Vai tṛ Tín Ngưỡng trong Văn Hóa Việt

 Chỉ có con người mới có tín ngưỡng , và chỉ có con người mới có văn hóa.  Bởi vậy, khi nghiên cứu tín ngưỡng trong lănh vữc văn hóa, chúng ta nên bắt  đầu đi từ con người

1-Định nghĩa về con người

 Đầu cuốn tâm lư học  của tâm lư gia Foulquier có câu  định nghĩa về con người:

 -con người= con vật xă hội 

  Những bé thơ  và  nhiều vị cao tuổi mất trí không thể  tự săn sóc  mà phải nhờ vào người khác giúp đỡ, chẳng hạn mặc tă  hoặc nuôi dưỡng.  Người khác đó có thể là người trong gia đ́nh, mà cũng có thể là người ngoài mà gia đ́nh thuê.

- con người= con vật  có trí  thông minh

Nhờ  có trí thông minh, mà con người suy nghĩ.  Nhờ có suy nghĩ  mà con người sáng kiến.  Xe hơi, tầu thủy, máy bay, computer, ipod, computer,  là những thành quả của sự sáng kiến do các nhân tài xă hội

- con người= con vật  tín ngưỡng:

 Con người  có tính siêu việt mà con vật không có.Tính siêu việt hướng con người về Chân Thiện Mỹ,  thúc đẩy con người  ước ao hạnh phúc vô biên,  khiến con người   thắc mắc về sự hiện hữu của ḿnh và của vũ trụ: chết rồi th́ sao?   phải chăng  vũ trụ tự nhiên mà có?

  Triết gia   Nietzche nói chỉ có người mới ư thức những giá trị vượt tầm người, chỉ có người mới thấy ḿnh  đương  là cái ḿnh  không là, hoặc không nên là, và v́ thế cần trở thành cái ḿnh chưa là, nhưng đáng phải là. Người vượt xa người.

  Tính siêu việt  là đặc tính  của tín ngưỡng vậy 

 Đến đây  chúng ta  nhận thấy rằng  Nhân bản tính  của con người gồm 3 yếu tố: xă hội, trí thông minh và tín ngưỡng

2. Suy ra ư nghĩa  Văn hóa  từ  sự định nghĩa về con người

 Những sinh hoạt  của đời sống con người xoáy  chung quanh 3 yếu tố xă hội, trí thông minh và tín ngưỡng. Những sinh hoạt này được mệnh danh bằng từ ngữ Văn hóa

3- Định nghỉa Văn hóa

British Encyclopedia định nghỉa  Văn hóa  là những h́nh thức tổng hợp của tư tưởng, của niềm tin (tín ngưỡng)  và của  hành vi con người  trong xă hội.

 Nói rơ ràng hơn:  văn hóa  là những sinh hoạt  trong những lănh vực  : tư tưởng, ngôn ngữ, tín ngưỡng, phong tục , luật lệ, nghi lễ  kỹ thuật , nghệ thuật  …… của con người trong xă hội

Trong định nghĩa này, tín ngưỡng là một yếu tố cấu thành văn hóa ( tôn giáo  là  tŕnh độ cao của tín ngưỡng),  nhưng nó  bàng bạc  trong  các lănh vực  văn hóa, đến nỗi các nhà khảo cứu về văn hoá đă phải thốt lên lời nhận định:  Bỏ  tín ngưỡng  ra  th́ văn hóa c̣n ǵ  nữa đâu:

 
   

4- Tín ngưỡng bàng bạc  trong  các lănh vực  văn hóa

   1/     Bàng bạc  trong Tư tưởng:

a/-Tâm linh

 Đa số người Việt  tin rằng Trời thưởng những người làm thiện, Trời  phạt  những người làm ác, tin rằng hồn thiêng con người bất tử dầu thân xác chết đi và tin rằng có thế giới vô h́nh bên cạnh thế giới hữu h́nh

    V́  thế  người Việt tại quê hương mới có:

-   bàn thờ  Thông Thiên ngoài sân trước nhà hoặc bàn thờ  Chúa nơi mỗi gia đ́nh để vái  lạy Trời, cầu xin với Trời:   Lạy Trời mưa xuống, lấy nước tôi uống ….  

-   bàn thờ Tổ Tiên nơi mỗi gia đ́nh để  tôn kính, biết ơn và nguyện cầu  tổ tiên gia hộ cho gia đ́nh, v́ thế mới có tục mời  tổ tiên về ăn tết với con cháu  vào dịp Tết Nguyên Đán. 

-  đền miếu thờ các anh hùng liệt sỹ  đă có công với đất nước

b/-Tâm Tư:   

 Mỗi người cảm thấy vui khi làm điều thiện, cảm thấy lương tâm cắn rứt khi làm điều ác. Người Việt  ai cũng sợ  ác giả ác báo, nghiệp quả.  Tâm tư này  hướng dẫn hành động  của mỗi người, khiến cho  người ta  làm những điều thiện  xây dựng gia đ́nh, đoàn thể và xă hội nên tốt

   2/    Bàng bạc trong  Ngôn ngữ

Ngôn ngữ : từ ngữ  vô thường,  cát  bụi  giác ngộ, cứu độ , chân như , chân tâm , lương  tâm........... bát chánh đạo, Thượng Đế........

    3/   Bàng bạc nơi các hội hè và đ́nh đám

Hội hè  và đ́nh đám diễn ra  trong mùa xuân và mùa thu là những mùa  thời tiết  quan hệ đến mùa màng trong một năm. Trong các  hội hè  và đ́nh đám này thường có việc tế tự.  Tế tự dưới h́nh thức  cầu đảo với Trời cho mưa thuận gió ḥa. Tế tự  để cám ơn Trời. Cầu đảo để Trời  thương

     4/   Bàng bạc trong các Phong tuc

 Trong phong tục Hôn nhân có chuyện Vi Cố    Ông Tơ

 

Chuyện Vi C :

 Vi C  gặp  ông lăo đêm trăng hướng về mặt trăng đọc  các văn kiện kết hôn, có túi đựng dây đỏ buộc chân trai gái để thành vợ chồng

Vi C gặp bà già chột mắt ẫm đứa  bé- ông lăo đêm trăng bảo rằng đứa bé kia sẽ là vợ ḿnh. Vi Cố  giận sai giết  đứa bé.   14 năm sau, Vi Cô được  quan Thứ Sử  Trương Châu là Vương Thái gả con gái cho. Cô gái này dung nhan tươi đẹp, giữa lông mày có đính một bông hoa vàng. Làm vợ rồi,  Cô gái kể  rằng lúc c̣n nhỏ, cô  được  bà Vú họ Trần chột mắt. bế qua chợ th́ bị  một tên lưu manh  gây thương tích ở chỗ lông mày- Vợ chồng Vi C tin rằng  duyên Trời định sẵn

 

Chuyện  Ông Tơ

Con người quấy nhiễu Trời. Một thần bày kế cho Thượng Đế rằng trai gái gần nhau, th́ mê nhau, không c̣n th́ giờ quấy nhiễu Trời.  Thế rồi một ông tiên già  được Thượng Đế sai xuống làm công tác  quẳng  dây tơ hồngCặp trai gái  b́nh thường  được quẳng 1 ṿng tơ t́nh ái.   Người thông minh th́ thêm  ṿng t́nh ái nữa.            

 

   5/   Bàng bạc trong  ca nhac và thơ phú

-Ca nhac:

Trở về Cát bụi  ( Chung tử Lưu)

Sống trên  đời này, người giầu sang cũng như người nghèo khó, trời đă ban cho, ta cám ơn Trời dù  sống thương đau. Mai kia chết rồi trở về cát bụi, giầu khó như nhau. Nào ai biết trước  số phận ngày sau ông Trời sẽ trao. Này nhà lớn, lầu vàng son, này lợi danh, chức quyền cao sang có nghĩa ǵ đâu, sao chắc bền lâu như nước trôi qua cầu. Này lời hứa, này thuỷ chung, này tinh yêu chóp lưỡi đầu môi cũng thế mà thôi, sẽ mất ngày mai như áng mây cuối trời.

-Thơ phú

*Mấy câu  ca dao nói lên ḷng hiếu thảo và tâm t́nh đối với Trời

                  Mỗi đêm mỗi thắp đèn Trời

                  Cầu cho cha mẹ  sống đời với con

 

*Mấy câu   trong  Cuốn Gia Huấn Ca của Nguyễn Trăi

                  Ở đời có đức có nhân

                  Mới mong đời trị,được ăn lộc Trời

                  Hièn lành lấy tiếng  với đời

                 Hễ người yêu dấu là Trời hộ ta

 

-  Mấy câu thơ trong Bài Phương Xa trong Thơ Say của thi sỹ Vũ Hoàng Chương

                Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ

                Một đôi người u uất nỗi trơ vơ

                 Đời kiêu bạc không dung  hồn giản dị 

               Thuyền ôi thuyền! Xin ghé bến hoang sơ

 
 

 

 6/   bàng bạc trong  lối kiến trúc nhà cửa

Trong lối kiến trúc nhà thường dân Việt ngày nay, th́ cửa sổ  là một khung ṿng tṛn có bông sen. Ṿng tṛn biểu tượng bánh xe luân hồi và bông sen là hai ảnh hưởng của Phật giáo được đưa vào kiến trúc.

 Liên hệ đến bông sen, có sự tích Chùa Một Cột. Truyền thuyết rằng vào mùa xuân năm Kỷ Sửu 1049  vua Lư Thái Tông mộng thấy Phật Bà Quan Âm ngồi trên đài sen, dẫn nhà vua lên đài. V́ được mộng như vậy, nên nhà vua ra lệnh xây Chùa Diên Hựu, Chùa có h́nh dáng giống bông sen. Chùa Diên Hựu tức là Chùa Một Cột ngày nay

   7/   Bàng bạc trong  lối điêu khắc chạm trổ

  Từ đời Lư  Trần,  điêu khắc tập trung vào các đ́nh Chùa, cung điện vua ....Các điêu khác gia chạm trổ  và sơn son thiếp vàng những tượng cùng  đồ tự khí dùng vào việc tế tự cho đ́nh miếu chùa chiền.  Tượng th́  tượng gỗ, tượng đá, tượng đồng , tượng đất h́nh dung  Phật , La Hán, cảnh địa ngục tại các chùa .  Nghề đúc   làm chuông  cho chùa và nhà thờ Thiên Chúa giáo. Đá dùng cho điêu khắc là đá vôi; đá vôi xanh dùng tạc tượng  sơ sài, đá hoa ( Quảng nam) dùng để tạc tượng  loại nhỏ. Vào cuối thế kỷ 20, điêu khắc  Việt chú trọng đúc các ảnh tượng nhỏ để làm đồ trang sức cho phụ nữ trẻ em: các loại ảnh Thánh Gía Chúa, ảnh chân dung Chúa, ảnh chân dung Đức Phật,

\                                  

 
   

4- Phân tích  Tín ngưỡng 

Tín ngưỡng  gồm  có Mê tín dị đoan và  tôn  giáo. Mê tín dị đoan là  tŕnh độ thấp nhất của niềm tin, c̣n  tôn giáo là  tŕnh độ cao nhất  của niềm tin.   Đă là con người th́ ai cũng có niềm tin.  Người Việt  cũng vậy. Niềm tin cần có để mà sống. Niềm tin đúng  ư nghĩa  th́ xây dựng  trên nền tảng lư trí.   Xây dựng  trên nền tảng lư trí  có nghĩa  là  t́m hiểu tại sao ḿnh tin.  

Tôn giáo chính là niềm tin xây dựng  trên nền tảng lư trí

  Trái lại niềm tin không đúng nghĩa  th́ thiếu nền tảng lư trí.    Phần lớn người Việt dù là người theo đạo Phật , dù là người theo đạo Thiên Chúa  ( Kitô Giáo) hay bất cứ đạo nào, th́ cũng chỉ biết đạo sơ sơ, không hiểu đạo là bao nhiêu, v́ không muốn học hỏi đạo nhiều. Hơn nữa  v́ chịu ảnh hưởng  của luồng  tư tưởng  Đông Phương nặng về trực giác nhẹ về lư luận, nên niềm tin của họ vượt cả sang những điều mà họ không hiểu.  Thấy người láng diềng  tin, th́ họ cũng tin. Tin như vậy th́ đồng nghĩa với mê tín.     Theo các  tác giả  các sách phong tục  người Việt , th́ người Việt  c̣n đầu óc  mê tín cao độ

Mê tín  chính là tin mà không hiểu,  tin lăng nhăng .  

Thượng tọa Thích Mật Thể viết rằng tin mà không hiểu th́ chỉ là mù ḷa, tin bướng tin càn.  Đức Phật  nói:  « Tin ta mà không hiểu ta là phỉ báng ta »

 Dầu vậy, nơi người Việt  tôn giáo và mê tín dị đoan có một mẫu số chung : chiều kích thiêng liêng nào đó, một thực tại bên kia thực tại. Mê tín dị đoan có thể là  h́nh  thái dân dă, có khi lệch lạc nhưng diễn tả  ǵ sâu kín hơn của ḷng người. Chỉ có con người mới thực sự có mê tín

 
   

 5- Quá tŕnh phát triển tín ngưỡng của người Việt

1/ Đối với thú vật hoang dă và cảnh thiên nhiên hùng vĩ

a-Tục bái Vật

 Thời   sơ khai của dân tộc Việt,  đất đai th́  rộng lớn bao la,  rừng  rú  rậm   rạp,   thú vật  hoang dă th́ nhiều. người th́ ít, sống đời sống du mục  nay đây mai đó ,  chưa quy tụ thành làng mạc, làm ǵ mà không sợ  hùm beo hổ báo và các thú rừng hoang dă. Bởi vậy nếu t́nh cờ gặp chúng , th́ chỉ có  bái lạy chúng, may ra chúng tha chết.  Tục bái vật xuất hiện

Di tích c̣n sót lại:   Núi thờ  trăn t ại vùng Thiện Dưỡng Ninh B́nh,  đền thờ cá voi tại Băi Sau Vũng Tầu

 

b/-   Sợ  Yêu tinh

  Núi rừng âm u hùng vỉ , biển cả  mênh mông bao la, sấm chớp, băo, lụt   đập vào con mắt người Việt xưa, khiến họ hoảng sợ mà nghĩ rằng đó là những yêu tinh hăm hại con người:  Chuyện Sơn Tinh, Thuỷ tinh  ….

2/ Nh́n vào con người

a/   Tin  Hồn  thiêng

  Qua những  kinh nghiệm  thấy thường xuyên những  cơn mộng mị ban đêm  và thấy nhiều trường hợp chết đi sống lại của nhiều người, người Việt  xưa  tin rằng con người có hồn thiêng .   Khi hồn thiệng hợp với thân xác, th́  con người sống Khi hồn thiếng  tách khỏi thân xác th́ con người chết,  mà   hồn thiêng th́ không chết

 

b/    Thế giới vô h́nh

   V ́ tin hồn thiêng không chết, người Việt  xưa  nghĩ rằng  chỗ ở  của  nó ngay bên cạnh chỗ ở của người c̣n sống, mà người c̣n sống  không nh́n thấy bằng con mắt trần.. Chỗ ở đó  th́ vô h́nh thuộc về Thế giới vô h́nh.   Người Việt  xưa  nghĩ rằng   Hồn thiêng của kẻ  ác   có thể làm hại người nọ người kia,  c̣n Hồn thiêng của ông bà cha mẹ không bị tiêu diệt  nên hằng  liên hệ cảm thông với kẻ c̣n sống nhất là giữa những người thân thích.

 

3/-Suy nghĩ về vũ trụ

 

a/   Tin  đa thần

Khi tin có thế giới vô h́nh th́ tín ngưỡng đa thần xuất hiện.

Thay v́  tin có những yêu tinh:   như sơn tinh, thuỷ tinh … th́ người xưa  tin có thần biển, thần sông,  thần núi, thần băo.   Trong  nhà, th́ có  thần bếp, thần thổ địa…. Măi cho tới thế kỷ 20,  nhiều người Việt vẫn c̣n  tin vào đa thần

 

b/    Tin Ông Trời  chủ tể vũ tru

Khoa khảo cổ cho biết rằng  người Việt sơ  khai từ lănh vực nghề nông, dần dà nghiệm thấy ngày đêm đều đặn thay nhau, mặt trời mặt trăng lặn rồi mọc  theo chu kỳ nhất định, và bốn mùa luân chuyển  điều ḥa không hề sai lạc.  Các hiện tượng  thiên nhiên này gợi cho họ tin có một  đấng cai quản vũ trụ.  Đấng ấy họ gọi là Ông Trời    Ông Trời tạo dựng vũ trụ, tạo dựng các loài vật hung dữ, tạo dựng các Thần và tạo dựng con người.  Ngài được gọi là Đấng Hóa Công.  Đây câu thơ của thi hào Nguyễn Du:

                                     Phũ phàng  chi bấy Hóa Công

Ngày  xanh ṃn mỏi  má hồng phôi pha

Người Việt tin các hiện tượng  băo táp, phong ba, sấm sét... chính là sức mạnh oai quyền của Ông Trời mà thôi.  Ông Trời  cầm số phận con người trong tay. Các Thần chỉ là những đồ đệ để Ông Trời sai khiến mà thôi. 

 

   4/   Đạo Thờ Trời và Sùng bái Tổ Tiên

 V́ tin Ông Trời tạo dựng nên vũ trụ, tạo dựng nên con ngưởi, cầm quyền sinh tử và số phận con người, nên người Việt xưa   thường cầu Trời cho  cha mẹ

                                  Mỗi đễm  mỗi  thắp đèn Trời

                          Cầu cho  cha mẹ  sống đời với con   ( ca dao)

Như vậy đạo thờ Trời của người Việt đă có từ thời thượng cổ.  Con cái của Tổ Tiên Việt tự hào về đạo Trời và nhận quyền uy của Ông Trời trong những câu ca dao dưới đây:

Dù ai nói ngược nói xuôi,

                                                    Ta đây vốn giữ đạo Trời khăng khăng.

 

Con cái cháu chắt  thường cầu Trời ban phước lành cho  ông bà cha mẹ  v́  chúng biết ơn ông bà cha mẹ  sinh thành và nuôi dưỡng chúng.  Sự biết ơn này được bộc lộ rơ nét  từ khi người Việt xưa   bỏ lối sống  du mục  để định cư chọn  lối sống  bằng  nông nghiệp. 

 

Nông nghiệp  là một nghề nặng nhọc  cần nhiều nhân lực, nên  gia đ́nh  người  Việt xưa  thường nhiều con . Trong gia đ́nh đông con chuyên về nông nghiệp , Cha mẹ lúc sống  là ân nhân thứ nhất của con cháu, nên con cháu thường kính hiếu để tỏ ḷng biết ơn cha mẹ  khi c̣n sống.  Rồi khi ông bà cha mẹ chết  đi,  con cháu   tin hồn thiêng các ngài không chết  vẫn ở gần ḿnh để phù hộ cho ḿnh,  nên  con cháu  sùng bái  hồn thiêng các ngài không những để tỏ ḷng biết ơn mà c̣n mong các ngài khôn thiêng phù hộ cho nữa.  Như vậy, Đạo Sùng Bái Tổ Tiên  của người Việt có từ thời kỳ  nông nghiệp manh nha.

 

Đặc  điểm của  Đạo thờ Trời và Sùng bái Tổ Tiên:

  Vua :   quyền Tế tự Trời.    Thời triều Nguyễn, vua  tế Trời  ở Tế đàn Nam Giao

 Dân: -lập bàn thờ  Thông Thiên trước cửa nhà để vái lạy Trời hàng ngày

    - lập bàn thờ Tổ Tiên trong nhà  để tưởng nhớ  tổ tiên và xin Tổ Tiên phù hộ cho con cháu

            - cúng giỗ Tổ Tiên và giữ tṛn chữ Hiếu với cha mẹ ông bà c̣n sống

 
 

 

 

   5/   Đạo Thờ Trời và Sùng bái Tổ Tiên biến chế thành

                           Phật Giáo Ḥa Hảo   

 

Phật Giáo Hoà Hảo là đạo được Giáo Chủ  Huỳnh Phú Sổ  lập ra vào  giữa thập niện 30 v à 40 của thế kỷ 20  ở miền đông Nam Việt. Giáo Chủ   đem Bát Chánh Đạo của Đức Phật Thích Ca vào đời sống  tâm linh của người Việt  để làm phong phú cái nguyên lư sẵn có của Đạo Thờ Trời và Tôn kính Tổ Tiên

Theo chủ thuyết của  Phật Giáo Hoà Hảo th́ Bát Chánh Đạo  là phương cách đẹp ḷng Trời, là con đường dẫn tới Trời.  Phật Giáo Hoà Hảo  tâm niệm rằng Trời cao trọng hơn Phật và Phật dưới quyền Ngài

  Đức Ngọc Hoàng mở cửa Thiên Môn

Đặng ban thưởng Phật Tiên với Thánh

-Làm Phật Nhi phải được ḷng thành

Th́ mới đặng  văng  sanh Cực lạc

Đạo có những đặc điểm sau đây :

Đạo tại gia, không chùa ,không sư săi

Thờ Trời th́ có bàn thờ Thông Thiên

Kính Phật th́ có bàn thờ Phật  nhưng không có tượng Phật 

Kính Tổ Tiên th́ có bàn thờ Tổ Tiên

Kính  anh hùng liệt sỹ th́ có bàn thờ anh hùng liệt sỹ

Biết ơn cha mẹ c̣n sống, nuôi dưỡng cha mẹ tới nơi tới chốn Ngoài ra  đạo c̣n nhấn mạnh tín đồ biết ơn  đất nước, biết ơn đồng bào và nhân loại

 

   Phật Giáo Hoà Hảo  dùng Bát Chánh Đạo tăng cường   mặt Tu Thân cho  Đạo Thờ Trời và Sùng Bái Tổ Tiên. Tu thân đến nơi đến chốn  th́ thoát khỏi kiếp luân hồi (chỉ trong kiếp người) để được thưởng vào chốn cực lạc của Ông  Trời  ( cũng được gọi là Đức Ngọc Hoàng)

Bát Chánh Đạo gồm có:

   Chánh kiến:   tức là  thấy đúng theo sự thật, tránh sự lầm lạc trong khi phê phán. Tránh tà kiến, và những ǵ giả dối

Chánh tư duy: tức là   tư tưởng chân chánh. Tâm  cần b́nh tĩnh, trí ráng t́m chân lư. Hăy đặt tư tưởng ḿnh vào công cuộc t́m kiếm phương cứu giúp sanh linh trong ṿng trầm luân oan nghiệt

. Chánh  nghiệptức là   việc làm chánh đáng ngay thẳng, nguyện bỏ những nghề nghiệp gây tai hại cho con người: nuôi điếm, bán á phiện, cho vay cắt cổ ...

Chánh  tin tấn: tức là tín ngưỡng  chân chánh. Tin Phật Trời cứu vớt  quần sanh thoát nơi  khổ aỉ. Phải nhớ rằng ta có bổn phận giác ngộ trần gian bỏ những oan trái luân hồi. Muốn thế phải tự giác, quyết chí tu thân rèn luyện đức tính cho thiện mỹ

 Chánh mạng: tức là  sanh mạng chân chính trong sạch. Xấu là v́  lục căn:  nhăn nhĩ tỷ thiệt  thân ư. Hăy bỏ hết những xa hoa

Chánh ng:  tức là lời nói chân thật bỏ xảo ngôn, bỏ  tiếng thô lỗ cọc cằn. Nói lời  ngay thẳng

 Chánh niệm:  tức là  ghi  tạc những điều Phật dạỵ  con đường t́m ra chân lư

Chánh định: tức là suy gẫm chân chính. Lấy thiền định phá tan u minh

 
   

5/   Đạo Thờ Trời và Sùng bái Tổ Tiên biến chế thành

                                Đạo Cao Đài

 

Cao Đài Giáo  được ông Ngô văn Chiếu sáng lập vào năm 1930 dựa vào vũ trụ quan  của Ấn Giáo, nghĩa là   Cao Đài Giáo  chủ trương rằng  hồn thiêng con người bởi Trời mà ra, hay nói cách khác, con người thông phần bản thể  với TrờiTrời là  Đấng Hóa Công  ngự trên trời cao, v́ thế  tín đồ  gọi Ngài là   Đấng Cao Đài.   V́ thông phần bản thể với Trời, nên mỗi  người  sẽ  được kết hợp với Trời trong mai hậu. Muốn được như vậy th́ phải sống theo những lời giáo huấn của Trời. 

Đấng Cao Đài  thấu suốt  mọi hành vi của con người dù thầm kín tới đâu, v́ thế con mắt được  Đạo dùng làm biểu tượng  của Ngài.

 Các tín đồ tin rằng những lời giáo huấn được ban ra  qua nghi thức  Giáng Cơ bởi chính Đáng Cao Đài hay các vị thánh của Ngài.   Đó là thiên ư của ngài. Ngài thưởng những ai sống trọn theo thiên ư khi c̣n sống, th́ khi chết được về kết  hợp với Ngài nơi chốn cực lạc.  Ngài chỉ phạt những ai không trọn vẹn theo thiên ư.   H́nh phạt là luân hồi thống khổ  chỉ trong kiếp người.

Con mắt  biểu tượng của Đạo nhắc cho  người tín đồ  Việt  nghĩ tới Trời đang nh́n ḿnh. Chính nhờ vậy mà nhiều người không dám làm điều thất đức kẻo Trời phạt. Con mắt đó  nhắc cho người tín đồ Việt  nhớ tới  câu  tục ngữ :Trời có mắt.  Câu tục ngữ này  cha ông luôn luôn nhắc  nhở  cho con cháu về mặt luân lư mỗi khi con cháu toan tính làm những ǵ thất đức hại người.   Rất có thể  nhờ lời nhắn nhủ đó mà người Việt  luôn luôn nhớ tới Trời mà mỗi lần nhắc tới Trời là nghĩ ngay đến bổn phận ḿnh  là hiếu thảo với cha mẹ, ông bà  lúc sống cũng như lúc chết

 

Đạo có những đặc điểm sau đây :

-Cao Đài Giáo có  phần Tế tự Trời bổ túc cho Đạo Thờ Trời và Sùng bái Tổ Tiên  ( trước kia  người Việt chỉ  được phép cầu khẩn Trời c̣n quyền Tế Tự Trời dành cho nhà vua, nhưng nay vua không c̣n nữa)

-H́nh phạt cho kẻ làm điều ác đức chẳng hạn  bất hiếu với cha mẹ  : luân hồi thống khỗ  chỉ trong kiếp người

-Phần thưởng : chốn cực lạc nơi Đức Cao Đài ngự

 
   

6- Các tôn Giáo Ngoại  du nhập

    A-   Gốc từ Ấn Độ nhập vào miền Nam và Miền Trung Việt Nam qua ngả  Nam Dương  và Mă Lai   ( khoảng thế kỷ 2 - thế  kỷ 4)

 1-Sơ qua về  văn hóa Ấn  sinh ra  2 tôn giáo chính: Ấn Giáo và Phật Giáo

-Thời Văn hóa  Veda  thế kỷ 15 - thế kỷ  10  trước Tây Lịch) :

  Kinh Thánh Veda  của văn hóa này cho biết Người Ấn tin Đấng Hóa Công   dựng nên Vũ Trụ. Ngài được gọi là Brahma hoặc Prajapati .  Prajapati có nghĩa l à vua các tạo vạt .  Theo  Kinh Rigveda, Thượng Đế  Prajavati dựng nên  con người

                 Đầu Ngài   sinh ra  giai cấp brahmnans

             Cánh tay ngài sinh ra  giai cấp chiến binh

                Thân ngài sinh ra  giai cấp  thương gia và tiểu công nghệ

                Chân ngài sinh ra  giai cấp   hạ lưu.

Chính v́  truyền thuyết này mà  Xă hội Ấn là  Xă hội giai cấp

 

Thời Văn hóa  Bà La Môn thế kỷ 7  trước Tây Lịch)

Kinh Thánh Upanisads  của văn hóa này cho biết người Ấn tin vào Bản thể Tuyệt Đối của  Vũ Trụ. Bản thể đó được gọi là Brahman.   Brahman là căn nguyên phát xuất ra con người và muôn vật  bằng cách thông phần bản thể  cho muôn loài. Thời này xuất hiện Phật Giáo của Đấng Thích Ca Mầu Ni

 

-Thời  văn hóa  tổng hợp Ấn  ( cả Veda và Bà la môn) (thế kỷ 1 Tây Lịch)

 th́  Kinh Thánh Bhagavad Gita  xác nhận rằng  người Ấn  tin Bản thể Tuyệt Đối của Vũ Trụ dưới 2 dạng cùng một lúc là  Thượng Đế hữu ngă  ngôi vị ( Brahma) cai quản vũ trụ,  và Thượng Đế vô ngă hay Nguyên lư  ( Brahman) thông phần Bản Thể  cho muôn loài.

 

Thời  Trung cổ  

Người Ấn  tin  vào Thượng Đế hữu  ngă  c ó 3 ngôi vị :  

Thần Brahma  (ngôi I): nhiệm vụ sáng tạo

Thần  Vishnu (ngôi 2): nhiệm vụ duy tŕ

 Thần  Shiva (ngôi 3): nhiệm vụ  phá huỷ

 

 2-   Đồng Dị  giữa  Phật Giáo & Ấn Giáo 

Nằm trong văn hóa Ấn độ, mà văn hóa này đă chủ trương thuyết luân hồi, nên Phật Giáo cũng  theo chủ thuyết này.  Phật Giáo xuất hiện từ thế kỷ 6  trước Tây Lịch. Ở  thời đại  thế kỷ này thời Kinh Thánh Upanisads  (Văn hóa  Bà La Môn  thế kỷ 7  trước Tây Lịch), văn hóa Ấn Độ  về mặt Thần  Linh chủ trương Bản thể Tuyệt Đối của  Vũ Trụ  sinh xuất ra vũ trụ   Cả hai tôn giáo  đều cho rằng : con người  là  một phân thân của Bản Thể Tuyệt Đối.  V́ là phân thân, nên   trong con người có Bản Thể   Tuyệt Đối của Vũ Trụ ngự Trị.

 Bản Thể  này  Ấn Giáo gọi là Brahman, Brahman khi tiềm ẩn trong con người th́ được gọi là  Atman. 

 C̣n Phật Giáo gọi Bản Thể  này  là Chân Như Bản Thể, Chân Như khi tiềm ẩn trong con người th́ được gọi là  Chân Tâm   hay Phật Tánh

 

Nhưng hai tôn giáo này  có những điểm khác nhau :

 Khác nhau về  Phần Thần

Ấn Giáo:  con người gồm có : phần Thần+ phần Nhân Tâm  + phần Thân xác .   Phần Thần v́  là phân thân của Bản Thể Tuyệt Đối của vũ trụ, nên bất tử  không bị  luật luân hồi chi phối.  Chỉ có phần Nhân Tâm và phần Thân xác là bị luật luân hồi chi phối.. Phần Thần là  bản ngă  của con người, bởi vậy con người là một cá thể, 

 

Phật Giáo:   Cái phần Thần mà Ấn Giáo  chủ trương là  bản ngă   th́  Phật Giáo  chủ trương là ngă không

Xin dẫn chứng bằng lư luận của Đức Phật trong Kinh Địa Tạng. Lư luận như thế này : Tâm mỗi con người là một  giọt sương. Giọt  sương phản chiếu toàn ánh sáng của mặt trời Tâm Duy Nhất. Lúc c̣n giọt sương th́ thấy có một mặt trời to trên cao và mặt trời nhỏ dưới đất, nhưng khi tan sương rồi, mặt trời nhỏ đó đi đâu ?

Thưa rằng không đi đâu hết. Sương h́nh tướng không c̣n, nhưng ánh sáng của  mỗi giọt sương th́ nguyên vẹn đầy đủ ở mặt trời Tâm Duy Nhất .Mặt trời Tâm Duy nhất  chính là Chân Như, chính  là Bản Thể Tuyệt Đối vô biên

 

Khác nhau về  Bản thể Tuyệt Đối 

Ấn Giáo:   nh́n nhận Bản thể Tuyệt Đối  vừa  là  Thượng Đế hữu ngă  tức là Thượng Đế có ngôi vị, thống trị vũ trụ (Brahma) vừa là  Nguyên Lư

C̣n Phật Giáo không muốn chấp nhận quan điểm này. Phật Giáo chỉ muốn nh́n Bản thể Tuyệt Đối   là Nguyên Lư mà thôi

 

Khác nhau về  luân hồi và giác ngộ

- Ấn Giáo   công nhận con người có thần ngă  cá biệt mà thần ngă này th́ tồn tại vĩnh cửu, không bị luân hồi. chỉ có phần nhân tâm luân hồi mà thôi  mà  chỉ có luân hồi trong kiếp người.  Nếu  tu thân  mà đạt được giác ngộ, th́ khi chết đi sẽ trở thành thần minh.  Phần lớn người Ấn Giáo tin rằng nếu được giác ngộ, th́ thần ngă  sẽ kết hợp với Thượng Đế, nhưng vẫn c̣n là một cá thể riêng biệt.

C̣n Phật giáo th́ chủ trương vô nhân ngă  nghĩa là ngă không  nơi con người.    Phần  thần vẫn là  Bản thể Tuyệt Đối ẩn sau con người vô thường..  Cả con người vô thường  bị luân hồi.   Luân hồi  c ó 6 nẻo : thiên, nhân, atula, ngă quỷ, súc vật  và địa ngục.  Trong truyện Vu lan, mẹ Thầy Mục kiều Liên bị phạt trong cảnh giới  Ngă Quỷ. Ngă Quỷ là một trong 6 cảnh giới luân hồi     Về Giác Ngộ Phật Giáo tin rằng nếu được giác ngộ, th́ Chân  Tâm trong con người sẽ lộ h́nh ra. Hay nói cách khác  con người biến vào  vô biên, biến vào  Chân Như bản Thể. của  Vũ Trụ  (  Đó là trạng thái Niết Bàn)

Khác nhau về  Kiếp Luân Hồi diễn tiến thế nào ?

Ấn Giáo  không có đề cập tới

Phật Giáo  Luân Hồi diễn tiến như sau:     Kiếp người  bắt đầu từ hạt nhân. Hạt nhân  này chính là cái  thần thức  nằm sẵn trong những chủng tử nghiệp lực  chốn tàng thức vô h́nh nơi chân không.

 Thần thức bị kích động  bởi những làn sóng quang minh của những chủng tử nghiệp lực, liền đột khởi từ chốn  tàng thức vô h́nh lăng đăng từ nhiều kiếp mà gán vào môi trường h́nh chất.

H́nh chất này được tạo ra  do sự phối hợp cái trứng của bà mẹ và tinh trùng của ông cha. Hạt trứng và tinh trùng chỉ là cái duyên, chứ không phải là cái nhân.

Thần thức quyện dần những cực vi thể chất để từ từ phát hiện thành h́nh hài trong bào thai gồm đủ ngũ uẩn: sắc, thọ tưởng, hành thức nhưng các căn th́ mới chỉ có  ư căn và thân căn     Sau đó h́nh hài (cục sữa) tăng trưởng là do những trận phong luân vi tế của  chủng tử nghiệp lực. Đến lúc thêm 4 căn nhăn nhĩ tỵ thiệt cho đủ lục căn th́  thần thức  chui ra khỏi bào thai thành hài nhi.

Hài nhi tiếp xúc với thế giới bên ngoài và nhờ đấy phân biệt được  khổ vui, hoặc không khổ không vui. Hài nhi lần lượt có cảm giác khoái lạc, cảm giác đói, những cảm giác này dần dà thành tập nhiễm. Con người đă trưởng thành, Họ ưa ngũ dục : tài sắc  danh thực thuỳ. Họ khát vọng hưởng thụ ngũ dục. Họ bám vào các sự vật ở đời. Từ từ họ tạo ra các nghiệp thân khẩu ư. Đó là những mê lậu, vô minh của thân tâm hiện tại

 
   

 3- Ảnh hưởng  Phật Giáo & Ấn Giáo  vào Văn hóa Việt      

Thành thực  mà nhận định rằng cả hai tôn giáo  Phật Giáo & Ấn Giáo  đă ảnh hưởng đến ḷng đạo đức  đời sống luân lư người Việt  rất cao, chẳng hạn các phương pháp tu thân gồm :  ngũ giới, ,  Từ Bi Hỉ Xả ,  và lục độ 

Để tu thân người Việt  đă đón tiếp nơi Phật Giáo   Bát Chánh Đạo (đă nói tới ở mục Phật Giáo Ḥa Hảo )

Để tu thân người Việt  đă đón tiếp nơi Ấn Giáo phương pháp Thiền   của Giáo phái Yoga.

Đây phương phápThiền:

-Tọa Pháp : tức là thực hành tư thế ngồi để  định thần

-Điều tức :  nghĩa là  điều ḥa  hơi thở

-Chế cảm  tức là đừng để các giác quan bị ngoại cảnh quấy nhiễu

-Chú  Tâm vào một vấn đề ǵ

-Tham thiền: tức là tĩnh lặng tập trung suy niệm vấn đề ǵ

-Xuất thần: nghĩa là cố  thoát khỏi ṿng kiểm tỏa của thân tâm

   Thiền làm cho  thể xác  khỏe mạnh, thoải mái, đồng thời làm cho  tâm thần con người bay cao lên khỏi những phiền trược  của dời sống  biến thiên của con người

 

Các tương Phật trong  miền Nam Việt Nam  và các Tháp Chàm  miền trung  Việt nam  là các bằng chứng  lối  điêu khắc  chạm trổ  tài tỉnh và lối kiên trúc tuyệt vời của  2 tôn giáo:   Ấn Giáo và Phật Giáo xuất phát từ Ấn Độ.      

 
   

 B- Từ Trung Hoa,  Lăo Giáo và Nho Giáo  nhập Việt nam

                         vào khoảng thế kỷ 2

 

Văn hóa  Trung hoa vào thế kỷ 6 trước Tây Lịch sản xuất ra  2 tôn giáo Lăo Giáo và Nho Giáo

 Hai tôn giáo này có  những điểm đồng  dị  với nhau

 

- Điểm đồng 

Hai tôn giáo đều công nhận Trời là bản Thể tối cao của v ũ trụ.. Bản thể này thông phần Bản thể cho vạn vật trong đó có con người.. Chính v́ sự thông phần đó mà Trời được hiểu là  ở khắp mọi nơi, chỗ nào cũng có Trời

Hai tôn giáo  đều  không  đề  cập  tới  đời sống mai hậu, sau khi thân xác chết  đi,   mà chỉ  đề  cập  tới   sự phối hợp với Trời   nếu chu toàn đạo lư.  Nhưng về đạo lư th́  Lăo Giáo chú trọng vào sống theo quy luật thiên nhiên, c̣n Nho Giáo chú trọng vào sống theo  đức Nhân

 

Điểm dị

Lăo Giáo  chú trọng đến phần Thể hay Tĩnh của Bản Thể  c̣n Nho Giáo Chú trọng đến phần  Động c ủa  Bản Thể

Những điểm đồng dị này  dễ nhận ra khi khảo sát   2 tôn giáo này 

Lăo Giáo

 Lăo Giáo   lư luận rằng   con người có 2 phần

Phần Thiên: phần bất biến vĩnh cửu, bất sinh bất diệt v́  nó  là  phân thân của  Bản thể Tuyệt Đối của  Vũ Trụ. Đó là  Đạo, Thái Cục,  Thiên Tâm

 

  Phần Nhân:  phần biến thiên, ảo hóa. Đó là thân xác và nhân tâm.  Thân xác th́ có 6 căn: mắt , tai, mũi , lưỡi, thân ư.    Nhân tâm được gọi là Hồn.   Nhân tâm th́ mừng , giận, buồn, vui yêu ghét .

Trong con người, cái tâm mà chân chính th́ được gọi là  thiên tâm.  Thiên tâm chính là Nê hoàn. Nê hoàn Cung  trongTrung Tâm Đầu Năo con người chính là nơi Thượng Đế  ngự trị .  Đó chính là  nơi mà con người có thể siêu thăng hợp nhất với Thượng Đế.  Theo các đạo gia của Lăo Giáo, nếu muốn phối hợp được với Trời  (Đạo), thỉ con người phải sống theo đạo lư    Trời muốn: là con người phải sống  theo quy luật  thiên nhiên, đời sống  giản dị, không màng vụ lợi, tránh ích kỷ, tránh thèm muốn, tránh thiểu xảo, sống ḥa nhịp, bằng ḷng , yên tĩnh, ḥa b́nh, ḥa hợp với thiên nhiên.  Từ suy nghĩ này, Lăo Giáo chủ trương  một nền luân lư cá nhân để điều khiển bản thân. Mỗi người nếu muốn được hạnh phúc th́ nên thoát tục, thanh bần, vô vi, âm thầm, đừng làm mất ḷng ai

Lăo Giáo  biến thể thành   Đạo giáo dân gian   ( từ thế kỷ 1 Tây Lịch do Trương Đạo Lăng)

  Đạo Giáo dân Gian   công nhận Bản Thể  Siêu Việt Vũ Trụ   (Trời)  vừa là vô ngă vừa là  hữu ngă.  Các đạo gia gọi Trời là Đạo ( vô Ngă)  và  gọi  Trời là Ngọc Hoàng Thường Đế  ( hữu ngă)Đạo giáo dân gian tế tự. V́ thế  có  hàng tu sỹ mà người Việt  gọi họ là  ông Đồng Bà Cốt, thầy Phù Thuỷ.   Đạo hướng  về sự mong trường sinh ở cơi đời này, khiến cho các đạo gia khám phá các loại thuốc  từ thảo mộc  và kim loại. Nhờ vậy, khoa vật lư và y khoa phát triển

 
   

Nho Giáo

 

Trên thực tế  Khổng Giáo coi Trời là một Thượng Đế Ngôi Vị, Đấng Hóa Công dựng nên muôn loài, chủ  tể cai trị vũ trụ, cầm quyền sinh tử. Ngài là đấng phán xét, thưởng phạt .

C̣n con Người: một tạo vật đặc biệt. Trời cho hồn thiêng.    Kinh Thư  có câu:  ‘ Đă làm  người ai cũng đều là con của Trời.  Chỉ có con người là linh thiêng hơn vạn vật .’  Trời  lại  cho

 đức nhân  làm nên bản tính con người. Đức Nhân làm nên mối liên hệ giữa Trời với người, và giữa người với người .   Về đức nhân,   Mạnh Tử  (371-289) chủ trương   Nhân chi sơ tính bản thiện.  Khi sinh ra  Trời đă phú cho 4 điều thiện: biết thương xót, biết hổ thẹn, biết khiêm nhường và biết điều phải trái.  Quan điểm  của Mạnh Tử được Chu Hy (1130-1200 ) hậu thuẫn trong luận đề nhân tánh có 2 yếu tố:  Lư và Khí.     Quan điểm  của Mạnh Tử  cũng được   Vương  Dương  Minh (1472-1528)  hậu thuẫn trong luận đề nhân tánh có 2  phần: Lương tâm và Tư tâm

Đức Nhân

Theo phái Lư của Chu Hy  và pháiTâm học  của Vương  Dương  Minh  th́ Nhân là  đức  của Trời Đất tràn lan khắp vũ trụ  ở ngay trong ḷng ḿnh, trong ḷng mỗi người  và  trong ḷng xă hội.   Nhân là sự sống , là t́nh thương là  Lư là  Thái Cực . Nhờ Nhân mà con người có thể  phối kết với Trời : thiên nhân hợp nhất

Thiên mệnh

Theo chủ thuyết Khổng Giáo, con người có  thiên mệnh Thiên mệnh là thực thi đức nhân. Thực thi thế nào? Thưa : khai triển  cái ḷng nhân  trong cuộc sống: yêu tha nhân, giúp đỡ tha nhân, tạo xă hội an b́nh . Muốn biết thiên mệnh  (sách Trung Dung) th́ hăy nghe tiếng lương tâm. Lương tâm  luôn luôn dạy làm điều cao đại ,  từ bi hỷ xả ,  coi người như ḿnh, trọng nghĩa khinh lợi.

Nếu tri mệnh và thực thi thiên mệnh tới nơi  tới chốn th́ con người được phối hợp với Trời trong hạnh phúc.

 

Ảnh hưởng  của Lăo Giáo và Nho Giáo vào Văn hóa  Việt

 

 Lăo Giáo ảnh hưởng tới lối sống người Việt: 

     

  - thích ứng với mọi hoàn cảnh của cuộc sống.   không oán thán thiên nhiên, không oán thán ai, vui với ǵ ḿnh có .

   -Tấm Bát Quái tượng trưng  cho Thượng Đế và vạn vật  trước  cửa  nhiểu nhà người Việt

    Riêng Đạo giáo dân gian ảnh hưỡng sâu đặm  vào giới b́nh dân  Việt :

  -rằm tháng bảy,  lễ cúng cô hồn, nấu cháo vảy khắp nơi cho các cô hồn ăn

  - cúng táo quân vào dịp tết nguyên đán, tiễn táo quân về Trời báo cáo cho Ngọc Hoàng Thượng Đế biết những ǵ xẩy ra ở trần gian ở từng gia đ́nh. Nếu cúng táo quân cho đàng hoàng, th́ Táo quân sẽ giúp đỡ cho gia đ́nh ḿnh nhiều thuận lợi trong năm tới.

 

Nho Giáo ảnh hưởng tới hành vi người Việt

  -Học thuyết chữ Nhân  đi vào tâm trí người Việt:   Cá nhân  tốt th́ gia đ́nh  tốt, gia đ́nh tốt  th́ cộng đồng tốt, cộng đồng tốt th́ quốc gia  tốt ,    quốc gia tốt th́ xă hội an b́nh và hạnh phúc

 

Ngũ luân: Nhân, Nghĩa, Lễ , Trí, Tín đă đi sâu vào tâm khảm người Việt để hướng dẫn hành vi của họ. 

 
   

C-    Từ   Mă Lai và Nam Dương

        Hồi Giáo  nhập vào  Miền Trung Việt Nam vào khoảng thế kỷ 10

 

  Hồi Giáo 

tin vào một Thượng Đế uy quyền , Đấng dựng lên vũ trụ  và  muôn loài. Hồi Giáo gọi ngài là Đấng Allah.

 

Từ đâu con người xuất hiện ?

 Đức Allah dùng bùn mà dựng nên con người đầu tiên. Đức Allah lấy những giọt hỗn hợp chứa  tinh trùng đàn ông và trứng  của đàn bà ( những giọt đó được gọi là  Nutfah) mà tác tạo nên mỗi người chúng ta ( Koran 16 :4 và  76 :2)

 

Con người sẽ đi về đâu ?-

Theo  Thiên Kinh Koran th́ chết  không phải là  hết mà nó mở cửa cho một cuộc sống cao hơn ( Koran 56 : 61) Con người sẽ sống lại để  lĩnh thưởng hay bị phạt v́ những việc làm của ḿnh khi c̣n sống ở trần gian. Ai được thưởng  th́ lên Thiên Đàng, ai bị phạt th́ xuống Hỏa ngục

Tuy nhiên từ lúc chết cho đến ngày sống lại để chịu phán xét ,   linh hồn nằm trong mồ , nghĩa là  linh hồn đi theo xác  xuống mồ   và ở đó.

 

Nếu muốn được thưởng ở  đời sống  mai hậu, th́  khi c̣n sống , người tín đồ  phải  tuân giữ luật lệ được ghi chép trong thiên kinh Koran nghiêm nhặt và

phải kinh nguyện  ( salad) mỗi nghày 5 buổi

Kinh nguyện ban dáng trước khi mặt trời mọc ( fajr)

Kinh nguyện sau trưa ( Asr)

 Kinh nguyện ban chiều trước mặt trời lặn ( Zuhr)

Kinh nguyện lúc hoàng hôn (Maghrib)

Kinh ngưyện giữa đêm khuya()Isha) Koran 17-18)

 

Tín đồ Hồi Giáo  là người Việt gốc Chiêm Thành. Con số tín đồ  không có nhiều lắm

 
 

 

  D-    Từ Tây Phương ,Thiên Chúa Giáo du nhập Việt Nam 

                          vào  khoảng thế kỷ 16

Thiên Chúa Giáo cũng gọi là Kitô Giáo v́  Đấng sáng lập  đạo là  Đức Giêsu Kitô..  Tôn giáo này  tin vào Thiên Chúa , Đấng Sáng Tạo vũ trụ. Vũ trụ này không  tự nó mà có. Nếu vũ trụ vẫn có từ thủa đời đời, th́ từ đời đời Thiên Chúa đă sáng tạo ra nó, và sự hiện hữu cũng như sự trở thành  của vũ trụ vạn vật hoàn toàn lệ thuộc vào Thiên Chúa.   Thiên Chúa th́ siêu việt (transcendent ): nghĩa là phép tắc vô  cùng thông minh vô cùng, trọn tốt trọn lành, vĩnh cửu, vô biên  ở khắp mọi nơi. 

Tôn giáo này  tin  rằng Con người  gồm có  linh hồn và thân xác.    Linh hồn được Thiên Chúa tạo dựng giống h́nh ảnh của Ngài  nghĩa là có tính siêu việt, trí thông minh và tự do.  V́  có tính siêu việt, trí thông minh và tự do, nên con người  t́m kiếm Chân Thiện Mỹ về luân lư, Con người t́m tự do theo tiếng lương tâm, con người ước ao hạnh phúc vô biên và Con người thắc mắc về sự hiện hữu của Thiên Chúa. 

 
   

Tôn giáo này  tin  rằng Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi ban con một  của ḿnh  xuống  trần gian  để  ở với loài người..Thiên Chúa yêu thương con người  th́ Thiên Chúa cũng muốn con  người  yêu mến Ngài bằng cách   tuân theo Thánh Ư Ngài mà Thánh Ư Ngài   nằm gọn trong cụm từ Mến Thiên Chúa yêu người :  Mến Thiên Chúa th́ phải yêu người. Nếu  yêu người th́ mới mến Thiên Chúa.

-Để  mến Thiên Chúa, th́ phải thờ phượng Ngài,  phải tin vào Đức Giêsu, con của  Ngài  ,phải diệt trừ  tội lỗi.  - Để yêu người th́ phải  tha thứ  những xúc phạm của anh em, phải yêu cả kẻ thù của ḿnh nữa.

 

Luật mến Chúa và Yêu người của Kitô Giáo

được tóm tắt  trong 10 giới Răn và Tám Mối Phúc Thật .

 

 Mười Giới Răn  

 -Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi. Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với Ta.   Ngươi không  được tạc tượng  vẽ h́nh bất cứ vật  ǵ  để mà   thờ-

- Ngươi không được dùng danh  Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi một cách bất xứng, v́ Thiên Chúa không dung tha kẻ dùng danh Người một cách bất xứng.

- Ngươi hăy giữ  ngày Sabát ( Ngày Chủ Nhật) mà coi đó là ngày thánh như Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi đă truyền cho ngươi. Trong  6 ngày, ngươi sẽ lao động. C̣n ngày Sabát ( Chủ Nhật) ngươi phải kính Đức Chúa Thiên Chúa của ngươi.

- Ngươi hăy thảo kính cha mẹ, như Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi đă truyền cho ngươi

- Ngươi không được giết người     

- Ngươi  không  được ngoại t́nh

- Ngươi  không được trộm cắp

- Ngươi không được làm chứng dối hại người

- Ngươi không được ham muốn vợ người

- Ngươi không được thèm muốn của cải, nhà cửa , tài sản của người

 

Tám Mối Phúc Thật  ( Mt 5,1-12)

Thấy đám đông, Đức  Giêsu lên núi, Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên. Người mở miệng dạy họ rằng :

Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, v́ nước Trời là của họ.

Phúc thay ai hiền lành, v́ họ sẽ được đất Hứa làm gia nghiệp

Phúc thay ai sầu khổ , v́ họ  sẽ được Thiên Chúa ủi an

Phúc thay ai khát khao nên người công chính, v́ họ sẽ được  Thiên Chúa cho thoả ḷng

Phúc thay  ai xót thương người v́ họ sẽ được Thiên Chúa xót thương

Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch v́ họ sẽ được nh́n thấy Thiên Chúa

Phúc thay ai xây dựng ḥa b́nh  v́ họ sẽ được goị là con Thiên Chúa

Phúc thay ai bị bách hại v́ sống công chính, v́ nước Trời là của họ.

Phúc thay anh em khi v́ Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa.  Anh em hăy vui mừng hớn hở, v́ phần thưởng dành cho anh em ở trên Trời thật lớn lao.  Quả vậy các ngôn sứ là những người  đi trước  anh em  cũng bị người ta bách hại như thế

 

Thiên Chúa Giáo tin có Thiên Đàng, Hoả Ngục, Luyện Ngục. Những ai tin vào Thiên Chúa t́nh thương và tuân giữ Luật  Mến Chúa Yêu Người th́  được thưởng  vào  Thiên Đàng ( Nước Trời)

 

Thiên Chúa Giáo tin rằng  con người SỐNG MỘT LẦN và CHẾT  MỘT LẦN

 
   

Ảnh hưởng  của Thiên Chúa Giáo vào Văn hóa  Việt

Các cơ sở bác ái như  các Trại Cùi   ( Di Linh   tỉnh Bảo Lộc và Quy Ḥa tỉnh B́nh Định), đă được  Thiên Chúa Giáo thiết lập đă  kích động  người   dân Việt  nghĩ đến  những người  bị Xă Hội  bỏ rơi.   Trong các bệnh viện điều trị  các bệnh nguy hiểm , chẳng hạn bệnh Lao, có bóng các nữ tu Thiên Chúa Giáo chăm sóc bênh nhân.  Tất cả các sự kiện nêu trên  đă phát động tâm hồn vị tha, từ bi hỷ xả  của người Việt....

    Người viết : Phạm xuân Khuyến