Tản mạn lịch sử về năm Giáp Ngọ 1954

 

Theo lịch phương Đông th́ năm nay  là  năm Giáp Ngọ

 Năm Giáp-Ngọ  là năm Ngựa hay Ngọ-niên.    Tên năm  dựa vào hai hệ-thống 12 chi và 10 can,.12 chi theo thứ-tự là tư, sửu, dần, măo  th́n,  tỵ  ngọ,  mùi , thân, dậu, tuất, hợi … mà 10 can là giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỷ, canh  tân, nhâm  quư. Cứ một can lại ghép với một chi cho ra tên năm,  bên 12 bên 10 thành cứ mười năm lại dư so-le ra hai chi, sau 6 thập-niên th́ dư ra 12 chi, tức là sau thập-niên thứ 6 th́ hết so-le, tên trở lại như hồi đầu 60 năm trước. Nói cách khác, năm nay 2014 là Giáp-ngọ, hết chu-kỳ 60 năm, đến 2074 sẽ lại có năm Giáp-Ngọ, trước đây 60 năm, 1954 cũng là năm Giáp-ngọ,

Đối với những đồng-hương từ miền Bắc ở lớp tuổi trên-dưới 80 th́  năm Giáp-ngọ  1954. c ó 2 biến có lịch sử : cuộc di-cư ly-hương vào Nam, và   chính sách cải cách ruộng đất ở miền Bắc  với cảnh đấu tố địa chủ.

    

 
   

I-Cuộc di-cư ly-hương vào Nam

Trong cuộc di-cư đó, dân Nam đă mở rộng ṿng tay đón một triệu dân miền Bắc bỏ CS đi t́m tự-do. Ở quê tôi vào thời đó, con người dính liền với quê-cha-đất-tổ. Khi sinh con, bà mẹ nhặt lấy buồng nhau chôn ngay vườn sau nhà. Cái nhau nối ruột mẹ với ruột con, truyền sức sống từ mẹ sang nuôi bào-thai. Khi sanh ra thi chôn nhau sau nhà, như ràng-buộc ḷng con người với căn nhà chung của gia-đ́nh, với ḷng thân-yêu của đại-gia-đ́nh từ các đời trước tiếp-nối sang các thế-hệ sau. C̣n cái cuống-rốn, sau mấy ngày sanh sẽ rụng, bà mẹ dắt lên mái nhà phía trước, nơi sáng-sủa và cao-ráo, mong rằng ánh sáng và hơi ấm mặt trời sẽ mang đến những ảnh-hưởng tốt-lành cho đứa trẻ. Do đó mà chúng ta có thành-ngữ nơi chôn-nhau-cắt-rốn mà thời b́nh-thường, không ai muốn phải rời xa. Vậy mà một sáng tháng 7 năm 1954, cha mẹ tôi đứng dậy, gọi con-cái, mỗi đứa một cái bị tay sách hay một cái túi vai đeo rồi ông bà dẫn tất cả chúng tôi vào Nam. Cái nghịch-lư lớn đầu đời của tôi là mặc-dù yêu quê-cha-đất-tổ mà bỗng-nhiên lại bỏ nơi-chôn-nhau-cắt-rốn vào tháng 7 năm 54 đi vào miền nam của đất-nước. Lư-do là cha-mẹ chúng tôi đă thấy cái bất-thường trong guồng máy chính-trị hành-chánh của Cộng-Sản, qua cách đối-xử không-tưởng với những người có ḷng và có công và được nhân-dân yêu-quư. Bà Nguyễn-Thị-Năm là người nữ-thương-gia khá-giả đă từng nuôi nhiều đoàn quân cách-mạng và kháng-chiến, đă từng đón-tiếp, nuôi ăn, góp vải may quần-áo cho bộ-đội. Một buổi sáng, có lệnh của cố-vấn Tàu cho mang ra đấu-tố trong đợt đấu-tố giai-cấp đầu-tiên. Người ta nói Hồ-Chủ-Tịch muốn xin chọn một người đàn-ông hơn là dành phát-nổ đầu-tiên cho phụ-nữ. Cố-vấn Tàu bác-bỏ, giải-thích rằng “Cọp cái th́ cũng ăn thịt người”. Rồi cho đưa ra bắn.

 
 

 

II- Chính sách cải cách ruộng đất với cảnh đấu tố địa chủ

 Nạn nhân   của chính sách là ông Nguyễn Hữu Kha. Câu chuyện  về  nạn nhân  là câu chuyện đau-thương mà năo-ruột.

Đầu đời

Ông sinh năm 1902 vùng Đống-đa, ngoại-ô Hà Nội. Cha là một ông đồ đi dy học xa để kiếm tiền ăn-học và gửi về nuôi vợ-con. Năm Hữu-Kha lên 4 tuổi th́ ông cha thi đỗ cử-nhân, nhưng khuất thân, không đi làm cho nhà nước tiếp-tục dạy học, làm thuốc. Cũng có tham-gia Đông-Kinh nghĩa-thục. Sau đó, bị bắt, đầy đi Côn Đảo. Hữu-Kha chịu ảnh-hưởng của bà-nội và ông anh lớn. Bà nội giỏi chữ Hán và rất mộ đạo Phật; bà cụ chăm-lo dạy-dỗ cháu. Hữu-Kha theo bà ăn chay từ khi mới 8 tuổi. Người anh Hữu-Kha vốn là một nhà sư-phạm tân-trào, khuyên và hướng-dẫn Hữu-Kha học vần quốc ngữ, lại học thêm cả nhiều ngoại-ngữ, tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nhật. Năm Hữu Kha 15 tuổi, khi bà nội qua đời, Hữu-Kha quyết-định sẽ đi theo chân Phật; từ đó, lại càng nghiên-cứu đạo Phật, mong sẽ truyền-bá giáo-lư Phật, sẵn-sàng chia-sẻ mọi điều với người chung-quanh:“Tôi thề rằng đời tôi hễ ai thiếu-thốn muốn nhờ tôi th́ dù họ chưa hé miệng, tôi đă vâng. Tôi c̣n một bát gạo mà ai đói hơn tôi cũng nhường ngay, thà tôi chịu nhịn”.

 
 

 

Mười sáu tuổi, Hữu-Kha xuống Đồ-Sơn lúc đầu tính làm thuốc, bán thuốc nam, thuốc bắc, thêm ít bánh kẹo cho du-khách và dân chài. Sau phải làm thêm đủ việc, từ kéo thuyền, đẩy xe đến cả ṃ cua bắt ốc để sống qua ngày. Năm 18 tuổi (1920), khi người cha măn hạn tù th́ hai cha con mở hiệu thuốc Lợi-Nhân-Đường, tuy bận-rộn mà cũng chỉ đủ ăn, v́ sẵn ḷng từ-thiện, hay làm ơn giúp người bệnh nghèo khó hơn là thu tiền thuốc. Hữu-Kha tiếp-tục học thêm về đạo Phật. Năm 19 tuổi, đi các chùa tham thiền vấn đạo, học-hỏi thêm; rồi nhận ra khuynh-hướng suy-tàn của đạo Phật ở nước nhà. “Khi đi sâu vào nhà chùa, tôi thấy sự tổ-chức ở chùa không đúng với lời Phật dạy; trái lại dập theo khuôn-khổ phong-kiến …Lại c̣n dùng thuật mê-tín vẽ ra đàn-tràng cúng- bái... V́ thế tôi nhất-định không theo chế-độ đó; cho tới ngày nay tôi cũng chỉ là một tín-đồ tín-ngưỡng triết-lí mà thôi…tôi theo đuổi việc chấn-hưng Phật-giáo”. 

 
   

Dịch và in Kinh-kệ

Năm 26 tuổi Nguyễn-Hữu-Kha dưới hiệu là Lạc-Khổ (Cái vui trong cảnh khổ), bắt đầu dịch kinh Phật ra quốc ngữ, v́ ông thấy người ta toàn tụng kinh chữ Hán mà chẳng hiểu ǵ. Ông suy nghĩ: “Kinh chữ Phạn dịch ra chữ Hán được, th́ dịch ra chữ ta cũng được chứ sao!” và bắt tay vào việc dịch Kinh. Cùng người em, ông mở hiệu sách Ḥa Kư để tự in một số kinh ḿnh đă dịch như Kinh Vô Thường năm 1932, Khóa Hư Kinh dịch nghĩa năm 1934. Cùng năm này, Hội Phật-giáo Bắc-Kỳ được thành-lập; Hội sắm thêm một máy in và mời ông tiếp tay quản-lư, in-ấn. Cơ quan ngôn luận của Hội là báo Đuốc-tuệ. Ông lấy hiệu mới là Thiều-Chửu. Danh-hiệu này gắn liền với ông; được người đời biết đến hơn chính tên thật. Thiều là loài cây như cây bông-lau, Chửu là chổi; Thiều Chửu là chiếc chổi làm bằng bông-lau. Chổi bông-lau quét sạch những thứ nhơ bẩn trong ḿnh, đồng thời làm sạch cho xă-hội quanh ḿnh. Và ông tự dặn ḷng: “Hằng ngày phải lau quét bụi-trần tham-nhiễm, đừng để gương ḷng vẩn đục bởi phiền-năo vô-minh che-lấp”.

Thiều Chửu ăn-ở ngay tại chùa Quán-Sứ ở Hà Nội là nơi đặt ṭa soạn báo Đuốc-tuệ mà cũng là trụ-sở của Hội; do đó, ông đă đóng-góp tích-cực vào sinh-hoạt mặc dù  không là một nhà tu hành nằm trong hệ thống Giáo hội mà chỉ là cư sĩ tu tại gia.

Tác phẩm cuối cùng của Thiều-Chửu Nguyễn-Hữu-Kha là Con đường học Phật ở thế kỷ thứ XX xuất bản năm 1952 chỉ-trích những sai-lầm trong hiện-tại và gợi ư sửa-sai ra sao cho thich-hợp với giai-đoạn mới.

 
 

 

Bậc thày trong xă-hội từ việc đạo đến việc đời.

Ông viết “Từ năm tôi 26 tuổi là năm tôi bắt đầu dịch kinh, tôi đă phát-nguyện trước Tam-bảo, cầu Tam-bảo gia-hộ  cho tôi dịch được các bộ kinh mà thế-gian thường tŕ tụng như Thủy-sám, Địa-tạng, Dược-sư, Phả-môn, Kim-Cương bát-nhă v.v… đến thời kỳ sau chót th́ dịch nốt bộ Pháp-hoa”. Người ta tính tổng cộng các tác phẩm dịch kinh của ông gồm tới 15 đầu sách.

 

Năm 1941, Hội Phật-giáo Bắc Kỳ cử ông lập trường Phổ-Quang dạy tăng-ni. Ông đảm-trách hầu như toàn-bộ các môn học: dạy chữ Hán, giảng kinh-điển, chủ-tŕ các khóa lễ.

Lo phần trí-tuệ của Phật-tử qua việc dịch kinh, ông cũng c̣n viết nhiều sách loại phổ-thông, truyền-bá kiến-thức tổng-quát cho người đời như Cách trí phổ thông (1934), Lịch sử phổ thông (1934), Đạo đức phổ thông (1935), Vệ sinh phổ thông (1935)… Ờ Hà-nội, ngày nay người ta c̣n nhắc măi điều thú-vị là vị cư-sĩ vốn không vợ không con đă viết một  tác phẩm không có liên-quan ǵ đến Phật-học mà lại bàn về một vấn-đề rất “đời”: Phép nuôi con (1926). Ông không phân-tách việc Đạo, việc Đời; ông lo tổng-thể.

 

Tác giả  Từ Điển Hán-Việt Thiều-Chửu

Các học giả, khi gặp  nhiều tiếng Hán-Việt, thường dùng  cuốn từ-điển Thiều-Chửu là v́ lư-do   thoát được cửa ải khó-khăn phiên-thiết.Cuốn Từ-điển Thiều-Chửu  hay ở chỗ là không cần ghi thêm cách phiên-thiết như thấy trong nhiều tự-điển Hán-nôm khác. Phiên-thiết là phép dùng một cặp-chữ khác đề chỉ cách đọc.

  Trước khi  cuốn từ điển này ra đời, th́ vấn đề chuyển âm các từ ngữ Hán Việt chẳng theo một  nguyên tắc nào cả... Thời điểm đó,  khi chú giải bản viết truyện Kiều bằng chữ nôm, thường  các học giả  bắt gặp nhiều chữ Hán Việt.  Các vị  này đều chuyển âm  tuỳ tiện mà không cần đắn đo.   Chính v́ vậy mới có  những câu sau đây :

 

 pḥng không lạnh ngắt như tờ,

buồng không lạnh ngắt như tờ

Buồngpḥng đều là hai từ Hán Việt, cùng nghĩa như nhau. Về hai chữ buồng và pḥng. có tổng số  24 chữ trong truyện Kiều cùng nghĩa như nhau (loại   trừ   chữ của câu 801 :Pḥng khi nước đă tới chân,    pḥng ở đây có nghiă là pḥng ngừa ).

Thế liệu có phải là Nguyễn-Du không nhất-trí, khi dùng pḥng khi dùng buồng chăng? Thưa không phải như vậy.  Sở dĩ xẩy ra như vậy là v́ việc chuyển âm không thống-nhất giữa các tác giả  chú giải    sách Truyện Kiều . Chính v́  sự chuyển âm  không thống nhất  giữa các  nhà chú giải, mà nhiều độc giả  hoang mang  khi đọc truyện Kiều. Nhận ra  điểm này,   Ông Nguyễn-Hữu-Kha đă soạn thảo T Điển Hán-Việt Thiều-Chửu đạt được mục tiêu  chuyển âm thống-nhất 

Cuốn  T Điển Hán-Việt Thiều-Chửu của Nguyễn-Hữu-Kha c̣n có ưu điểm nổi khác là tra chữ rất thuận tiện, cuối sách lại có thêm bảng tra chữ theo mẫu tự ABC có kèm chữ Hán. Tổng-số từ tương-đối lớn và việc giảng nghĩa kỹ. V́ thế, cuốn Hán-Việt từ-điển của Nguyễn-Hữu-Kha đă giúp-đỡ cho biết bao người học sách,..

 
   

Nhà  cứu tế xă hội

Việc đời ở đây là ông dấn-thân, chú-ư đến xă-hội chung-quanh ḿnh và luôn nghĩ đến các hoạt-động cứu-tế xă-hội như năm 1936, ông giúp cho Hội Tế-sinh; năm 1937, giúp cứu lụt vùng Bắc-Ninh, Bắc-giang; trong nạn đói năm 1944-45, ông tích-cực tham-gia công việc cứu đói, hằng ngày phát chẩn cho hàng đoàn người. Cùng các ḥa thượng Thích-Tố-Liên, Thích-Trí-Hải, ông đứng ra thành-lập Tổng-hội Cứu-tế trụ-sở cũng đặt tại chùa Quán-Sứ. Ông cũng tham-gia thành-lập một cô-nhi-viện chăm lo cho 200 trẻ mồ-côi.

 Khi chiến-tranh bùng nổ, Thiều-Chửu tổ chức một đoàn gồm khoảng 10 tăng ni và 20 trẻ em đi tản-cư. Đây có thể coi là một lớp học lưu-động trong thời chiến, từ Thanh-Oai sang Phú-Xuyên, tới Thạch-Thất, Sơn Tây; khi ở huyện Kim-Anh, Phúc- Yên; lúc sang Đồng-Hỷ, Thái-Nguyên.

 
 

 

Nhà lănh-đạo nhân-bản

 

Ông gắng dậy cả đoàn tập tự-lập, cho mọi thành-viên biết tự lo cho đoàn và tự nhận trách-nhiệm; vừa lo học -tập chữ-nghĩa, vừa lao-động sản-xuất. Chính thân ông đảm- nhận việc nấu cơm; ngủ ở ngoài hiên, mỗi ngày ông chỉ ăn một bữa, ban ngày làm việc, ban đêm thức đọc sách, dịch kinh. Cuộc sống giản-dị, vừa đóng-góp phục-vụ đoàn, vừa sản-xuất, vừa tiếp-tục viết sách dịch kinh làm tài-liệu cho đời nương-dựa; ông đă là gương-mẫu cho mọi người chung-quanh. Ông dẫn đầu các thành-viên trong đoàn khai-khẩn rừng để lấy đất tăng-gia. Ông chỉ-bảo mọi người cách trồng sắn, trồng khoai. Vốn lăn-lộn từ nhỏ, việc ǵ ông cũng thạo, từ việc đồng-áng đến việc chăn-nuôi gia súc hay việc dựng cột, lợp nhà... Do ông chỉ-dẫn huấn-luyện, mọi người ai cũng biết làm việc, ai cũng có việc làm.

Trân-quư việc làm của Thiều-Chửu và cũng để giúp-đỡ các tăng-ni và trẻ em trong đoàn, ḥa-thượng Thích-Tố-Liên trong ban lănh-đạo Hội đă cho người đem ra tặng người cộng-sự cũ 6 lạng vàng; song ông nêu gương nhân-bản tự-lập mà không nhận sự hỗ trợ. 

Bảo toàn danh tiết

Cuối năm 1953, là lúc đội Cải-cách ruộng-đất về địa-phương. Thiều-Chửu vui mừng những tưởng từ nay người dân sẽ có thể tự-lực tự-cường hưởng công sản-xuất, xă-hội công-bằng, mọi người mọi nhà ḥa-thuận cùng nhau đồng-tiến. Ông tưởng đội sẽ đến tiếp tay với ḿnh, v́ ông biết ḿnh là mẫu người nhân-bản, nhận trách-nhiệm cá-nhân, là mẫu người lao-động tự kiếm lấy miếng ăn, là mẫu người xă-hội lúc nào cũng chỉ mong đem lại lợi ích cho mọi người chung-quanh. Không ngờ ông vỡ mộng. “Đội” không những có nhiệm-vụ khích-động nhân-dân đấu-tố địa-chủ, nhưng cũng muốn diệt luôn những ai có uy-tín trong nhân-dân, một ngày kia có thể tranh-dành ảnh-hưởng của đảng và chính-phủ. Mà Thiều-Chửu là một nhân-vật tiêu-biểu đó. Tội-danh được “đội” bịa-đặt, nào là ông mê-hoặc quần-chúng bằng tôn giáo, nào là có tư-tưởng tư-hữu do việc khuyến-nông khai-khẩn ruộng hoang, nào là lợi-dụng công-sức trẻ em; việc giao ruộng cho các thành-viên cấy rẽ th́ bị vu là thuộc thành-phần bóc-lột. Ông bị “đội” quy là địa-chủ, bị người ta “xỉa xói mắng-nhiếc luôn ba bốn giờ, vu cho đủ các tội ác, dùng những lời nói rất khinh-bỉ hà-khắc”.

Nỗi oan quá lớn, cộng thêm nỗi đau nhân-t́nh thế-thái, thương-cảm cho biết bao nông-dân khác cũng bị hàm-oan v́ làm chủ một mảnh đất nhỏ, hay v́ có một tá-điền giúp việc… Thiều-Chửu đă quyết-định lấy cái chết để minh-oan, và cũng là để cảnh-báo những sai-lầm ác-nghiệt của chế-độ phi-nhân. Đêm ngày 15 tháng sáu năm Giáp-Ngọ, Thiều Chửu thức trắng viết nốt bản Tự-bạch (và thư tuyệt-mệnh cho cho trùm CS Việt) với những lời như sau: “Cái án “mạc-tư-hữu” mà ông Nhạc-Phi phải chịu đời phong-kiến c̣n có lẽ; ai ngờ đời nay chính bản-thân tôi lại bị, th́ tôi c̣n biết van-vỉ làm sao được nữa”.  Rạng ngày 16 tháng Sáu năm Giáp Ngọ (15-7-1954), sau hôm giỗ cha, ông ra thác Huống trên sông Cầu (Thái Nguyên) làm lễ Tam-bảo và Thiên-địa. Xong rồi ông xuống sông, cứ thế đi ra giữa ḍng cho đến lúc ngập ch́m, tự ḿnh đi đến cái chết.

Về sau, các học tṛ và hậu duệ trân rước hài cốt ông về Hà Nội mai táng. Hiện nay mộ ông đặt tại nghĩa trang Thanh Tước…

 
 

 

Chính-sách sai-lầm một thời đă làm ta mất một nhà văn-hóa lớn. Trong niềm thương-tiếc, có người trách chính-phủ và đảng đă phung-phí nguyên-khí quốc-gia;

Lại có người ngậm-ngùi tiếc ở chỗ ông đă thấm-nhuần Phật-pháp, là một cư-sĩ, sao lại chấp-nhận, hay gián-tiếp tiếp-tay cho việc phung-phí nguyên-khí đó. Kinh-kệ đă nói phải tránh sát-sinh, hoặc là tự sát, hoặc giao tha sát, hoặc kiến sát tùy hỷ là mấy điều cấm-kỵ. Sao ông lạo tự hủy-hoại?

Nhưng nghĩ cho kỹ, ông không phải là tăng mà là cư-sĩ; mà người cư-sĩ lo cả việc đạo lẫn việc đời. Xét về việc đời th́ trong người Phật-tử cũng có con Nhà Nho mà tiết-khí là kim chỉ-nam. Suốt đời, trải qua thăng-trầm, ông quân-b́nh được cả hai yếu-tố. Đến phút chót, trong ông, con người Nho đă lấn-lướt vị Bồ-tát. Ông dẫn quân-tử Nhạc-Phi để rồi t́m lối ra hào-hùng mà năo ruột của Con-Người

Bài viết :  Bác sỹ Nguyễn Lê Hiếu