nước mắm”, “nhúng 10 đầu ngón tay vẽ giun”, “đố vua ị mà cấm đái”… Với tư duy ấy chúng ta chỉ có thể làm tốt những hệ thống nhỏ, đơn lẻ, khi hệ thống lớn hơn, cần nhân rộng, cần phát triển lâu dài th́ sự lanh trí, khôn vặt lại chính là lực cản của sự phát triển.

Người Việt chúng ta rất coi trọng bằng cấp, coi trọng đến mức cứ thi đỗ trạng nguyên, thám hoa, bảng nhăn th́ bổ làm quan. Trong khi đó thám hoa, bảng nhăn cũng chỉ giỏi văn thơ, làm sao mà lănh đạo một tổng, một huyện, một tỉnh, làm sao lănh đạo phát triển kinh tế. Đồng hành với coi trọng bằng cấp là coi nhẹ thực hành: ngày trước đi học chỉ dậy văn thơ, câu đối, ngày nay chỉ dậy lư thuyết mà ít dậy thực hành.

    Cao Bao Do