Văn Hóa  Vùng  Đông Bắc Viêt Nam

Planets

 

Lần trước  các quí vị đă có dịp t́m hiểu văn hóa vùng Tây Bắc Việt. Nếu quí vị muốn coi lại xin click   Văn  hóa Tây Bắc Việt.   Lần này xin mời  quí vị  cùng chúng tôi  t́m hiểu văn hóa vùng Đông Bắc Việt

 
   

        I-    Ranh giới & Địa h́nh  & Khí hậu của vùng Đông Bắc

 

Ranh giới

- Phía Bắc Giáp Trung Quốc,

- Phía Đông tiếp giáp vịnh Bắc Bộ thuộc Quảng Ninh.
- Phía Tây giáp khu Việt Bắc với ranh giới là sườn phía Tây dăy núi cánh cung Ngân Sơn và sườn Bắc của dăy Tam Đảo.
- Phía Nam là vùng đồi thấp giáp đồng bằng sông Hồng, chạy dọc phía Nam các dăy núi cánh cung Đông Triều, Bắc Sơn, Tam Đảo nối với đồng bằng sông Hồng.

 

Địa h́nh

- đồi núi thấp,:đá vôi hiểm trở,  nhiều thung lũng, sườn dốc Máng trũng.

Khí hậu

Mùa Đông: Chịu ảnh hưởng mạnh mẽ gió mùa Đông Bắc.Mùa lạnh đến sớm, kết thúc muộn, Có hiện tượng sương muối, sương giá, tuyết rơi.

Mùa hạ :Chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam nên mưa nhiều, mùa mưa kéo dài 5 tháng. Số ngày mưa ít: 80 -90 ngày.

     II-  Các tỉnh của vùng Đông Bắc

Vùng đông Bắc Việt có 7 tỉnh:  Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên,Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh.Trong số 7 tỉnh này có 4 tỉnh  chung biên giời vời Trung Quốc.    Đó là   Hà Giang, Cao Bằng ,  Lạng Sơn và Quảng Ninh.

   

Ở Tỉnh  Hà Giang, cột mốc biên giới số 261 chính là cửa khẩu Thanh Thủy thuộc địa phận xă Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên, cách thành phố Hà Giang 22 km về phía Tây Bắc, đối diện với cửa khẩu Thiên Bảo (Tianbao), huyện Malipo, châu Văn Sơn, tỉnh Vân Nam, là cửa khẩu quốc tế duy nhất tại Hà Giang.

Ở Tỉnh Cao Bằng  cột mốc biên giới số 846 chính là cửa khẩuLư Vạn, thuộc xă Lư Quốc, huyện Hạ Lang, Cao Bằng

   

Ở Tỉnh  Lạng Sơn cột mốc biên giới số 1116 mang danh hiệu Hu Nghị Quan

Ở Tỉnh  Quảng Ninh cột mốc biên giới số1305

Các tỉnh  Đông bắc Việt   dân cư không có đông  lắm. Chỉ có   2 tỉnh  Thái Nguyên và Quảng Ninh   mỗi tỉnh số dân trên một triệu người,,  c̣n các tỉnh khác  mỗi tỉnh số dân dưới một triệu.

Dân cư các tỉnh vùng Đông Bắc gồm  nhiều dân tộc : Kinh, Tày, Nùng, Sán D́u, Sán Chay, Dao, H’Mong ( Mèo), Hoa,  Thổ, La Chí, Mán, Giáy, Lô Lô. Các tỉnh Thái Nguyên và Quảng Ninh th́ người Kinh chiếm phần đa số, c̣n các tỉnh khác th́ người các dân tộc thiểu số  chiếm phần đa số.  Chẳng hạn ở tỉnh Hà Giang, người H’Mong và người Tày chiếm phần đa số.    Nh́n tổng quát, th́ ngoài người Kinh,  th́  thấy hầu như tỉnh nảo cũng thấy người H’Mong.Tày, Dao, Nùng., c̣n  th́ về các dân thiểu số khác, có tỉnh này có, có tĩnh không.

  III-     Vùng Đông Bắc có một số địa danh Lịch sử

 

 1 -  Sông Bạch Đằng, hiệu là sông Vân Cừ,

       là một con sông chảy giữa thị xă Quảng Yên (Quảng Ninh) và huyện Thủy Nguyên (Hải Pḥng),  trong hệ thống sông Thái B́nh. cách vịnh Hạ Long, cửa Lục khoảng 40 km.

Sông Bạch Đằng là con đường thủy tốt nhất để đi vào Hà Nội (Thăng Long ngày xưa) từ miền nam Trung Quốc, từ cửa sông Nam Triệu các chiến thuyền đi vào sông Kinh Thầy, sông Đuống và cuối cùng sông Hồng đoạn chảy qua Hà Nội.

Sông Bạch Đằng nổi tiếng với 3 chiến công của dân tộc Việt Nam:

Trận thủy chiến sông Bạch Đằng năm 1288: Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đại thắng quân xâm lược Mông Nguyên (trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ ba.

Tỉnh Quảng Ninh với bề dày lịch sử của ḿnh là những di tích nổi tiếng như:

 -Băi cọc Bạch Đằng:Nay thuộc thị xă Quảng Yên,

   -Thương cảng Vân Đồn:Trận hải chiến chống quân Nguyên Mông của tướngTrần Khánh Dư.

   -  Khu quần thể lăng các vua Trần.

   - Núi Yên Tử: Nơi phát tích Thiền phái Trúc Lâm..

 

  2- Ải Nam Quan

       nằm ở địa đầu tĩnh Lạng Sơn, cách Hà Nội 167 km về phía Đông Bắc.

 

Ải Nam Quan là nơi ông Nguyễn Trăi khóc cha là ông Nguyễn Phi Khanh.   Ông  này làm quan cho nhà Hồ,. Năm 1407, khi quân nhà Minh xâm lược nước Việt, Ông  tham gia đánh nhau với Tầu, nhưng bị thua và bị bắt giải về Trung Quốc, qua cửa Ải Nam Quan.  Nguyễn Trăi theo Cha đến tận Ải Nam Quan với hai hàng lệ lă chă, chia tay thân phụ ngay tại cổng Ải, rồi về lại quê nhà,  t́m Minh Chủ  Lê Lợi để giúp nước theo lời cha.

 Ải Nam Quan  cũng là nơi  biết bao binh tướng Trung Quốc vào dày xéo lănh thổ Việt, rồi mua lấy thất bại chua cay hoặc bỏ thây trên quê người hoặc nhục nhă xác xơ chạy trối chết qua cửa nầy về Trung Quốc như Thoát Hoan (nhà Nguyên), như Liễu Thăng (nhà Minh), như Tôn Sĩ Nghị (nhà Thanh).

Tiếc thay! ngày nay Ải Nam Quan  lùi xa vào phần đất của Trung Hoa, dưới thời Xă hội chủ nghĩa .

 
 

 

3-  Ải Chi Lăng:

Ải Chi Lăng là một địa danh chống  Trung Quốc xâm lược thời:  nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh, nhà Thanh . Nơi đây 10/10/1427, viên Tướng xâm lược LIỄU THĂNGbị quân ta chém bay đầu .

Ải Chi Lăng là một tử địa v́ địa thế hiểm yếu thập nhân khứ, nhất nhân hoàn (10 kẻ đi chỉ 1 kẻ quay về được) :  Với chiến lũy h́nh thang cùng hệ thống đầm lầy, sông suối, núi non hiểm trở , nó luôn là bức tường thành từ xa của kinh đô Thăng Long ngăn bước viễn chinh quân xâm lược phương Bắc.

Năm 1077, Lư Thường Kiệt đánh tan quân xâm lược Tống.

Năm 1285, Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn dùng chiến thuật hố bẫy ngựa, phục binh dùng mă tấu phạt đứt chân ngựa, tiêu diệt bọn Nguyên Mông thiện chiến. Năm1427 Quân Lam Sơn do tướng Lê Sát của Lê Lợi chỉ huy tiêu diệt đạo quân gần 10 vạn người của nhà Minh do An Viễn hầu Liễu Thăng chỉ huy.

( Xin mời nghe bàn nhạc về Chi Lăng.  Xin click    Ải  Chi Lăng

4--Khu di tích Pác Bó lịch sử cách mạng Cộng Sản

          thuộc bản Pác Bó xă Trường Hà huyện Hà Quảng tỉnh Cao Bằng.

 Khu di tích bao gồm: nhà tưởng niệm Bác Hồ,  núi Các Mác, suối Lê nin, hang Pác Bó nơi Hồ Chí Minh đă sống và làm việc.

5-Thành nhà Mạc

 nằm trên địa phận tổ 7, phường Tân Quang, thành phố Tuyên Quang. Thành được xây dựng từ năm 1592, thời nhà Mạc và được sửa chữa vào thời đầu nhà Nguyễn (thế kỷ 19)

 
   

 IV-     Tín ngưỡng  của dân cư vùng Đông Bắc

1-   Vùng  này có những  tục sau dây:

      Tục thờ cúng thần đất, thần lúa

      Tục thờ cúng tổ tiên,

      Tục thờ phụng những người anh hùng dân tộc có công với nước, có công khai làng, lập ấp, Hầu như phường xă nào ở thành phố cũng đều có nhân vật lịch sử, có đền, có miếu thờ. Nhân vật lịch sử được thờ phụng nhiều nhất là Pḥ mă triều Lư Dương Tự Minh, Đức thánh Trần Hưng Đạo, danh nhân lịch sử Đội Cấn, Lương Ngọc Quyến

 

  2- Về  tôn giáo

         

   Có 5 tôn giáo: Đạo  Phật, Đạo Tin Lành,  Đạo Công giáo, Đạo Cao Đài Đạo Hồi . Các tôn giáo này luôn luôn  bị nhà nước Xă hội Chủ nghĩa kiểm soát chặt chẽ.  Riêng về Phật Giáo, th́ chỉ có Phật Giáo Quốc Doanh được tự do hoạt động, c̣n th́ Phật Giáo Việt Nam thống Nhất bị kiểm chế triệt để.

 

- Đạo  Phật

    có khoảng 100 chùa, gần 50 đền và khoảng 100 đ́nh ở Thái Nguyên, có 3.302 người ở Quảng Ninh, không rơ số người ở tỉnh khác

 

- Đạo Tin Lành

    có  ở   tỉnh Quảng Ninh tập trung  nơi  người Kinh  c̣n ở Thái Nguyên tập trung chủ yếu vào người Mông, người Dao  từ năm 1963

 

 -  Đạo Cao Đài & Đạo Hồi : thy tỉnh Qiảng Ninh nhưng không nhiều tín đồ.

 

- Đạo Công giáo

         Lạng Sơn và Cao Bằng có 5.364 giáo dân ,18 linh mục và 24 giáo xứ, thuộc  giáo phận Lạng Sơn Giám mục hiện nay là Giuse Châu Ngọc Tri.

       ở Thái Nguyên  có 4 xứ đạo do Toà giám mục Giáo phận Bắc Ninh chỉ đạo.

       ở Quảng Ninh  được biết  con số có 19.872 giáo dân, có 27 nhà thờ , 9 giáo xứ gồm 41 họ  đạo nằm ở 8 huyện và thành phố của tỉnh.

     riêng    Hà Giang  có  2 xứ đạo Tân Quang  và Thánh Tâm.

 

Xứ đạo Tân Quang  khởi nguồn từ giáo họ Tân Quang được thiết lập từ năm 1938 với 17 gia đ́nh Công giáo đầu tiên di cư từ miền xuôi lên làm kinh tế mới.

Đến năm 2007 giám mục giáo phận thành lập giáo xứ Tân Quang và cử linh mục Gioakim Đinh Văn Hợp tới coi sóc, nhưng măi đến đầu năm 2010 chính quyền mới chính thức công nhận giáo xứ và chấp nhận cho cha xứ nhập hộ khẩu.

C̣n xứ đạo Thánh Tâm được có ngày hôm nay nhờ vào giáo dân đă phải trả bằng rất nhiều nước mắt, mồ hôi và cả máu nữa để đ̣i quyền sinh hoạt tôn giáo”.  

Hiện nay Xứ đạo Tân Quang  có 1.000 giáo dân thuộc giáo phận Hưng Hóa và giáo xứ Thánh Tâmcó 260 giáo dân thuộc giáo phận Lạng Sơn.. Cả  2 xứ đạo trải qua 70 năm gian kh không có Thánh lễ, không được học hỏi giáo lư  Đời sống đạo của giáo dân vô cùng khó khăn v́ không nhà thờ,  không có linh mục coi sóc, mỗi năm chỉ có một lần linh mục nơi khác đến dâng lễ.

 
   

 V-   Vùng Đông Bắc có nhiều  di tích văn hóa  nổi tiếng

    1/  Văn hóa-lịch sử

               Phải kể  đến  thị trấn Tam Đảo. Gọi là Tam Đảo, v́ ở đây có ba ngọn núi cao nhô lên trên biển mây, đó là Thạch Bàn, Thiên Thị và Phù Nghĩa. Ngọn cao nhất có độ cao tuyệt đối là 1.591 mTam Đảo nằm trên địa bàn ba tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên Tuyên Quang.     

Trên dăy Tam Đảo có những di tích văn hóa-lịch sử nổi tiếng như chùa Tây Thiên đền Tây Thiên (c̣n gọi Đền Mẫu) thờ Quốc Mẫu Tây Thiên Lăng Thị Tiêu. Theo thần thoại, Quốc Mẫu Tây Thiên là do linh khí của núi rừng Tam Đảo hun đúc mà nên. Đầu thế kỷ 20, người Pháp đă lên Tam Đảo và xây dựng một thị trấn ở đây làm nơi nghỉ mát cho các quan chức của chính quyền đô hộ. Tổng cộng có 163 ngôi biệt thự kiến trúc châu Âu đă được xây dựng. Ngày nay, một số đă đổ nát.

          

                                 Ba đỉnh núi Tam Đảo          Lời ca giao duyên của dân tộc Tày - Nùng

2 Di sản văn hóa phi vật thể:

      -Lời ca giao duyên của dân tộc Tày - Nùng

   - Lễ cúng thần rừng của dân tộc Pu Péo,

     - Lễ cúng tổ tiên của dân tộc Lô Lô, tỉnh Hà Giang

     - Lễ cấp sắc là một tập quán xă hội và tín ngưỡng của người Dao, là nghi lễ đánh dấu sự trưởng thành của người đàn ông đến tuổi thành đinh và trở thành một con người xă hội, mới được nhận  làm tín đồ Đạo giáo. Tuổi quy định được cấp sắc từ 12 trở lên.

      -Nghệ thuật hát Then của dân tộc Tày Cao Bằng

      -Nghệ thuật hát Soọng Cô của dân tộc Sán D́u

Câu hát Soọng cô không chỉ được hát ở các buổi giao lưu văn nghệ, các đám cưới, các buổi lễ truyền thống của đồng bào,  mà Soọng cô c̣n được nghe thấy trên cánh đồng, trên nương hay bên cánh nôi của một nhà ấm áp.

           

              Hát Soọngcô của dân tộc SánD́u Lễ cấp sắc của dân tộc Dao

 

 VI - Vùng Đông Bắc có nhiều  khu du lịch nổi tiếng

 

 1-  Khu Tam Đảo

         Do tương đối dốc đứng, nên Tam Đảo có nhiều suối thác nước. Thác Bạc có độ cao 50m, nước sối xuống tung bọt trắng ngay cả vào mùa khô. Cũng v́ dốc đứng, nên hệ thực vật ở đây khá đa dạng và thay đổi theo độ cao. Nhiều loại rau quả ôn đới được trồng ở Tam Đảo và cung cấp cho các vùng xung quanh, nhất là cho Hà Nội. Càng lên cao, các loài cây thuộc họ lá kim càng nhiều. Loài cá cóc, là động vật đặc hữu của Tam Đảo. Vườn quốc gia Tam Đảo rộng 36.883 ha nằm trọn trong dăy núi này. Ở Tam Đảo có nhiều tài nguyên khoáng sản, đáng kể nhất là thiếc.

 
    

  2-  "Khu Công viên Địa chất Cao nguyên đá Đồng Văn" (Hà Giang)  đă được Hội đồng tư vấn Mạng lưới Công viên Địa chất Toàn cầu (GGN) của UNESCO chính thức công nhận là Công viên địa chất toàn cầu.

  3- Hang Pác Bó, thác Bản Giốc , khu nhà nghỉ mát của người Pháp (Tài Soỏng), khu nhà Đỏ (Tatsloom)… (Tỉnh Cao Bằng)

 4:  Hang Phượng Hoàng,& Hang Suối Mỏ Gà của núi Phượng Hoàng

            Hồ Núi Cốc (Tỉnh Thái Nguyên)

 

  Hồ Núi Cốc mang đậm màu sắc huyền thoại nàng Công - chàng Cốc    huyền thoại đầy chất thơ của sông Công, núi Cốc để thấy được sức mạnh dời non lấp biển, khai sơn, phá thạch và sức sáng tạo vô tận của con người.

 

  5 Hồ Ba Bể (Tỉnh Bắc Kạn) là danh thắng thiên nhiên được UNESCO công nhận năm 2011 là khu bảo tồn đất ngập nước, có tầm quan trọng của thế giới và là một trong 20 hồ nước ngọt đẹp nhất thế giới. Hội xuân Ba Bể được tổ chức vào tháng giêng âm lịch hàng năm.

  6-Lạng Sơn có nhiều thắng cảnh nổi tiếng, được nhắc đến trong ca dao dưới đây

Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa

nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh

Ai lên xứ Lạng cùng anh

Bơ công bác mẹ sinh thành ra em

 
 

 

 

    VII - Vùng Đông Bắc có nhiều  Lễ hội

Lễ hội “Kéo chày” độc đáo của dân tộc Pà Thẻn (Hà Giang)

      Lễ hội “Kéo chày” độc đáo của dân tộc Pà Thẻn (Hà Giang)

     Lễ hội xuân hồ Ba Bể (Tỉnh Bắc Kạn) với những hoạt động văn hóa, thể thao hấp dẫn như: hội đua thuyền độc mộc, các tṛ chơi dân gian truyền thống; tận hưởng dịch vụ homestay tại bản Pác Ng̣i, bản Nam Mẫu và thưởng thức hương vị đặc sản ẩm thực vùng hồ

   Lễ mừng nhà mới dân tộc Lô Lô:

   Lễ hội vui xuân của dân tộc H'mông và dân tộc Dao,  sau Tết Nguyên Đán và kéo dài

            từ 3 đến 7 ngày.

   Lễ hội vỗ mông của dân tộc Mông:  ngày mùng 5 Tết Nguyên Đán.

   Lễ hội Lồng Tồng của Tày, Nùng  tức là lễ hội xuống đồng vào mùa xuân,  trên một đám ruộng nhất định trước bản. Mỗi gia đ́nh sẽ đem đến một mâm lễ bao gồm: thịt, rượu, các loại bánh, xôi ngũ sắc để dâng trời đất. Thầy cúng sẽ cầu khấn trời đất cho mưa thuận gió hoà.  Sau phần lễ, nhiều tṛ chơi cho mọi người dân tham gia như: đánh yến, đánh quay, kéo co, hát đối đáp…

  Lễ hội Gầu tào của ngườ Mông là hội chơi núi mùa xuân. Khi hai vợ chồng lấy nhau đă lâu mà không có con trai sẽ mời thầy cúng đến làm lễ cầu trời đất, thần linh cho sinh được con trai . Sau bài cúng tạ trời đất các khách dự hội cầu chúc gia chủ, dân làng người yên, vật thịnh. Nghi lễ khai hội là điệu múa khèn, tiếp theo là cảnh hát hội do ông chủ hội hát dẫn lời. Kết thúc phần lễ,  chỗ này là đám thi bắn nỏ, quay cù, chỗ kia là từng tốp các chàng trai, cô gái chơi đánh yến, ném quả pao, hát gầu lềnh.

 Lễ hội nhảy lửa của người Pà Thẻn  sau khi ăn tết .. Lễ hội này với nhiều nghi thức mang màu sắc thần bí,   như sau khi thầy cúng làm lễ xong, ư như là gọi các ma về nhập vào các cậu thanh niên - thường khoảng 12 thanh niên khoẻ mạnh - khi đó họ có thể nhảy trên than nóng, thậm chí có người c̣n bốc cả than nóng cho vào mồm … Với người Pà Thẻn th́ nhảy lửa là một tục lệ mang tính chất cộng đồng, là dịp để mọi người cùng nhau vui vẻ, thư giăn.

  Lễ hội đ́nh Trà Cổ Quảng Ninh   được tổ chức vào ngày 1/6 âm lịch hàng năm với nhiều nét độc đáo như rước "Ông Voi", thi nấu ăn... và nghi lễ đoàn thuyền rước từ Trà Cổ về quê  Đồ Sơn.

 
   

  VIII- Vùng Đông Bắc có nhiều phong tục

 1-  Tục làm vía: của dân tộc Thái

Vía trong tiếng Thái là “khoắn” (hồn vía) và “làm vía” hay “gọi vía” (họng khoắn) là gọi hồn vía trở về nhà bố mẹ, vợ con, trở về với thể xác, để vía không đi lang thang nơi đất người, nơi bờ suối, bờ sông, bờ vực hay tránh xa các loài vật nguy hiểm trong rừng... Đây là quan niệm của người Thái khi họ gọi vía cho người đi xa trở về, người bị tai nạn, ngă sông, ngă suối hay ốm đau. Làm vía khi ốm đau bệnh tật, khi đi xa trở về, khi bị tai nạn; làm vía cho phụ nữ khi sinh, làm vía cho cô gái trước khi về nhà chồng, hay ông bà ngoại làm vía cho cháu khi năm hết tết đến, thậm chí là làm vía để cầu sinh được con gái, con trai.   Trong tục làm vía, vật có ư nghĩa hết sức quan trọng là cái áo của người được làm vía. Người ta cho rằng áo là vật tượng trưng cho con người và hồn vía sẽ theo cái áo đó mà trở về với thể xác của nó. Tục làm vía đă tồn tại trong đời sống đồng bào dân tộc Thái từ rất lâu.

 

  2-   Tục  cưới  người Tày - N ùng 

           kèm theo Tục “slắng lẩu cẩu vằn”, Tục lễ “slam nâư.

Có lễ dạm ngơ, ăn hỏi, rước dâu… Mọi chi phí tổ chức đám cưới nhà trai lo liệu hế Tùy theo gia cảnh nhà gái có thể “đ̣i” ít hay “đ̣i” nhiều. để tránh tiếng là con ḿnh “theo không” người ta..   Nhưng tục  cưới  có bản sắc văn hóa riêng

Đám cưới thường được tổ chức vào lúc chiều tối (tầm 4 -5 giờ trở đi). C ó 2  tiệc .Tiệc cưới thứ nhất dành cho người lớn tuổi, bậc cha chú, anh em họ hàng; tiệc thứ hai dành cho nam nữ thanh niên, bạn bè gần xa của cô dâu chú rể. Tiệc này bắt đầu vào khoảng 7-8 giờ tối.  Sau tiệc,  tổ chức “lày cỏ” (một tṛ chơi như kiểu oẳn tù t́, người thua sẽ bị uống rượu phạt), /trai gái hát lượn với nhau   kéo dài thâu đêm.

  Tục  cưới  lại kèm thêm phụ: Tục “slắng lẩu cẩu vằn Tục “slam nâư:

 a/-Tục “slắng lẩu cẩu vằn”, có nghĩa là mời khách tới dự đám cưới  phải mời trước chín ngày, không sớm hơn mà cũng không muộn hơn. Điều đó thể hiện tấm ḷng hiếu khách của đồng bào Tày.

 b/- Tục  “slam nâư

  Tiệc  cưới cử hành xong, cô gái không ở lại nhà chồng mà quay về nhà bố mẹ đẻ ngay đêm đó. Dù đêm đă khuya, chú rể và đại diện nhà trai vẫn phải đưa cô dâu và phái đoàn nhà gái trở về. Nếu v́ lư do nào đó như đường sá quá xa xôi, không thể về ngay mà phải ở lại th́ đêm đó cô dâu và các cô gái phù dâu sẽ ngủ chung một pḥng rồi sáng hôm sau về sớm. Ngày thứ ba tính từ ngày cưới , chàng trai mới đi đón vợ về. Đêm đó mới chính thức là đêm tân hôn của hai người. Tục gọi đó là lễ “slam nâư” (ba ngày) - hiểu nôm na là lễ lại mặt.

Nhưng cô dâu cũng chỉ ở nhà chồng chừng dăm bảy ngày, sau đó lại quay về sống với bố mẹ đẻ. Khi nào con dâu có con mới được về ở hẳn nhà chồng  cứ dăm bữa nửa tháng, mẹ chồng lại cho gọi con dâu về với những lư do: giúp nhổ mạ, cấy lúa hay xay lúa, giă gạo hộ mẹ… Tóm lại là kiếm đủ cớ để gọi con dâu về, mục đích là để đôi trẻ có dịp gần gũi nhau, để bà mau có cháu bế.  

 
 

 

  3Tục “khẩu lẩu” (gạo rượu).

 

 Khi gia đ́nh nào có cưới hỏi, hiếu hỉ, nhà mới, thôi nôi, mừng thọ, ma chay…, ngoài số tiền phong bao như thường lệ, nhiều người c̣n đem gạo và rượu đến cho gia chủ. Số gạo rượu đó được gia chủ ghi chép vào sổ cẩn thận. Để khi nào nhà khác có việc, ḿnh lại đi “khẩu lẩu” lại người ta .

 4- Tục    "háy pù"   của Dân tộc H'Mông

    cư trú tập trung ở miền núi vùng cao thuộc các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Cao Bằng, Nghệ An. Đâu đâu họ cũng đều giữTục "háy pù"  

Theo tập quán, th́ người Mông tự do kén chọn bạn đời, và cha mẹ thuận t́nh. Tức là trong trường hợp trai gái yêu nhau, , trai gái ḥ hẹn nhau tại một địa điểm. Từ địa điểm đó bạn trai dắt tay bạn gái về làm vợ. Vợ chồng người Mông rất ít bỏ nhau, họ sống với nhau ḥa thuận, cùng làm ăn, cùng lên nương, xuống chợ và đi hội hè... Tục "háy pù không cho phép  những người cùng ḍng họ  lấy nhau.

    Bài Biên   Soạn của PX K