Tại sao người dân Việt trong nước và ngoài nước,

                 đa số không biết ǵ về Chúa

                              và không theo Đạo Công Giáo ?

 

 

 I-Nội bộ  người Công Giáo Việt

Giáo dân  

  Nếu có ai hỏi  câu hỏi này, th́ người công giáo liền trả lời ngay rằng  việc truyền giáo là việc của các linh mục, c̣n giáo dân  chúng tôi, chỉ biết cầu nguyện chứ biết làm ǵ bây giờ.

  Công đồng Vatican day rằng người Kitô hữu có sứ mệnh  truyền giáo: linh mục cũng như giáo dân   đều có sứ mệnh truyền giáo.  Người Kitô hữu là môn đệ của Chúa Kitô.  Chúa Kitô  rao giảng nước trời th́  người môn đệ của ngài cũng phải cộng tác với Chúa Kitô rao giảng nước trời.

Giáo dân  không biết rằng việc  truyền giáo chính là sứ mệnh của ḿnh..  Họ cũng chẳng biết cách thức  giới thiệu Chúa  cho  những người lương giáo.  Sở dĩ họ không biết  v́ các linh mục Việt chẳng nghĩ tới chỉ bảo cho họ biết sứ mệnh  và cách thức  truyền giáo .  Hơn nữa,  người Việt th́ thường  theo đạo truyền thống, , cha mẹ ông bà theo đạo nào th́ ḿnh theo đạo đó  thế thôi, chứ chẳng hiểu ǵ về đạo.    Kiến thức về đạo rất ít, nên người công giáo thường cũng lưu  manh, nói hành nói tỏi, gây chia rẻ , như  bất cứ ai,   khiến  cho người lương giáo nghĩ rằng người công giào  chẳng có ǵ hơn họ, nhiều khi lại c̣n kém hơn họ về  ḷng đạo đưc.

   Như vậy làm sao mà  người giáo dân biết các phương cách truyền giáo cho người  lương giáo trong cộng đồng địa phương  của ḿnh dù ở trong nước dù ở hải ngoại.  Như vậy làm sao mà  người  giáo dân biết cách làm sáng danh Chúa, làm  chứng nhân cho đạo Chúa.? 

 
 

 

Linh mục

Trên lư thuyết,  các Linh Mục Việt  biết rằng ḿnh có sứ mệnh truyền giáo, nhưng thực tế, đa số linh Mục Việt  không bao giờ nghĩ đến truyền giáo ngay cho những người  lương giáo trong địa phương của ḿnh. Khi được bổ nhiệm về một giáo xứ,  người linh mục chỉ nghĩ đến xứ đạo.  Người linh mục chỉ nghĩ đến nhà thờ, khuôn viên nhà thờ , làm lễ  và các phép bí tích cho giáo dân và quản trị tài chánh của xứ đạo.

Về vấn đề nhà thờ,  các linh mục h́nh như chỉ nghĩ rằng   nhà thờ càng to càng đẹp th́ càng làm sáng danh Chúa, nên đa số linh mục nghĩ đến xây nhà thờ, cổ động  đóng góp để xây nhà thờ.  Trước khi xây nhà thờ, đang khi xây nhà thờ, và sau khi xây nhà thờ, linh mục luôn luôn kêu gọi đóng góp, đóng góp dể xây, đóng góp để trả nợ xây nhà thờ,.  V́  tất cả chú trọng vào nhà thờ  và  khuôn viên nhà thờ, nên quên đi việc  bác ái mến Chúa yêu người, tạo ra các cơ sở  và quỹ  giúp dỡ những người nghèo khổ trong xă hội.  Thái độ mến Chúa yêu người  thể  hiện qua sự  bác ái   giúp đỡ người nghèo  bất kể họ thuộc tôn giáo nào  mới là ư Chúa muốn, đấy mới là  cốt yếu của đạo Chúa.

Linh mục và Giáo dân Việt   

         đối với hai giới răn : Mến Chúa và Yêu người

Người Kitô hữu Việt ( linh mục và giáo dân ) đặt nặng vấn đề mến Chúa, nhưng lại lăng quên  vấn đề Yêu người.   Mến Chúa  và yêu người là hai giới răn nồng cốt của đạo Chúa Kitô  khắng khít với nhau: mến Chúa th́ phải yêu người,  có yêu người th́ mới mến Chúa. Nhưng thực tế, th́ hơi khác tại  nơi  người Việt.

Xứ đạo Việt dù ở trong nước dù ở hải ngoại chỉ thấy có sinh hoạt nhà thờ.  Sinh hoạt nhà thờ th́ chỉ chú trọng làm sao cho  nhà thờ đông người đi lễ và kính Đức Mẹ .   Đi lễ ngày Chú Nhật  là một cưỡng bách, v́ nếu không đi th́ Chúa phạt  sa hỏa ngục. Ít người giáo dân nghĩ rằng đi lễ  v́ mến Chúa.   Không thấy  một xứ đạo nào có chương tŕnh công tác từ thiện.  Chính v́ vậy mà không có một xứ đạo nào có một cơ sở  xuất phát việc từ thiện cho mọi người trong khu vực giáo xứ  ( gồm  cả người công giáo cả người lương giáo.).Các hội đoàn công Giáo tiến hành không bao giờ đề cập đến vấn đề truyền giáo,, cũng không bao giờ nghĩ đến   kích động người giáo dân phải  sống thế nào nơi các  công sở  để  làm chứng nhân cho lời Chúa trong Phúc Âm, laị càng không nghĩ tới   việc bác ái  nên làm trong môi trường khu vực xứ đạo.  Sự bác ái trong lời nói việc làm, thăm viếng, ủi an những người lương giáo là  phương cách hữu hiệu  đưa Chúa đến cho người lương giáo, là  phương cách hữu hiệu mời họ tham dự những sinh hoạt người Công Giáo trong xứ đạo.

II_ Ngoại bộ   ( phía người Lương Giáo)

 1- Người Lương Giáo không dám theo đạo Công Giáo v́ sợ Chúa  gửi  những khổ  đau đến.

 Khi nói về  bệnh hoạn, rủi ro trong gia đ́nh…. th́ các linh mục trên ṭa giảng đều giảng  : Thánh giá Chúa gửi đến, thập giá Chúa gửi đến. Các linh Mục  giảng  theo bài bản như sau : Thánh Giá Chúa gửi đến, ḿnh phải chấp nhận, th́ Chúa mới vui ḷng, Chúa mới thương ḿnh, Chúa mới cho ḿnh lên Thiên dàng   Chính v́ được nghe  giảng như vậy, nên người giáo dân  luôn luôn ám ảnh cái tư tưởng đó và cho đó là một chân lư.  Bài bản đó  cứ vậy tiếp tục hàng bao thế kỷ, lọt ra ngoài . Người lương Giáo  thường  nói  rằng : “ Đạo Công Giáo sao mà  khó theo quá. Vào đạo th́ Chúa Kitô  gửi cho  những khốn khó. Chúng tôi chịu sao nổi. Chúng tôi không theo đạo Công Giáo đâu.. Chúng tôi giữ đạo của chúng tôi: ăn ngay ờ lành là đủ rồi. “  Những kẻ thù  chống  đạo Công Giáo dựa vào câu :  “Thánh Giá Chúa gửi đến “,   mà   rỉ tai người lương giáo: “Chúa Kitô Ác  quá “.

Không biết tại sao khi  đề cập tới những nghịch cảnh của  đời sống  chẵng hạn, bệnh tật, thiên tai,  mất của …. th́  đa số các linh Mục Việt  nghĩ ngay đến  bài bản   Thánh Giá Chúa gửi đến?  

  Trong  4  cuốn Phúc Âm mà các thánh sử Matthêu, Marcô, Luca và Gio-an viết   về lời của Chúa Giêsu Kitô  không có câu nào nói rằng : Chúa gửi thánh giá  hay thập giá xuống  cho một ai, mà chỉ có những câu:

-1/      Đức Giêsu nói với các môn đệ : Ai muốn theo thầy, phải từ bỏ chính ḿnh, vác thập giá ḿnh  mà theo  ( Mt 16:24) Mc 8: 34) ( Lc9:23)

-2/-   “Tất cả  những ai đang vất vả  và  mang  gánh  nặng nề , hăy đến cùng tôi, tôi sẽ cho  nghỉ ngơi bồi dưỡng  ( Mt 11: 28)”

 Sách Kinh  Thánh  Ṭa tổng Giám Mục Sài g̣n giải thích: gánh nặng của  kiếp sống trần gian và nhất là  gánh nặng  của luật  Mô-sê với trăm ngh́n tập tục  do các kinh sư và nhóm Pharisêu để lại

 -3/     Anh em hăy mang ách của tôi và hăy học hỏi với tôi, v́ tôi có ḷng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồ dưỡng .   V́ ách của tôi êm ái và gánh của tôi th́ nhẹ nhàng  ( Mt 11: 29-30)

Sách Kinh  Thánh  Ṭa tổng Giám Mục Sài g̣n giải thích:  mang ách của tôi =lối nói của  các Ráp-bi hàm ư  hăy nhận tôi làm thầy

Với ba câu trong Phúc Âm  nêu trên, Chúa Giêsu muốn  mời gọi chúng ta đồng hành theo ngài  vác thập giá của đời sống kiếp người. Thập giá đây chính là những nghịch cảnh của đời sống  con người. Số phận con người là thế.  Đă là  con người như chúng ta, sống  33 năm, Chúa Giêsu gặp biết bao nhiêu là nghịch cảnh của đời sống, nghịch cảnh cuối cùng  chính là  án tử h́nh trên thập giá.  Chúa Giêsu đă chấp nhận  thập giá của Ngài trước khi Ngài được vinh quang trên nước Trời. V́ Chúa Giêsu biết mỗi người  chúng ta  đều có những nghịch cảnh riêng   ( thập giá), và nghịch cảnh cuối cùng là sự chết  riêng  của mỗi người trước khi vào vinh quang nước trời với Ngài, nên Ngài mời gọi  chúng ta  vác thập giá  theo gương Ngài.

 Nghịch cảnh của đời sống  kiếp người  có thể  xem ra  nặng nề, khó mà  chịu đựng được.  Nên Chúa Giêsu mời họ đến với Ngài  để  ngài  ủi an, bồi dưỡng, khích lệ.  Ngài nói rằng nếu nhận  Ngài làm Thầy, th́ Ngài sẽ chỉ dẫn cho  cách mang thập giá một cách nhẹ nhàng  thoải mái   trước khi vào   vinh quang với Ngài trên nước Trời.

Tại sao các linh mục  không  nhấn mạnh Phúc Âm của Chúa Kitô  là Phúc Âm T́nh Yêu của Thiên Chúa. đối với loài người?. Chúa Giêsu v́ thương yêu nhân loại đă giáng trần mặc lấy xác con người, nhận  lấy số phận con người để  ở   chung v ới  con người , để cùng khổ với con người   (bệnh hoạn, rủi ro), chấp nhận những khổ đau ( thập giá).   để làm gương cho con người?  

 
 

 

Ngay trong  Kinh Thánh Cựu Ước   cũng có những  đoạn văn nói về  t́nh yêu  của Thiên Chúa  đối với con người. Chẳng hạn đoạn   Sách Xuất Hành 3 : 7-11  nói lên ḷng Thiên Chúa thương dân Israel.  Ngài  muốn dân Israel   thoát khỏi cảnh khổ  ( thập giá) , ra khỏi chốn lầm than.:  

Xin đọc đoạn này:

Đức Chúa phán: Ta đă thấy rơ  cảnh khổ cực  của dân ta bên Ai cập.  Ta đă nghe  tiếng chúng kêu than v́ bọn cai hành hạ . Phải,  Ta biết  các nỗi đau khổ  của chúng ( thập giá).  Ta xuống giải thoát  chúng khỏi tay người Ai Cập, và đứa chúng  từ đất  ấy, lên một miền đất tốt tươi, rộng lớn, miền đất tràn trề  sữa và mật , xứ  sở của người Cana-an, Khét, Emôri, Pơ-rít-di, Khi-vi và Giơ-vút,  Giờ đây, tiếng rên siết của con cái Ít ra-en đă thấu tới ta ; Ta đă thấy cảnh áp bức chúng phải chịu v́ người Ai Cập.   Bay giờ   ngươi (  Ông Mô-sê) Ta sai  ngươi đến với Pha-ro-ô để đưa dân Ta là con cái Ít ra-en ra khỏi Ai Cập.

Ông Mô-sê thưa với Thiên Chúa” Con là ai mà dám đến với Pha-ra-ô và đưa  con cái Ít-ra-en ra khỏi Ai -Cập?  Người phán:’ Ta sẽ ở với ngươi. Và đây là dấu cho ngươi biết là Ta đă sai ngươi :Khi ngươi đưa dân  ra khỏi Ai- Cập, các ngươi sẽ thờ phượng Thiên Chúa trên  núi này.”

 

Chú ư:  nghịch cảnh  ( thập giá)  đến từ con người, chứ không phải đến từ Thiên Chúa . Chẳng hạn  đoạn văn trên   nghịch cảnh   đến từ dân Ai Cập  .

C̣n  nơi mổi người chúng ta,   nghịch cảnh ( thập giá)  có thể đến  tư nơi ḿnh.  Chẳng hạn   ốm đau v́ ăn bậy,  hoặc nghiện rượu quá mức  có thể đẻ con tật nguyền. Có thể     nghịch cảnh có thể đến  với chúng ta   tư gia phả , từ người khác.Chẳng hạn  cha mẹ bị tật  liệt   tay, hoặc liệt chân  th́  chúng ta con cái của các ngài có thể  bị liệt tay hoặc chân , định luật Mandel cho biết như vậy.

 
 

   

2- Người Lương Giáo  lầm tưởng rằng đạo Công Giáo là đạo của Đức Mẹ Maria  (Đức Mẹ  là con người).  V́ thế Đạo Công Giáo không đủ quyến cho họ theo đạo.

Đạo Công Giáo chính là đạo Chúa Giêsu Kitô. th́  Chúa Kitô là đối tượng chủ động phải được đề cao trước mặt dân lương giáo, nếu muốn giới thiệu  tin mửng của Chúa Kitô cho họ. Thế nhưng trước mặt dân lương giáo, Chúa Giêsu Kitô bị lu mờ., h́nh ảnh Chúa Giêsu Kitô không được  lọt vào con mắt người lương giáo .  Trái lại  họ  chỉ thường thấy tượng  Đức Mẹ được  tôn vinh trước cửa nhà người Công Giáo trên một đài cao.  Có thể nói  nhà nào có tượng Đức Mẹ trước nhà th́ người lương giáo  xác nhận rằng nhà đó là nhà người Công Giáo.   Thế rồi, các hội đoàn Công Giáo hay rước kiệu tượng Đức Mẹ  ở ngoài đường phố với các cờ quạt biểu ngữ đền tạ Trái Tim Đức Mẹ ,hát những bài vinh danh Đức Mẹ, đọc kinh cầu nguyện với Đức Mẹ  khiến cho  người Lương Giáo càng   nghĩ rằng   đạo Công Giáo thờ Đức Mẹ .

Đồng ư rằng   người Công Giáo  tôn kính Đức Mẹ là điều rất tốt, đáng  khích lệ, nhưng  đừng   tôn kính Đức Mẹ vượt quá  mức sự tôn kính Chúa .  Sứ mệnh mỗi người là giới thiệu Chúa cho người lương giáo.   Một người Công Giáo  đích thực  th́  cầu nguyện với Chúa bằng Kinh Lạy Cha, xin Thiên Chúa  hoàng dương  nước  Trời ở  trần gian, làm cho danh Ngài cả sáng và   ban cho ḿnh  các ơn, rồi  đọc kinh Kính Mừng Maria xin Đức Mẹ cầu bầu cùng Chúa để Thiên Chúa lắng nghe lời cầu nguyện của ḿnh, rồi sau c ùng đọc Kinh Sáng danh để Vinh danh Thiên Chúa .  Người Công Giáo đích thực này mới có khả năng giới thiệu Chúa cho người lương giáo.một cách hữu hiệu .

 
   

III- Biết  sơ sài về Phúc Âm của Chúa, và chẳng có  kiến thức  chút nào về  đạo của người lương giáo

-Sơ sài về Phúc Âm

      Đây là một  sự thực  hiển nhiên.  .  Nếu hỏi người Công Giáo Việt xem  họ có biết  tám mối phúc thật Chúa Giêsu   giảng dạy trên núi không?  Họ có nghe thoang thoáng, nhưng bảo kê ra, th́   90% người  Công  Giáo  chẳng biết ǵ.  Về  7 ơn Chúa Thánh Thần  th́ cũng vậy, nếu xin người Công giáo kể ra 7 ơn này và giảng giải, th́ 90%  người Công Giáo cũng chẳng biết ǵ.   Phúc âm của Chúa  có đấy, nhưng người công giáo có chịu đọc đâu. Họ chỉ    nghe  các bài trích phúc âm vào các ngày chủ nhật .   Theo nguyên tắc một năm có 52  ngày chủ nhật , tức là có 52 bài trích Phúc Âm.  Thực chất  chỉ có vào khoảng  45 hay 46 bài trích,   v́  một bài trích phúc âm có thể  được đọc cho nhiều Chủ Nhật.   Lời của Chúa  trong  các bài trích đó liệu  vị linh mục  và giáo dân  có hiểu đến nơi đến chốn , và  sống  theo lời Chúa một cách tích cực không? hay người giảng th́ chỉ giảng lúc đó, người nghe th́  chỉ nghe  lúc đó, ra khỏi nhà thờ, th́ người giảng và người nghe  để lại lời Chúa trong nhà thờ.?

Nếu chỉ biết có thế thôi,   th́ làm sao  mà có thể trả lời rành mạch đầu đuôi  thánh ư của Chúa Kitô  cho những người lương giáo để hướng dẫn họ về với Chúa. hoặc  có thể  thuyết phục  được  những  thắc mắc của họ  về đạo Công Giáo.

-Chẳng có kiến thức ǵ về  đạo của  người lương giáo

Rất nhiều linh mục  và  giáo dân  luôn  thành kiến rằng:  đạo của người  lương giáo là đạo thờ bụt thần ma quỷ.  Thật là một lầm lỡ lớn. Không biết ǵ về đạo người ta, mà dám phê b́nh như vậy.   Đạo người  ta bắt nguồn từ thế kỷ 5 trước Chúa Kitô giáng trần,, đạo đó  hướng dẫn người ta  làm lành lánh dữ  tu thân tích đức .  Đạo đó, nếu hiểu theo tinh thần Công đồng Vatican,2 th́ những nguyên tắc của đạo  cũng được Thiên Chúa mặc khải cho người sáng lập đạo  h́nh thành,  để hướng dẫn người ta nên tốt.  Có thể nói   đạo đó ở Á Châu  bắt nguồn từ trước Công Nguyên chuẩn bị cho người  sau này  biết lắng nghe lời Chúa Giêsu Con Thiên Chúa giáng trần  một cách hữu hiệu hơn.

  Nếu  chẳng hiểu biết  ǵ về đạo của người lương giáo,  th́ làm sao mà  biết  những điểm đồng dị giửa hai đạo, đạo Công Giáo và đạo của họ.  Nếu không biết điểm đồng, th́ làm sao dẫn người lương giáo đi sâu vào đạo Công Giáo được. Nếu không biết cái khác biệt của họ về tôn giáo th́ làm sao ḿnh biết  thuyết phục  họ  so sánh   hai tôn giáo mà nhận ra đạo  Công Giáo có ǵ hay hơn, cái ǵ   gần với chân lư hơn, cái ǵ đáp ứng vời số phận đời sống  của ḿnh đời này và đời sau.

 Hậu quả của sự  sơ sài kiến thức  Kinh Thánh đạo  Công Giáo, và sự  mù tịt về kiến thức  đạo của người lương giáo:

  Về phía giáo dân

 Người giáo dân  sợ  sệt không dám  đối chất với người lương giáo,  trong lănh vực tôn giáo.  Tôi xin đan cử  một thí dụ cụ thể mà tôi gặp. Một vị  cựu đại tá đệ tử một ḍng tu nọ chẳng biết trả lời thế nào trong một  buổi nói chuyện khi người lương giáo nói:  Chúa Giêsu kém  Đức Khổng Tử và  Đức Phật.    Ông đại tá này  tức giận, nhưng  nín thinh không  có lời lẽ nào  đối đáp làm vinh danh Chúa ra cho người ta. Ông chỉ  thầm thĩ  cầu nguyện  xin Chúa soi sáng cho họ    (Ông tiết lộ câu chuyện này trong một buổi họp  đoàn Liên Minh Thánh Tâm)

Về phía hàng  giáo phẩm

   Hiếm hoi  thay!  Ít khi thấy có bóng dáng một linh mục Việt nào   dự một buổi họp  có lẫn người lương giáo.  Các linh mục chỉ ro ró trong  khu  giáo đường, lấy cớ rằng  bận quá nhiều việc phải làm.   Linh Mục có sứ mệnh truyền giáo, th́ phải có mặt ở các nơi công  tiếp xúc với người lương giáo để bắt các mẻ cá về cho Chúa chứ!   Phải chăng  linh mục  không nắm vững Kinh Thánh, mà không dám  đụng  độ với người lương giáo?   Rất có thể  một số người lương giáo thắc mắc một vài  vấn đề kinh Thánh , linh mục sợ  trả lời nên t́m cách  lẩn tránh không dám đến những nơi có người lương giáo?   Phải  chăng linh mục mù tịt về đạo của người lương giáo, nên không biết  đàm đạo với người lương giáo như thế nào,   để t́m cách lái người lương giáo đến nghe tin mừng của Chúa?

Một số   người Công giáo thường hiện diện trong các  nơi đông người lương giáo khi họ  c̣n là  giáo dân . Đến khi  họ trở thành các thầy phó tế vĩnh viễn, th́ họ không dám  đI đến những nơI có  người lương giáo, và  nếu vô  t́nh tới nơi đó  th́  miệng im thin thít. Vậy nghĩa là  làm sao?  Ở những nơi quần chúng, cần có các thày phó tế và linh mục  buông lưới bắt các mẻ cá th́ các vị này lại lẩn tránh, th́ buồn cười thật.

 
   

IV-  Tác Phong  phong kiến

Có thể nói các linh mực Việt  nặng đầu óc phong kiến .  Thái độ  phong kiến  h́nh như là truyền thống  của các linh mục Việt.  Sau khi được phong chức linh mục, các  vị này bắt đầu phong kiến

1-     1/-Chỉ có ư kiến của ḿnh là hay nhất, là đúng nhất. Hay nói cách khác, các  vị linh mục không biết lắng nghe ai.

Lắng nghe là một điều kiện cần  để có thể giới thiệu  Phúc Âm của Chúa . Nhưng thực tế, các Linh Mục Việt h́nh như không có chuyện lắng nghe một ai.    Không biết lắng nghe, th́ làm sao hiểu được  niềm tin nơi mỗi người ,  mà hướng dẫn niềm tin của họ về tới Chúa.   Không biết lắng nghe họ,   th́ làm sao biết được niềm tin của họ có ǵ gần với Phúc Âm của Chúa,  có  ǵ  xa cách với Phúc Âm của Chúa để biết cách thuyết phục họ. Không lắng nghe họ,  mà chỉ dồn ép họ theo đạo của ḿnh,  th́  làm sao họ phục đạo ḿnh cho được. Có rất nhiều người  bắt buộc phải thep đạo Công Giáo v́ vợ họ là người Công Giáo, v́ chồng họ là người Công Giáo. Họ theo đạo là v́  thương vợ nể vợ mà theo đạo Chúa,   thực sự họ chẳng hiểu ǵ về đạo. Linh Mục phải biết lắng nghe họ để  t́m cách giải thích  ư nghĩa  Phúc Âm của Chúa th́ họ mới theo Chúa thực t́nh và  nồng nàn mến Chúa được.

2/- Tự nhận  ḿnh thuộc thành phần  điạ vị cao trong xă hội, mọi người phải kính nể ḿnh và chào hỏi ḿnh trước.

Đa số các linh mục Việt  chờ đón người ta chào hỏi ḿnh trước, niềm nở với ḿnh trước, kính trọng ḿnh trước,  theo  kiểu Nho Giáo. Đây là một trở ngại lớn cho việc truyền giáo.   Truyền giáo th́ phải quên ḿnh đi, dấn thân vào xă hội, đi buớc trước  bằng cách gây thiện cảm với những người trong xă hội. Các nhà truyền giáo Âu Chậu trước kia , đến với người Việt thời  bấy giờ, trước tiên gây thiện cảm với  những vua chúa  quan quyền dân chúng bằng đủ mọi cách,  đặc biệt  các ngài luôn luôn nét mặt niềm nở chào đón  mọi người Việt.    Các ngài luôn luôn  ân cần săn sóc dân chúng. V́ vậy, các Ngài đă lôi cuốn nhiều người theo Chúa.

 Muốn người ta nói chuyện với ḿnh th́ ḿnh phải gây t́nh cảm và thân mật  bằng cách niềm nở chào hỏi người ta trước,rồi nói chuyện th́ người ta mới nghe ḿnh  nói chuyện và người ta mới nói chuyện với ḿnh.Khi đă vào câu chuyện than mật , th́  sẽ có lúc ḿnh nói về Chúa , người ta sẽ lắng nghe.  Sự kiện này,  người viết bài này hiếm thấy có vị linh mục Việt áp dụng.

V-  Trường hợp ngoại lệ

Đa số linh mục Việt  thuộc thành phần nêu trên , nghĩa là   chưa chu toàn sứ mệnh  đưa lời Chúa  đến với những người lương giáo trong khu vực xứ đạo của ḿnh.  Tuy nhiên cũng có một số rất ít   linh mục đă có tinh thần   giới thiệu Chúa cho người lương giáo : Chẳng hạn, linh mục Cao Vĩnh Phạn, và Linh Mục Nguyễn Sang.

Về trường hợp Cha Cao Vĩnh Phan

 Cha  Cao Vĩnh Phan đă làm  cha sở các họ đạo vùng Mũi Né Phan Thiết  vào những thập niên 1970 và 1980. Cha  đă tạo được bầu không khí thân mật với các Thượng tọa, Đai đức và các Phật tử, đă có nhiểu lần cha mời họ đến dự lễ tại nhà thờ xứ đạo của Cha, mà họ đă đến. Cha đă hô hào giáo dân  giúp đỡ những người lương giáo  về vật chất  chẳng hạn gạo thóc .

Cha Phan đă nói về đời sống linh mục   như sau:

--Sống đúng tinh thần Phúc Âm và theo gương Chúa Giêsu đến để phục vụ chứ không phải đến được phục vụ ( Mt 20,27-28).

-Linh Mục có 2 nhiệm vụ lớn giống như 2 cánh tay: 1 tay làm cho công giáo, 1 tay làm cho anh em lương dân.. Vậy không thể quanh quẩn trong xứ  đạo để giảng dậy giáo lư  và tổ chức lễ hoặc  rước sách, rồi ngồi đợi người ta đến với ḿnh  ( trích đề   tài  Cha Phan đăng trong nguyệt san Trái Tim Đức Mẹ số 361 tháng Giêng 2008 ø số 362  tháng hai 2008   Tác giả : LM  Phêrô  Đan Minh, Hagendorn Suisse.)

 Cha Cao Vĩnh Phan đă thực hiện đời sống đó và muốn cho các linh mục Việt Nam có đời sồng như vậy

 

Về trường hợp Cha  Nguyễn Tấn Sang .  

Cha  Gioan  Baotixita  Nguyễn Tấn Sang  giáo phận  Mỹ Tho chánh xứ  nhà thờ  Tân Hiệp với số giáo  dân  600 người   Cha  là một linh mục trẻ, vừa làm cha sở một họ đạo, vừa  phát động một  cao trào Hát v́ người nghèo, gây quỹ để giúp cho những người nghèo khó không phân biệt lương giáo.Cha đă   dùng những thành quả  mà giúp được người nghèo lương thực, và  xây cất được những căn nhà  cho ngưởi nghèo,. Cha đă  cung cấp xe lăn  cho nhiều người già neo đơn, không phân biệt tôn giáo. Quả thực cha đă đem tin mừng của Chúa  cho  mọi người kể cả những người lương giáo