Thiền đă đi vào văn hóa Việt

                            với cái Giá trị của nó

                                    Người sưu tầm:  PXK

 

Thiền đă đi vào văn hóa Việt  từ  ngày Môn phái Yoga Ấn Giáo, Phật Giáo và  Lăo Giáo du nhập Việt Nam. Có lẽ thời gian đó vào khoảng thế kỷ 2 sau tây lịch. Ngày nay giá trị củaThiền được  thế giới công nhận, nên  thiền đă trở thành phong trào vượt qua ngưỡng cửa tôn giáo.  Xin mời độc giả  đọc  một chút tài liệu về thiền

I- Ư nghĩa của Thiền

Thiền bắt nguồn từ triết học Ấn Độ

Chữ Thiền (zh. chán , ja. zen), là do chữ Thiền-na phiên âm theo tiếng Trung Hoa từ dhyāna " một tiếng Phạn. Thiền-na nghĩa chính : tư duy, tập trung lắng đọng (to think of, imagine, contemplate, meditate on, call to mind, recollect.)

Thiền-na được Phật  Học Tự Điển dịch là Thiền Định.   Theo  Phật Học th́ Thiền Định  bao hàm ư nghĩa :  Tập trung tư tưởng vào một đối tượng duy nhất, không cho tán lọan, để cho tâm thể được vắng lặng, tâm dụng được sáng tỏ, mạnh mẽ, đặng quan sát và suy nghiệm chân lư

Thiền là sự hướng dẫn con người đạt một tâm trạng b́nh yên, lắng đọng. Để đạt được thiền th́ cần phải thực hành các phương pháp.   Khi thực hành tốt các phương pháp  th́ thiền sẽ xảy ra tự nhiên. Không thực hành các phương pháp th́ thiền sẽ không xảy ra.  Khi thiền  xảy ra th́ cảnh giới của cứu cánh Thiền là 1 cảnh giới tuyệt vời : con người sẽ được tự do hoàn toàn, an b́nh và sáng tỏ, vượt thoát hết mọi sự chi phối của hoàn cảnh sống,  sẽ không c̣n khổ đau, sẽ tự tại và phúc lạc bền vững với 1 tâm thức luôn tỉnh giác sáng tỏ mà không phụ thuộc vào sự vật, đối tượng bên ngoài. Cảnh giới này được gọi là giác ngộ giải thoát .

Một trong những trạng thái của thiềnđịnh là giữ cho được tâm không, hay là trạng thái hư không. Mà trạng thái hư không là trạng thái của Thượng Đế, hay Đức ChíTôn, hay là Phật tánh. Đạt được trạng thái này là đạt tới sự hiệp nhứt cùng Thượng Đế.

 

Đối với Yoga th́

Ư chí cương quyết tu tập Thiền sẽ dẫn hành giả đạt sự thống nhất với "Thượng đế", với cái "Tuyệt đối ", t́m được thần ngă của ḿnh

 

Đối với Lăo Giáo th́

Ư chí cương quyết tu tập Thiền sẽ dẫn hành giả siêu thăng đến mức hiệp nhất với Thượng Đế. Thượng Đế ngự trị trong Nê Hoàn Cung nơi óc năo con người.

 

Đối với Thiền Tông th́

Ư chí cương quyết tu tập Thiền sẽ dẫn hành giả đạt được  trí huệ sáng tỏ, minh tâm kiến tánh thành Phật, rơ chơn lư của vũ trụ. 

 
   

II-               Các loại thiền

Phật Học Phổ Thông  có đề cập tới rất nhiều loại Thiền.  Tuy nhiên  ở đây chúng tôi xin  đề cập chỉ  3 loại thiền  liên hệ đến văn hóa Việt .

 

1-   Thiền của Giáo phái Yoga Ấn Giáo:

Theo Yoga, mỗi người có một  Thần ngă  và một Nhân Tâm. Thần ngă th́ bất biến v́ nó là một phân thân của  Bản Thể Vũ trụ ( Thần Ngă Tuyệt Đối, cũng được gọi là  Thượng Đế). Đời sống con người đầy những phiền trược làm cho họ quên cái thần ngă của ḿnh

Yoga = con đường  t́m lại thần ngă  của ḿnh qua các tầng lớp Thân, Tâm hay là con đường đưa tới phối thiên, kết hợp với Thượng Đế.  Như vậy, đối với Yoga,  Giải thoát chính là sự  thoát ly của thần ngă  nơi con người ra khỏi sự phiền trược của vật thể, của tâm, thân; hay   Giải thoát chính là  sống phối kết  với Thượng Đế.    Luân Xa Shasrara Chakra (Bông hoa sen ngh́n cánh) ở thóp đỉnh đầu là nơi người Đạo Sĩ có thể kết hợp với Thượng Đế 

 2-  Thiền của Lăo Giáo 

Theo  quan niệm Lăo Giáo th́ con  người có : Xác, Hồn, Thần hoặc Tinh K Thần  hoặc   Thân Tâm Ư   (Tinh th́ sinh bởi Thân, Khí th́ tàng ở Tâm, Thần th́  ẩn  trong Ư )

 

Tinh .  

Tinh th́ sinh bởi Thân. Tinh chất dinh dưỡng hấp thụ từ tinh hoa đồ ăn chuyển hoá  qua ngũ tạng, lục phủ  và  thận mà dinh dưỡng Thân.   Nếu ngũ tạng hưng thạnh th́ tinh tràn đầy. Nếu tinh tràn đầy th́ thân không sợ bệnh hoạn.

 

KHÍ:

Có hai loại Khí: khí hậu thiên khí tiên thiên

Khí hậu thiên tức là  khí trời hít thở vào phổi và khí hoá sinh ra trong thức ăn thức uống. 
Khí tiên thiên tức là  khí chứa ở thận. Nó bao gồm khí nguyên âm (thận âm) và khí nguyên dương (thận dương) bẩm thụ ở tiên thiên, nên c̣n gọi là nguyên khí.

Hai khí tiên thiên và hậu thiên hỗn hợp với nhau thành 4 thứ khí: nguyên khí, tôn khí, dinh khí và vệ khí.

Nguyên khí, chứa ở thận. Tôn khí (thượng tiêu ) chứa ở Thượng khí hải tại giữa ngực   Hai khí này  kết hợp nhau mà nuôi dưỡng cả cơ thể. Ta gọi chung cả hai là chân khí. Chân khí làm cho cơ thể khỏe mạnh.

Dinh khí (Trung tiêu) là thứ khí của thức ăn uống thuộc âm. Âm tính nhu thuận cho nên dinh khí đi ở trong mạch. C̣n Vệ khí (hạ tiêu) là khí mạnh trong đồ ăn uống nên thuộc dương đi ngoài mạch. 

Khi ta luyện khí , th́ âm dương ức chế lẫn nhau. Nếu tôn khí, dinh khí, vệ khí bất hoà trở ngại, ta sẽ bị bệnh. Người  Đạo  Sĩ  cốt luyện diệt âm khí. Âm khí là trược khí, làm cho nặng nề, tối tăm, ưa thích điều dâm dục, làm hao tổn tinh thần.  Diệt được Âm Khí, th́ chỉ c̣n cái khí thuần dương (chân khí)  đi lên đỉnh đầu, tức là có thần thông và đắc đạo.

 

THẦN:

Thần thời xuất phát từ Bản Thể Vũ Trụ mà Lăo Giáo gọi là Đạo.  Từ ngữ Đạo Đức được Lăo Giáo dùng để chỉ   dung mạo của Đạo.  Người  đạo đức là người  sống theo quy luật thiên nhiên, chấp nhận những thuận cảnh cũng như những nghịch cảnh của đời sống., không oán thán, mà luôn luôn thoải mái.  Thiên lư từ Đạo chính là  Quy Luật thiên nhiên. Thần là huyền bí của đại năo con người. Thần biểu hiện sức sống. Thần sung măn th́ ngứ khỏe mạnh, thần suy kém th́ người yếu đuối. Thần chủ đạo việc phối hợp khí hóa âm dương mà ta thường gọi là thần khí , thần sắc. Nếu thần khí, thần sắc c̣n, th́ con người c̣n sống.. 

 Laơ Giáo chú trọng  đến đại năo con người.. Nơi đại năo Nê Hoàn Cung chính là Thiên tâm nơi Thượng Đế ngự trị. Đó là nơi mà con người có thể siêu thăng để kết hợp với Thượng Đế. Nê Hoàn Cung của Lăo Giáo chính là Luân Xa Sahasrara Chakra của môn phái Yoga. Các Đạo Gia hiện đại suy rằng gian năo nếu suy th́ con người sẽ già đi, cho nên cần bồi bổ gian năo cho con người cải lăo hoàn đồng.

Tinh khí thần là nguồn gốc sinh mạng của con người. Cái mạng con người bắt đầu từ tinh, sống được là nhờ khí, mà chủ sinh mạng lại là thần.

Việc luyện tinh khí thần là tập cho con người tính điềm đạm ,vui tươi, ḷng nhân ái, có những suy nghĩ tốt , bỏ tư tưởng xấu xa, tăng cường hoạt động nội tạng mà c̣n sửa ḿnh , trừ khử các bịnh và diệt thất t́nh, lục dục nữa, v́ giận th́ hại can,  mừng quá hại tâm, lo nghĩ hại tỳ, buồn quá hại phế, sợ hăi hại thận. 

 
 

 

3- Thiền của phái Thiền Tông Phật Gíao Đại Thừa  

Thiền tông lấy pháp môn tham thiền nhập định làm căn bản tu hành. Thiền định là một phương pháp giải thoát khỏi ṿng đau khổ của cuộc đời.

Thiền Tông chủ trương rằng tất cả chúng sinh, trăi qua bao kiếp luân hồi, trong biển khổ v́ bị vô minh mê hoặc.   Vô minh mê hoặc  v́ bị thất-t́nh, lục-dục, bát phong xuy động. Cái tâm của chúng  sinh hằng giờ hằng phút bị gió lục-trần  làm chao động. V́ tâm chao động (không định) nên ánh sáng trí huệ không thể tỏa ra.  V́ ánh sáng trí huệ không tỏa ra, nên không xé tan được mây vô-minh hắc ám ở chung quanh. 

Vậy hành-giả muốn rơ chân lư của vũ trụ, muốn được minh tâm kiến tánh thành Phật, th́ phải phá trừ mây vô minh hắc ám.  Muốn phá trừ vô minh hắc ám, hành-giả phải làm sao cho đèn trí huệ của ḿnh được sáng tỏ. Muốn thế hành-giả phải tu thiền-định.

 
 

 

Thiền của Thiền Tông  có thể chia làm hai loại lớn

1.- Một loại thường gọi là tam-muội, căn cứ theo kinh sách của Phật Tổ truyền dạy mà tu tập, có phương-pháp nhất định, như Pháp-hoa tam-muội, Niệm Phật tam-muội, Ban-châu tam-muội, Giác-ư tam-muội, Thủ-tăng-nghiêm tam-muội.

2.- Một loại thứ hai, được gọi là loại thiền '' Dĩ tâm ấn tâm, trực chỉ nhơn tâm kiến tánh thành Phật '': Vị minh-sư dùng tâm ḿnh đễ tiếp xúc với tâm đệ tử, truyền thẳng sự giác ngộ của ḿnh qua tâm đệ-tử. 

 Cách thiền định  của loại thứ hai  này có hai lối

1- Tham thiền:

Tham thiền là tham cứu câu thoại đầu (câu nói thiền) v.v.. Câu Thoại đầu là một đề án hay luận án gồm một câu rất ngắn, nhưng ư -nghĩa sâu-xa.   

Vị Tổ của phái Thiền-Tông trao cho vị đệ-tử một câu thoại-đầu (một luận-án),. Vị đệ-tử đêm ngày tham cứu câu thoại-đầu ấy, có nhiều khi trải qua một thời gian mười năm hoặc mười lăm năm mới tỏ ngộ được. Sau khi xét thấy đệ-tử của ḿnh đă tỏ ngộ đạo mầu rồi, vị Tổ-sư mới ấn chứng cho.

 

2.- Quán tưởng ( cũng gọi là Chỉ quán  hoặc Định huệ )

Tập trung tư tưởng để quan sát cho sáng tỏ chân lư về một vấn đề ǵ.  Hay nói cách khác: đ́nh chỉ các vọng tưởng, không cho khởi động để mà  quan sát cho sáng tỏ một vấn đề ǵ

 Ví dụ:    Vị Tổ-sư không nói ǵ cả, chỉ dùng thiền-tượng (roi thiền) đánh dập vị đệ-tử, để xem đệ-tử phản ứng như thế nào. Do sự phản ứng mà vị Tổ-sư biết được vị đệ-tử kia đă giác ngộ hay chưa.

 
   

III-Phương pháp Thiền

 

  Phần Nguyên tắc chung cho  cả  Yoga, Lăo Giáo và Thiền Tông:

 

1- Chuẩn bị thiền: 

 Kiêng  Ngũ giới: Không sát sinh, không trộm đạo, không tà dâm, không nói  dối, không tham lam

 2- Khi thiền:  Lắng đọng tâm hồn và  tập trung tư tưởng vào cơi hư không

  Phần thực hành

A-  Phái  Yoga

-Điều thân

Tọa pháp (posture) :  tư thế ngồi để định thần là giữ cho xác thân hoàn toàn thoải mái.  Cách thường dùng nhứt là ngồi thoải mái hoặc là trên sàn nhà, hoặc trên gối, hoặc trên ghế, lưng thẳng, mắt lim dim hoặc nhắm lại để khỏi bị ngoại cảnh quấy rầy. Tất cả các bắp thịt của cơ thể phải hoàn toàn thư dăn. phải chú tâm luyện cho xương sống giản ra, các khớp xương được thông và thẳng qua các huyệt,. để cái thần lực trong con người lưu thông tới đỉnh đầu.

-Điều khí

   Giai đoạn 1

Điều tức (respiration control) : điều ḥa hơi thở. Hít vào và thở ra nhẹ nhàng.

Tập  trung tư tưởng vào hơi thở là phương pháp đầu tiên để cho tư tưởng không bị quấy rối bởi tạp niệm

 

  Giai đoạn 2

 Vận  chuyển Chân khí .   Chân khí  là nguyên khí có sẵn  nơi ngũ tạng của con người  .Theo Yoga  th́ Chân khí qui tụ về   Luân Xa để  vào đường kinh chạy qua Tuỷ xương sống lên tới Năo thất Ba  Thóp đỉnh đầu con người. Thóp đỉnh đầu được gọi là  Thượng Đế huyệt.  Chung quanh  tuỷ xương sống có 2 đường thần kinh Âm Dương quấn quanh,  một đường lên một đường xuống

Từ xương  cùng  cuối xương sống, lên tới Năo thất Ba của Óc  con người, có tất cả  7 Luân Xa chính.

1- Luân xa  Thổ Đại ( Muladhara) cuối xương sống) có h́nh hoa sen 4 cánh. Cuối xương sống ( huyệt vĩ lư) được gọi là Cánh cửa của Brahma.

2-Luân xa Thuỷ Đại  (Swadhistana)  giữa đốt xương cùng và thắt lưng , h́nh bông sen 6 cánh

3-Luân xa  Hỏa Đại( Manipura), h́nh hoa sen 10 cánh

4-Luân Xa Khí Đại ( Anahata)  ngang tim h́nh sen 12 cánh

5- Luân xa Không Đại ( Visuddhi)  ngang cổ  h́nh bong sen 16 cánh

6-Luân xa Thức Đại ( Agna)    giữa trán, h́nh hoa sen 2 cánh

7-Luân xa Kiến Đại ( Sahasrara) khoảng năo thất  Ba, giữa các xương năo) h́nh hoa sen ngh́n cánh. Bông sen ngh́n cánh  là tượng trưng  cho óc năo con người.  Ở giữa hoa sen ngh́n cánh  chính là nơi  Thần Trời và thần người kết hợp.

 
 

 

Bảy Luân xa ấy bị chướng ngại bế tắc. v́ sự si mê và các thứ dục vọng che lấp, và v́ thân thể không luyện tập, xương sống bị cong đi,  khiến cho cái Chân khí (chổ hậu môn) không thể lên được.

Phép vận chuyển khí qua Tuỷ xương sống của Yoga rất giống với phương pháp vận chuyển khí qua mạch Nhâm Đốc của Đạo lăo

-Điều thần

 a/-Chế cảm để tâm thần khỏi bị ngoại cảnh chi phối ( withdrăwal of senses organs)

 b/- Chấp tŕ= bất động tâm ( fixation of thoughts : chuyên tâm về một điểm ǵ  trong ngoài con người ;  chẳng hạn  Số phận con người.

 c/  thiền định: tinh thần càng ngày càng  tập trung vào đề tài nêu trên

  d/- Thần  hoàn toàn được tập trung  và thoát ly khỏi ṿng kiểm tỏa của thân tâm.Tâm ư lần lần trở nên an hoà một cách tuyệt đối để rồi sau đó đạt đến trạng thái hư vô.

 
   

B-  Lăo Giáo

-Điều thân

Tọa pháp (posture) :  giống như Yoga,  tư thế ngồi để định thần là giữ cho xác thân hoàn toàn thoải mái.  Cách thường dùng nhứt là ngồi thoải mái hoặc là trên sàn nhà, hoặc trên gối, hoặc trên ghế, lưng thẳng, mắt lim dim hoặc nhắm lại để khỏi bị ngoại cảnh quấy rầy. Tất cả các bắp thịt của cơ thể phải hoàn toàn thư dăn. phải chú tâm luyện cho xương sống giản ra, các khớp xương được thông và thẳng qua các huyệt, để cái thần lực trong con người lưu thông tới đỉnh đầu

-Điều khí

Điều tức : điều ḥa hơi thở. Hít vào và thở ra nhẹ nhàng.  Đạo Lăo chuyên chú luyện khí

 

Giai đoạn 1  

Lúc khởi đầu Thiền ở giai đoạn thấp, đạo gia hít thở thông thường. Lúc này chỉ thở phàm khí  qua phổi mà thôi.   Thế rồi tiến lên mức thượng thừa, đạo gia bắt đầu vận chuyển chân khí qua hai mạch Nhâm Đốc. Khi đó th́ tốc độ thở phàm khí nơi phổi dần dần đ́nh lại.

 
   

Giai đoạn 2

 Vận  chuyển Chân khí qua hai mạch Nhâm Đốc :

 

Chân khí gồm có Nguyên khí, chứa ở thận v à Tôn khí (thượng tiêu ) chứa ở Thượng khí hải tại giữa ngực. Chân khí là dương khí  đi  lên qua mạch Đốc.

 Mạch Đốc là mạch khởi từ huyệt Vĩ Lư, cuối xương sống, thông qua tuỷ xương sống vào Nê Hoàn Cung tại Đại Năo, ṿng qua đỉnh đầu vào tận cùng nơi huyệt Ngân Giao (tức là nơi tiếp giáp phía trong môi trên và lợi trên),

 C̣n mạch Nhâm là mạch khởi từ huyệt Thừa Tương nơi chỗ lơm, phía môi dưới, chạy  thẳng theo lằn giữa cổ, ngực, bụng vào tận cùng huyệt Hội Âm ( giữa Cốc Đạo và Âm Hành).

 Mạch Đốc làm công việc  vận chuyển Chân khí  l ên Nê Hoàn Cung.

C̣n mạch Nhâm vận chuyển Chân khí  t Nê Hoàn Cung xuống  Hạ Đan Điền nơi rốn và dưới rốn

 

-Điều thần

 

a/-Chế cảm để tâm thần khỏi bị ngoại cảnh chi phối

b/- Chấp tŕ= bất động tâm ( chuyên tâm về một điểm ǵ  trong ngoài con người. Chẳng hạn đạo gia suy nghĩ về  đề tài “ Sống theo Thiên Lư”

c/thiền định: tinh thần càng ngày càng  tập trung v ào đề tài trên

d/: Thần  hoàn toàn tập trung  và thoát ly khỏi ṿng kiểm tỏa của thân tâm.

 Tâm ư lần lần trở nên an hoà một cách tuyệt đối để rồi sau đó đạt đến trạng thái hư vô.:kết hợp với Thượng Đế, sống thanh thản vô vi  không vương vấn sự dời

 

C- Thiền Tông

Điều thân

Tọa pháp (posture) :  tư thế ngồi để định thần là giữ cho xác thân hoàn toàn thoải mái.  Cách thường dùng nhứt là ngồi thoải mái hoặc là trên sàn nhà, hoặc trên gối, hoặc trên ghế,lưng thẳng, mắt lim dim hoặc nhắm lại để khỏi bị ngoại cảnh quấy rầy. Tất cả các bắp thịt của cơ thể hoàn toàn thư dăn.

-Điều khí

 Điều tức (respiration control) : điều ḥa hơi thở. Hít vào và thở ra nhẹ nhàng.

Tập  trung tư tưởng vào hơi thở là phương pháp đầu tiên để cho tư tưởng không bị quấy rối bởi tạp niệm

Điều thần

 a/-Chế cảm để tư tưởng không bị quấy rối bởi tạp niệm.Khi đó tâm ư lần lần trở nên an hoà .Lúc này vị tu hành bắt đầu tham cứu câu thoại đầu (câu nói thiền) v.v.. Câu thoại đầu là một đề án hay luận án gồm một câu rất ngắn, nhưng y-nghĩa sâu-xa .   Chẳng hạn vị tu hành suy nghĩ về  đề tàiquán từ bi”. 

 b/-Thế rồiThiền Định  diễn ra .Tâm thức vị tu hành trải qua nhiều giai đoạn:

Giai đoạn một: buông xả ḷng tham dục

Nội tâm yên lặng , vị tu hành tỉnh táo chú tâm vào quán từ bi” 

Giai đoạn hai:  tâm thức trở nên sắc sảo chú tâm nh́n thế giới hiện hữu rơ ràng như nó là, biết ḿnh là ai, ở đâu   trong tinh thần quán từ bi” 

Giai đoạn ba: tâm cảm nhận sự nhẹ nhàng khoan khoái.

Giai đoạn bốn, vị tu  hành an trú trong sự xả bỏ và tỉnh giác, khám phá ra bản thể thật sự của ḿnh  hướng về từ bi hỷ xả .

 
   

IV-  Nhận định về phương pháp của ba môn thiền định

Về phần nguyên lư

   Cả ba môn thiền định đều cùng giúp  hành giả đạt đến cảnh giới hư vô.:

  -Yoga chú trọng t́m lại thần ngă của  ḿnh 

   -Phật Giáo chú trọng “Hư vô tịch diệt” giữ ḷng không cho xao động, 

           diệt tham vọng  thể hiện  bản thể thật sự của ḿnh  hướng về từ bi hỷ xả .

 

  - Lăo Giáo chú trọng  “thanh t ịnh vô vi” để  theo Thiên Lư, quyết không để tâm lưu luyến hồng

             trần, tức lánh trần

Về phần thực hành 

Pháp môn  Yoga  và Lăo Giáo chú trọng  đưa luồng chân khí qua  các luân xa để sau cùng mở được huyền quan khiếu.   C̣n pháp môn Phật giáo không thấy đề cập đến các luân xa, mà chỉ tập trung tinh thần vào một đề tài hoặc một cảnh giới.

 
 

 

V-  Các pḥng yoga hiện tại

Phần đông các  pḥng yoga hiện tại lơ là về điều thần tức là phần quan trọng nhất của thiền định mà chỉ chuyên về thể dục của cơ thể, nghĩa là chú trọng về điều thân và điều khí,

Về điều thân  

Nói đến thiền chúng ta nghĩ ngay đến ngồi thiền: bán già, kiết già. Thực ra chúng ta có thể tập  thiền trên mọi tư thế (đi, đứng, nằm, ngồi...), mọi lúc (khi làm việc, lúc nghỉ ngơi...)    Tuy nhiên, Thiền và Yoga thường khai thác cách ngồi kiết già (ngồi xếp hoa sen, để hai bàn tay ngữa phía dưới Đơn điền) để chữa mỏi mệt. 

Giữ lưng  thẳng đứng khi ngồi thiền chữa trị đau cột sống rất hiệu quả, nếu  kết hợp với thở bụng cũng có thể làm chậm lăo hóa.

Hai vai không lay động, v́ nếu nhúc nhích sẽ làm cản trở động tác hô hấp. . Hai mắt phải lim dim hoặc nhắm hẳn lại để dễ dàng tập trung ư tưởng vào Hạ khí hải (tức Đơn điền). Nhờ đó ta tưởng tượng khí lọt vào mũi nhẹ nhàng làm bụng ph́nh lên, xẹp xuống. Tới một lúc, ta cảm hấy hơi thở dương khí lôi cuốn ḿnh đi…và ta sắp bước sang trạng thái khoan khoái kỳ lạ phiêu diêu.

 

Về điều khí các pḥng yoga chú trọng  luyện khí thể nào?

 

CÁCH THỞ

 

1-Thở sâu và thong thả: 
Khi thở ra, khí dơ trong các phế nang được thải ra hết.
Khi hít vào, khí trong lành phải đi qua mũi đủ thời gian điều ḥa nhiệt độ của không khí và đủ thời gian khi đi vào tận phế nang sâu nhất. Chính v́ thế mà ta phải thở sâu và thong thả mới bảo đảm sự trao đổi khí bên trong cơ thể được trọn vẹn. 

2-Thở êm nhẹ:
Biểu hiện sự thoải mái trong tâm hồn,
khí thở ra hoặc hít vào không có tiếng động, người ngồi bên cạnh không nghe được hơi thở của ta. Hăy đặt một cái lông trước lỗ mũi, nếu hơi thở lay động cái lông, tức hơi thở chưa êm nhẹ 

 

3- Thở đều nhịp:

V́ các cơ quan trong thân thể đều phụ thuộc vào nhịp thở và nhịp tim và tuân theo một nhịp điệu nhất định để giữ thế cân bằng, ổn định sinh lư. Hai loại nhịp nầy quan hệ mật thiết với nhau. Do đó thay đổi nhịp thở mau hay chậm hưởng đến hoạt động sinh lư của tim, tốt hay xấu tùy theo nhịp thở. Vậy phải giữ đều nhịp thở từ đầu đến cuối lúc luyện khí, 8 lần trong một phút là tốt.

 

 

THỞ BẰNG MŨI

 

Thở ra và hít vào đều bằng mũi , v́ mũi là bộ máy điều ḥa không khí của thân người,  không khí hít vào được những nếp gắp trong hốc mũi hấp nóng , cản bụi, tạo đủ điều kiện đề vào phổi 

Nếu hít vào bằng mũi, thở ra bằng miệng th́ mạch nhâm mạch đốc bị rời ra và độ nóng không khí dần dần mất nhiệt nên sẽ bị lạnh, gây ra sổ mũi hay sưng phổi. C̣n thở ra bằng mũi th́ nhiệt độ được bảo toàn giúp cho mũi điều hoà được không khí hít vào . 
Mũi c̣n có vai tṛ điều tiết lưu lượng không khí hít vào và thở ra. Nếu thở bằng miệng thường làm thay đổi tỉ lệ đó và làm mất cân bằng hoạt động hô hấp. 
Thở bằng miệng chỉ nên dùng trong trường hợp khẩn cấp do cơ thể đ̣i hỏi mà thôi. 
Thở bằng mũi c̣n có lợi là v́ các đầu dây thần kinh khứu giác tập trung bên trong đó, giúp ta phân biệt được mùi hương để khám phá mọi sự thay đổi ô nhiểm của không khí mà cơ thể có phản ứng tự vệ tức thời.

THỞ BỤNG

Luôn luôn thể hiện ph́nh bụng hít vào, xẹp bụng thở ra cho hết thán khí.   Thở sâu, thong thả, nhẹ nhàng và đều nhịp. thở như vậy để trái tim được thong thả.

Nếu muốn thiền định cho có kết quả

Sau một ngày làm việc chúng ta cần có một nơi yên tĩnh, để thiềnđịnh ít nhất 30 phút, lư tưởng là 60 phút, hoặc lâu hơn tuỳ theo khảnăng của ḿnh. Nếu thuận tiện th́ thiền định càng nhiều lần càng tốt.    

 
   

VI-Giá trị của Thiền

      theo nhận định của giới Y Khoa và giới Khoa học

 

1- Bộ năo phục hồi khả năng tự điều chỉnh, tự hoàn thiện nh ngồi thiền

Khi ngồi thiền, nhịp thở chậm lại, nhịp tim và huyết áp giảm xuống, sóng năo hạ thấp, cơ thể an tĩnh,  bộ năo được nghỉ ngơi,.  Đó  là  kết quả   cuộc  nghiên cứu của Giáo sư Herbert Benson, trường Đại học Harvard năm 1967 với 36 người  ngồi thiền  và  của hai Giáo sư người Nhật Kasamatsu và Hirai  với  thiền sư Soto ngồi thiền . 


2-Thiền phát triển trí năo và làm chậm sự lăo hoá

Bà Sara W. Lazar, Giáo sư trường Đại học Harvard, là người đồng nghiên cứu với Tiến sĩ Benson tại Bệnh viện Massachusettes General Hospital (MGH).  Nghiên cứu nầy dựa trên những người  từ 25 đến 50 tuổi, ngồi thiền 40 phút mỗi ngày.  Bà Lazar  cho biết thiền làm gia tăng độ dày của phần vỏ năo phía trước trán, tương phản với quá tŕnh thoái hoá năo ở người già.  Như vậy thiền giúp gia tăng chức năng của bộ năo, tăng cường khả năng tập trung tư tưởng và cải thiện lăo hoá.  thiền giúp năo bộ có thể nhận biết, thích ứng và tự điều chỉnh các phân tử và các tế bào trên cơ sở kinh nghiệm và sự luyện tập.   

3-Thiền là liệu pháp trị các bệnh tâm thể

Thiền là biện pháp đối trị hửu hiệu đối với  các chứng bệnh do căng thẳng tâm lư gây ra. Thiền làm giảm sự căng cơ, giúp giải toả sự lo âu, bất an, đặc biệt là làm giảm họat hoá các nội tiết tố stress.
Nhờ vào sự hổ trợ của các thiết bị hiện đại, các nhà khoa học đă xác định được rằng quá tŕnh ngồi thiền đă hoạt hoá được vùng năo trước trán bên trái, nơi mà có những tế bào thần kinh cho những cảm giác phấn khởi, an lạc những tế bào thần kinh nầy đă giúp cho các vị thiền sư dễ an định nội tâm, khó bị kích động bởi những cảm giác hận thù, sợ hải, lo âu. 

 

4-Thiền giúp cải thiện t́nh trạng rối loạn dương cương

Hoạt động dương cương chịu sự chi phối của hệ thần kinh thực vật gồm 2 hệ hoạt động đối nghịch nhau.  Đó  là  Hệ đối giao cảm  và  Hệ giao cảm

 Hệ đối giao cảm làm cho mạch máu nở ra dồn máu để gây cương. 

 Hệ giao cảm làm co mạch máu làm cản trở hoạt động cương. 

 V ́ bị căng thẳng, lo lắng do cuộc sống  người nam dễ bị rối loạn thần kinh thực vật dẫn đến xuất tinh sớm

 Để chữa  bệnh nầy, bên cạnh việc ăn uống hợp lư và vận động tốt, ngồi thiền là biện pháp bổ sung tích cực điều hoà Hệ thần kinh giao cảm để giảm stress và gia tăng năng lực kiểm soát cảm xúc.  Đồng thời ngồi thiền kích động Hệ đối giao cảm nở mạch lưu thông khí huyết, kích hoạt chất Nitric oxide cho hoạt động cương dương.  Nitric oxide là một hoá chất quan trọng có tác dụng làm giăn nở mạch máu trong cơ chế gây cương.  Hít thở sâu và điều hoà hơi thở khi ngồi thiền  làm cho người nam có được sức bền bỉ.” chậm lại sự phóng tinh. 

 

5-Thiền tăng cường hệ miễn dịch

Vào tháng 7/1997, Tiến sĩ Richard Davidson, Giáo sư Tâm lư học trường Đại học Wisconsin đă tiến hành một cuộc nghiên cứuvề tác động của thiền đối với hoạt động thần kinh và khả năng miễn nhiễm trên 48 đối tượng là  nhân viên của công ty kỹ thuật sinh học Promega (phần lớn những người này là những nhà khoa học).  Những người nầy được hướng dẫn thực hành  thiền mỗi lần 3 giờ, mỗi tuần một lần, trong  thời gian 8 tuần lể.  Cuối giai đoạn 8 tuần, những nhân viên ngồi thiền và những nhân viên khác không ngồi thiền đều được cho chích ngừa vaccin cúm.  Ở thời điểm 4 tuần và 8 tuầnsau khi chủng ngừa, tất cả mọi người đều được thử máu để kiểm tra số lượng kháng thể.  Kết quả cho biết số kháng thể đă gia tăng thêm 50% ở những người có ngồi thiền so với những người không ngồi thiền.  Như vậy, cuộc thử nghiệm đă cho thấy việc hành thiền trong một giai đọan ngắn cũng có tác dụng gia tăng hệ miễn dịch.  Quan trọng hơn, khả năng nầy có thể kéo dài một thời gian sau khi ngưng ngồi thiền.

 

 6-Thiền giúp cải thiện hành vi

 .  Nhà tù Tihar ở New Delhi là nhà tù đầu tiên thực hiện chương tŕnh giáo dục tù nhân thông qua những khoá thiền Vipassana 10 ngày từ năm 1975. .

Một cuộc nghiên cứu về tác động của Vipassana, một loại thiền quán niệm hơi thở của Ấn Độ cổ, đối với những tù nhân tại nhà tù Tihar đă được công bố trên tờ the Indian Express số ra ngày 16.12.2006. ở New Delhi.  Họ chọn ra 42 tù nhân t́nh nguyện.  Phân nửa số người trên được hướng dẫn thực hành thiền trong thời gian 10 ngày.  Sau thời gian thí nghiệm, các tù nhân được đánh giá các tiêu chuẩn về ḷng tự trọng, khả năng ổn định cảm xúc và tinh thần trách nhiệm đối với xă hội.  Điều ghi nhận được là tất cả những người đă trải qua khoá thiền đều có kết quả tích cực hơn nhiều so với những người không ngồi thiền

 
 

 

 7-Thiền giúp nâng cao chỉ số thông minh cảm xúc(Emotional Intelligence)

Các nhà nghiên cứu khẳng định thông minh cảm xúc là yếu tố quyết định sự thành công của những người này.  Thông minh về mặt cảm xúc (Emotional Intelligence) hay chỉ số thông minh cảm xúc (Emotional Quotient) là kỹ năng của một người về việc cảm nhận, đánh giá và quản lư cảm xúc của cá nhân ḿnh, của đồng sự hay của đối tác để có được hiệu quả tối đa trong công việc cũng như trong giao tiếp xă hội.

 

 Hành thiền có thể giúp gia tăng khả năng kiểm soát cảm xúc, ḷng tự tin  và niềm hứng khởi trong công việc. Do đó, thiền  là khâu quan trọng nhất để nâng cao chỉ số thông minh nầy. 

 

 8-Thiền và cảm giác hợp nhất với vũ trụ

Khi đề cập đến thiền, đến yoga, người ta thường nói đến sự Hợp nhất giữa thân và tâm, giữa con người và bối cảnh chung quanh và cuối cùng là sự hợp nhất giữa cái tôi hửu hạn và cái vô cùng của vủ trụ vạn hửu

 

Qua nghiên cứu  bộ năo, các nhà khoa học cho rằng cảm giác hợp nhất và vô giới hạn  có liên quan đến thuỳ đỉnh năo.  Năm 1973, Tiến sĩ Gregg Jacobs, một chuyên gia Tâm thần học thuộc Đại học Harvard qua ghi nhận sóng năo và ảnh chụp bộ năo của những người ngồi thiền cho biết qúa tŕnh thiền  làm giảm hoạt động ở thuỳ đỉnh năo, nơi phụ trách các cảm giác về không gian và thời gian.  Bằng cách “tắt” thuỳ đỉnh năo, hành giả sẽ có khuynh hướng mất đi cảm giác giới hạn để tiến đến sự hoà hợp và thấy ḿnh và vủ trụ trở thành một.

 

 

Kết luận

 

Tóm lại, dù thiền ngắn hạn hay dài hạn, ảnh hưởng của thiền đối với việc cải thiện các điều kiện tâm lư hoặc thể chất là điều rất rơ ràng.  Bác sĩ Stephanie Steven, một chuyên gia về tim mạch viết  trên báo Danvers Herald, MA, Mỹ ngày 12.1.2006 “Thiền định làm cho cơ thể b́nh lặng và an định, áp suất máu giảm , nhịp tim chậm lại.  Quá tŕnh thiền khiến một số biến đổi tâm thể lư xảy ra giúp cải thiện sức khoẻ, giảm đau đớn, giảm căng cơ, giảm tính cáu kỉnh, gíup ăn ngon và tăng cường hệ miễn dịch”.  

 Chính v́ vậy, ngày nay Du già( Yoga) được phổ biến qua các nước Âu -Mỹ. Phần đông cho đó là một phương pháp thể dục, để luyện cho thân thể được khỏe mạnh, trí huệ được sáng suốt, để tính toán và làm việc được nhiều và hiệu quả.

 Một số người khác , cho đó là một phương pháp thể dục, để được sống lâu, trẻ măi, vượt ra khỏi những sự đ̣i hỏi của xác thân đầy dục vọng, thoát ra ngoài những nỗi lo âu, sợ sệt hằng ngày và sống một cuộc đời an vui, tự tại.

 

Tham Khảo

-Tinh hoa vác đạo giáo của  Nhân Tử  Nguyễn Văn Thọ

- Internet

- Giá trị của Thiền  của  tác giả Vơ Hà  trong  website Việt Thức