“Phong b́” trong ngày hội khu phố

TuoiTre Thứ Tư, 21/11/2012 - Mới đây, khu phố tôi họp bàn tổ chức ngày hội đại đoàn kết dân tộc và nhân kỷ niệm ngày thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam (18-11-2012).

Ban đầu, trưởng khu phố bàn về vấn đề hội thao trong ngày hội và giải thưởng cho các đội và cá nhân đoạt giải, giải thưởng chỉ 50.000 - 100.000 đồng nhưng cũng có thể nói là động viên tinh thần tham gia của người dân trong khu phố. Tuy nhiên, ban điều hành khu phố c̣n nói phải có thêm tiền bồi dưỡng khoảng 50.000 - 100.000 đồng cho ai có mặt cùng tham gia cuộc thi để góp phần tạo thành công trong ngày hội.

Chuyển sang phần tổ chức lễ cho ngày hội, mọi người bàn bạc quà cho gia đ́nh khó khăn: người già neo đơn, chất độc da cam, thương binh bệnh binh, mồ côi cha..., cứ cân nhắc mỗi phần quà từ 150.000 đồng hay 200.000 đồng, rồi duyệt diện gia đ́nh khó khăn chỉ được giới hạn không quá năm hộ. Tuy nhiên, khi bàn đến phong b́ cho khách mời, ban điều hành đề nghị mức 200.000- 300.000 đồng/phong b́ và lượng khách khoảng 10 người

Ngày hội đại đoàn kết ở khu phố để tổng hợp một năm hoạt động, từ việc nhỏ đến việc lớn trong khu phố, tuyên truyền về truyền thống của Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, đánh giá kết quả và bàn phương hướng thực hiện cuộc vận động, biểu dương tập thể, gia đ́nh, trao nhà t́nh nghĩa, tặng quà các gia đ́nh chính sách, khó khăn... Có thể nói ngày hội rất có ư nghĩa, không chỉ là nơi gặp gỡ, giao lưu, phát động phong trào thi đua mà qua đó c̣n phát huy sức dân.

Nhưng vấn nạn phong b́, tiền bồi dưỡng đă làm cho ngày hội mất đi phần ư nghĩa khi người tham gia chỉ đến để lĩnh tiền. Ngoài ra, chuyện phong b́ cho khách mời cho thấy nạn phong b́ đă đi vào ngơ ngách khu phố. Trong cuộc họp, cũng có người không đồng t́nh cho rằng trong khi tiền giúp gia đ́nh khó khăn th́ phải cân đo đong đếm và giới hạn số hộ ở con số quá ít, th́ việc phóng khoáng với khách mời đến dự - chủ yếu là quan chức địa phương và lănh đạo khu phố lân cận - là không nên.

Người này đề nghị bỏ khoản phong b́ cho khách mời để tăng thêm phần quà cho hộ khó khăn v́ khu phố tôi vẫn c̣n nhiều người cần được giúp đỡ, và đây cũng là thể hiện đúng tinh thần của ngày hội đoàn kết.

Tuy nhiên, cũng có ư kiến nói phải làm v́: “Khu phố nào cũng vậy. Đại diện khu phố ḿnh được mời qua khu phố khác cũng được mang phong b́ khi về”.

HẢI HÀ

 
   

    Phong b́ trong bệnh viện

TuoiTre Thứ Bảy, 17/11/2012 - Tại Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến đă bị chất vấn nhiều về y đức, dù không nói có mối liên hệ nào giữa y đức và phong b́, cuối cùng bà phải thừa nhận có chuyện phong b́. Dù phũ phàng nhưng bà Tiến vẫn phải nói, phải kêu gọi thầy thuốc hăy v́ ḷng tự trọng nghề nghiệp mà không nhận phong b́.

Tuy xuất hiện ở nhiều lĩnh vực, thậm chí c̣n được coi như một loại “văn hóa”, nhưng phong b́ trong bệnh viện có vẻ gây phản cảm hơn v́ không ít trường hợp đưa phong b́, người bệnh đang ở lằn ranh giữa sự sống và cái chết

Người Việt Nam vốn giàu t́nh cảm gia đ́nh, họ sẵn sàng bán nhà cửa, bán ruộng vườn để chạy chữa cho người thân. Nhưng v́ bệnh viện quá tải, v́ thiếu thầy thuốc, thiếu giường nằm, v́ lương thầy thuốc c̣n thấp, v́ nhiều người muốn được nhận dịch vụ tốt hơn... dần dần đă nảy sinh “văn hóa” phong b́ ở nơi cần t́nh người nhất. Người giàu phong b́, người nghèo phong b́, ai ai cũng phong b́, khiến trên diễn đàn Quốc hội một đại biểu đă phải than thở không tưởng tượng được bệnh nhân ăn cơm từ thiện để dành tiền cho vào phong b́ gửi bác sĩ.

Khảo sát Công bố giữa năm 2011 của Công đoàn y tế VN tại năm bệnh viện lớn ở Hà Nội cho thấy khoảng 45% bệnh nhân và người nhà không hài ḷng với dịch vụ y tế và các thủ tục hành chính. Đây là căn nguyên của cuộc vận động thực hiện y đức, trong đó có mục “nói không với phong b́” mà sau này báo giới gọi là cuộc vận động nói không với phong b́.

Nhưng chưa đầy một năm sau, cuộc vận động này đă chết yểu bởi những người có trách nhiệm nhất như lănh đạo các vụ, cục thuộc Bộ Y tế đều không đồng t́nh, như lời của Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến trên diễn đàn Quốc hội. Và ngay bà Tiến cũng chối bà không phát động nói không với phong b́.

Khi bà Tiến kêu gọi đồng nghiệp không nhận phong b́ trên diễn đàn Quốc hội, có thể có những thầy thuốc tự trọng sẽ thấy buồn. Bởi nghề thầy thuốc đă, luôn và sẽ được xă hội kính trọng. Nhưng trong thời buổi cung không đủ cầu, thầy thuốc là nghề có được nhiều quyền lợi. Với ḷng tự trọng, họ có thể nhiều lần từ chối nhận phong b́, nhưng với một bối cảnh nhiều người đưa, lắm kẻ nhận như vậy, sẽ có lúc không ít người rồi cũng nhận phong b́.

V́ sao với đủ bộ máy, đủ quyền lực trong tay, bà Tiến và Bộ Y tế không có hẳn một quy định rơ ràng và nghiêm khắc với hành vi đưa - nhận phong b́, bên cạnh vai tṛ tổ chức việc cung cấp dịch vụ y tế hiệu quả, tăng nguồn thu minh bạch cho bệnh viện, tăng thu nhập chính đáng cho thầy thuốc để họ được sống tự trọng bằng nghề thay v́ kêu gọi?

Bởi một khi bộ trưởng đă phải kêu gọi “hăy v́ ḷng tự trọng nghề nghiệp” ở diễn đàn Quốc hội, phong b́ trong bệnh viện không c̣n là chuyện nhỏ, chuyện tế nhị khó nói, mà từ rất lâu rồi nó đă là một vấn nạn nhưng chẳng ai giải quyết tận gốc rễ.

LAN ANH

        Những ngành nhiều tham nhũng nhất

Thanh Nien 21/11/2012

Bốn ngành được cho là tham nhũng phổ biến gồm cảnh sát giao thông, quản lư đất đai, hải quan và xây dựng, theo kết quả khảo sát xă hội học do Thanh tra Chính phủ chủ tŕ.

Image


Ngành tham nhũng nhất theo quan điểm của CBCC, doanh nghiệp và người dân (tỷ lệ phần trăm số kiến chọn là 1 trong 3 ngành tham nhũng nhất) - Nguồn: Báo cáo kết quả khảo sát xă hội học

Bốn ngành được cho rằng tham nhũng phổ biến nhất là cảnh sát giao thông, quản lư đất đai, hải quan và xây dựng. Bốn ngành, lĩnh vực được cho là ít tham nhũng nhất là bưu điện, báo chí, kho bạc và cảnh sát khu vực.

Đây là những thông tin được đưa ra tại cuộc họp báo hôm qua (20.11) công bố Báo cáo kết quả khảo sát xă hội học “Tham nhũng từ góc nh́n của người dân, doanh nghiệp và cán bộ, công chức” do Thanh tra Chính phủ chủ tŕ, phối hợp với Văn pḥng Ban Chỉ đạo (BCĐ) T.Ư về pḥng chống tham nhũng và Ngân hàng Thế giới (WB) thực hiện.

Ba nhóm đối tượng tham gia cuộc khảo sát gồm người dân đại diện cho các hộ gia đ́nh, doanh nghiệp có đăng kư chính thức và cán bộ công chức (CBCC), bao gồm các cán bộ làm việc trong HĐND các cấp ở địa phương và viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công. Tham gia cuộc khảo sát c̣n có CBCC của 5 bộ gồm: Giao thông vận tải, Xây dựng, Công thương, Tài chính và Tài nguyên - Môi trường.

Khảo sát được triển khai tại 10 tỉnh/thành phố được lựa chọn là các thành phố lớn và các vùng đô thị nơi diễn ra nhiều hoạt động kinh tế - xă hội, đồng thời cũng là nơi được cho là có nguy cơ tham nhũng cao hơn. Mặc dù kết quả khảo sát không đại diện cho tổng thể dân số VN, nhưng cũng có ư nghĩa rất lớn bởi 10 tỉnh/thành trong mẫu chiếm 30% dân số cả nước và đóng góp trên 65% GDP của VN.

Theo nhóm tác giả, khảo sát chú trọng đến tham nhũng mà nhiều doanh nghiệp (DN) và người dân trải nghiệm nhưng không nhất thiết là những dạng tham nhũng nghiêm trọng nhất. Thí dụ thu hồi đất đai, quản lư sai hoặc tham ô tài sản nhà nước có thể rất tai hại kể cả khi ít được nêu bật trong khảo sát. Cũng theo nhóm tác giả, các ngành nêu trên có sự cọ xát nhiều nhất với xă hội, do đó những dạng tham nhũng này sẽ gây sự bất b́nh lớn trong công chúng nếu không được xử lư thích hợp.

Tham nhũng làm doanh nghiệp yếu đi

Theo khảo sát, 23% số DN cho rằng họ đă gặp phải một trong các dạng yêu cầu từ phía công chức trong ṿng 12 tháng qua. Khoảng 5% DN nhận được đề nghị bán tài sản với giá rẻ hoặc cho cá nhân công chức thuê tài sản, máy móc, thiết bị. Tỷ lệ các DN nhận được đề nghị chi trả cho các khoản phí nghiên cứu, tham quan hoặc chi tiêu cá nhân cũng ở mức tương tự (5,4%). Khoảng 8% số DN nhận được đề nghị tuyển dụng họ hàng hoặc người thân của CBCC. Có tới 15,3% số DN đă trải qua t́nh huống trong đó CBCC lợi dụng quyền lực, tên tuổi hoặc uy tín đơn vị họ để gợi ư DN trả tiền hoặc tặng quà.

Khi được hỏi về những khó khăn mà các cơ quan nhà nước hay gây ra, có 50% số DN đă khẳng định, nửa c̣n lại cho biết không gặp khó khăn nào hoặc không nhớ. Trong số các DN trả lời, 63% cho rằng công chức cố t́nh kéo dài thời gian giải quyết công việc, 58% cho biết công chức không hướng dẫn cụ thể thủ tục nhưng cố t́nh soi xét, bắt lỗi để từ chối giải quyết và 28% cho rằng công chức bám vào các quy định không chặt chẽ, không rơ ràng để bắt bí DN.

Để xử lư các khó khăn này, 78% DN chọn cách tiếp tục chờ đợi, 86% DN sẽ đưa ra các lư lẽ thuyết phục để cơ quan quản lư giải quyết. Đáng chú ư có khoảng 51% DN nhờ người có ảnh hưởng tác động để giải quyết và 59% DN chọn cách đưa quà hoặc tiền cho cán bộ có thẩm quyền giải quyết. Chỉ có 13% DN t́m đến các cơ quan bảo vệ pháp luật và chưa tới 6% đề nghị cơ quan báo chí can thiệp.

Kết quả khảo sát cũng cho thấy, ít nhất 10% DN đă khẳng định bị gây khó khăn khi sử dụng các dịch vụ công do các cơ quan nhà nước cung cấp. Hải quan, CSGT và cơ quan thuế đều bị ít nhất 30% số DN điểm danh là các cơ quan gây khó khăn. Ba cơ quan hay gây khó khăn nhất được nêu ra gồm có cơ quan thuế (58%), các cơ quan quản lư chuyên ngành (23%), CSGT (21%) và tài nguyên môi trường (20%).

 
 

 

Image

Các vấn đề bức xúc nhất đối với Việt Nam, theo quan điểm của CBCC, doanh nghiệp và người dân

(%)

Một điều lư thú được phát hiện qua khảo sát này đó là các DN đưa hối lộ lại không hề có hoạt động kinh doanh tốt hơn. Tính trung b́nh các DN có hối lộ trong ṿng 12 tháng qua trên thực tế tăng trưởng chậm hơn các DN không làm việc này. Tác động này có rơ nét hơn khi t́m hiểu cách thức DN xử lư các khó khăn. Nh́n chung các DN tăng trưởng nhanh nhất là các DN thường xuyên không phải đối phó với các khó khăn do cơ quan nhà nước đưa ra. Các DN thường xuyên áp dụng chiến thuật hối lộ th́ kết quả trung b́nh không tốt lên mà thậm chí c̣n tồi đi.

Theo nhóm tác giả, văn hóa tham nhũng trong đó các DN phải thường xuyên sử dụng các khoản chi không chính thức đang cản trợ sự tăng trưởng của cả khu vực DN. Xét kết quả tăng trưởng trung b́nh của các tỉnh/thành phố, địa phương có nhiều DN đưa hối lộ th́ nh́n chung cũng là những địa phương mà DN đánh giá họ tăng trưởng chậm hơn.

 

Không tin vào hiệu quả phát hiện tham nhũng

Cuộc khảo sát cho thấy hơn 90% người được hỏi tin rằng đối tượng tham nhũng chưa phải chịu những h́nh phạt đích đáng. 80% đối tượng trả lời trong cả ba nhóm đều cho rằng chưa có chú trọng làm trong sạch đội ngũ cán bộ và 76-82% cho rằng các biện pháp pḥng chống tham nhũng c̣n dàn trải, thiếu trọng tâm trọng điểm. 75% CBCC và 85% hai nhóm đối tượng c̣n lại đồng ư là người có thẩm quyền chưa thực sự quyết tâm.

80% người dân được hỏi tin rằng có sự tiếp tay giữa công chức và đối tượng tham nhũng, 87% cho rằng một số cấp trên bao che cho cấp dưới có hành vi tham nhũng và 76% nghĩ rằng CBCC thiếu năng lực. Đối với mẫu cho CBCC và DN, các con số này đều thấp hơn 75% .

Hầu hết CBCC tin tưởng vào các cơ quan chức năng. Mức độ tin tưởng cao nhất là đối với cơ quan kiểm tra của Đảng, tiếp đến là cơ quan thông tấn, báo chí. Đáng lưu ư là mức độ không tin tưởng vào hiệu quả phát hiện tham nhũng của bất cứ cơ quan nào cũng đều rất thấp.

Khảo sát được tiến hành tại 10 tỉnh/thành phố gồm: Hà Nội, TP.HCM, Sơn La, Hải Dương, Đồng Tháp, Nghệ An, Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng, Hải Pḥng và Cần Thơ.

Tổng cộng có 2.601 người dân, 1.058 DN và 1.801 CBCC (trong đó 95% thuộc các cấp chính quyền địa phương, 5% là CBCC của các bộ, ngành) được khảo sát.

Cuộc khảo sát được tiến hành dựa trên các nguyên tắc căn bản gồm: tập trung vào các đối tượng có nhiều trải nghiệm nhất trong giao dịch với các cơ quan công quyền; tôn trọng tối đa tính ngẫu nhiên trong quá tŕnh chọn mẫu; tất cả các buổi khảo sát đều là phỏng vấn, đối thoại trực tiếp với cá nhân đối tượng trả lời; theo dơi và giám sát chặt chẽ tất cả các bước của quá tŕnh khảo sát để đảm bảo chất lượng.

Ng.Phong